; }

Tuesday, July 18, 2023

TRỞ LẠI VẤN ĐỀ GỌI TÊN CUỘC CHIẾN

 Trần Gia Phụng

Lịch sử

VN-War

Cuộc chiến trên đất nước chúng ta chấm dứt đã gần nửa thế kỷ và được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Bài nầy xin trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến để hiệu đính và bổ túc thêm bài trước cách đây khá lâu của cùng người viết.
 
1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
 
Vào cuối thế chiến thứ hai (1939-1945) tại Á châu, quân đội Nhật đảo chánh lật đổ nhà cần quyền Pháp tại Đông Dương ngày 9-3-1945, tuyên bố trao trả độc lập cho ba nước Đông Dương. Học giả Trần Trọng Kim theo lời mời của vua Bảo Đại, thành lập chính phủ tại Huế ngày 17-4-1945. Khoảng ba tuần sau, Đức quốc xã đầu hàng đồng minh ngày 7-5-1945. Thế chiến thứ hai chấm dứt ở Âu châu. Thủ tướng Anh, tổng thống Hoa Kỳ và tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô họp tại thị trấn Potsdam, ngoại ô Berlin (thủ đô Đức) để quyết định về tương lai Âu châu.
                                                                                                                                                    
Tại đây, thủ tướng Anh, tổng thống Hoa Kỳ cùng quốc trưởng Trung Hoa Dân Quốc (không họp nhưng đồng ý qua truyền thanh) gởi cho Nhật tối hậu thư ngày 26-7-1945 (thường được gọi là tối hậu thư Potsdam), buộc Nhật phải đầu hàng đồng minh vô điều kiện, và giao việc giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc ở bắc và cho quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. (Vĩ tuyến nầy ngang thị trấn Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.). Hơn nửa tháng sau, quân đội Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945 và thế chiến thứ hai chấm dứt ở Á Châu.
 
Trong khi đó, tại Việt Nam, nhờ hợp tác với OSS (Office of Strategic Services), cơ quan tình báo Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh sớm biết tìn nầy, liền dùng mặt trận Việt Minh nhanh tay cướp chính quyền vào gần cuối tháng 8-1945. [Việt Minh là tên gọi tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Hồ Học Lãm thành lập năm 1936 tại Nam Kinh, Trung Hoa. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 168.).  Hồ Chí Minh mạo nhận hội nầy và đổi thành Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, ra mắt ngày 19-5-1941 tại Cao Bằng gồm các hội là Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc. Hội văn hóa cứu quốc. Lúc đó, rất ít người biết Hồ Chí Minh và Việt Minh là cộng sản.]
 
Bị áp lực, vua Bảo Đại thoái vị tại Huế ngày 30-8-1945. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh trình diện chính phủ Việt Minh tại Hà Nội ngày 2-9-1945, chứng tỏ Việt Nam sẵn có chính phủ trước khi quân Trung Hoa và quân Anh đến. Trong buổi lễ nầy, Hồ Chí Minh thề quyết liệt chống Pháp nếu Pháp trở lại Việt Nam. Tuy nhiên, khi quân Pháp theo quân Anh đến Sài Gòn, tái chiếm Nam kỳ, tiến ra Trung kỳ, và Bắc kỳ, thì Hồ Chí Minh cùng đảng cộng sản Đông Dương và nhà cầm quyền Việt Minh không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp, ký với đai diện Pháp hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, thừa nhận việc Pháp đem quân vào Việt Nam. Hồ Chí Minh còn qua tận Paris ký Tạm ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946, thuận để người Pháp tái hoạt động trên toàn cõi Việt Nam.
 
Quân Pháp đến Hà Nội đông đảo và đe dọa nhà cầm quyền Việt Minh. Không lẽ bỏ trốn thì quá xấu hổ trước dân chúng, trung ương đảng cộng sản Đông Dương họp tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định tuyên chiến với Pháp, nhưng ngay lúc đó Hồ Chí Minh cùng cán bộ cộng sản bỏ trốn khỏi Hà Nội.
                                                                                                                                 
2.  CHẾ ĐỘ TỰ THỰC DÂN
 
Việt Minh thua chạy từ 1946 đến 1949. Vì chủ trương độc tôn quyền lực, tiêu diệt đối lập, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Đông Dương đẩy những người yêu nước không cộng sản, những đảng phái chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, tìm cách kết hợp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, chẳng đặng đừng liên kết với Pháp chống Việt Minh.
 
Dựa vào lực lượng nầy, cựu hoàng Bảo Đại vận động thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam không cộng sản, ra mắt tại Sài Gòn vào tháng 6-1949. Lúc đó, trên đất nước Việt Nam, có hai chính phủ là Quốc Gia Việt Nam ở các thị trấn và vùng đồng bằng ven đô thị, còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở vùng rừng núi và đồng sâu.
 
Một sự kiện thuận lợi cho Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh là tại Trung Hoa, đảng cộng sản thành công và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) ngày 1-10-1949 do Mao Trạch Đông làm chủ tịch và Châu Ân Lai làm thủ tướng.
 
Vào đầu năm 1950, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt bắc, bí mật đi cầu viện CHND Trung Hoa. Lúc đó Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai công du Liên Xô để cảm ơn Liên Xô giúp đỡ trong nội chiến quốc-cộng ở Trung Hoa. Lưu Thiếu Kỳ xử lý công việc nhà nước CHND Trung Hoa. Hồ Chí Minh phải làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ. (Trần Đĩnh, Đèn Cù, California, Người Việt Books, 2000, tr. 161). Lưu Thiếu Kỳ gởi La Quý Ba qua làm cố vấn cho Hồ Chí Minh. Về sau, có tài liệu tiết lộ rằng Lưu Thiếu Kỳ dặn La Quý Ba hãy giúp đỡ tối đa cho nhu cầu của Việt Minh, rồi CHND Trung Hoa sẽ đòi lại sau. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars 1950-1975, The University of New Carolina Press, 2000. tr. 19).
 
Sau Bắc Kinh, nhờ sự thu xếp của các lãnh tụ CHND Trung Hoa, Hồ Chí Minh đi tiếp qua Moscow cầu viện Liên Xô. Khi gặp Hồ Chí Minh, lãnh tụ Liên Xô là Joseph Stalin ra lệnh Hồ Chi Minh đổi tên đảng cộng sản Đông Dương thành đảng Lao Động Viêt Nam. Vì vậy, từ năm 1951, đảng cộng sản Đông Dương đổi thành đảng Lao Động Việt Nam. (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội, California, Nxb. Văn Nghệ, 1995, tt. 149-150.)
 
Nhờ sự giúp đỡ lớn lao về mọi mặt của CHND Trung Hoa và Liên Xô, Việt Minh thành công năm 1954. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia Việt Nam thành hai miền ở vĩ tuyến 17. Miền bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Miền nam là Quốc Gia Việt Nam.
 
Tại Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng Lao Động thi hành chính sách kinh tế chi huy, tổ chức cải cách ruộng đất long trời lở đất, tiêu diệt giới địa chủ, đưa cán bộ cộng sản làm chủ nông thôn, thực hiện cải tạo công thương nghiệp ở thành phố, đàn áp văn hóa (nổi tiếng nhứt là vụ Nhân văn Giai phẩm), thi hành chính sách văn hóa giáo dục phục vụ chế độ, tập trung toàn bộ quyền lực và tài sản Bắc Việt Nam vào tay đảng Lao Động. Cách cai trị nầy làm cho nhà nước cộng sản giàu mạnh, nhưng dân chúng nghèo khó, ngày nay gọi là “autocolonization” (tạm dịch “tự thực dân” hoặc “thực dân nội địa”), nghĩa là nhà cầm quyền do người trong nước lập nên, độc tài, độc đoán, bóc lột dân chúng không khác gì chế độ thực dân ngoại lai.
 
3.  VÌ CỘNG SẢN, HOA KỲ ĐƯA QUÂN VÀO NAM VIỆT NAM
 
Sau hiệp định Genève (20-7-1954), tại Nam Việt Nam, Hoa Kỳ (Mỹ) thay Pháp trực tiếp viện trợ cho Quốc Gia Việt Nam. Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi những phái bộ cố vấn dân sự sang Nam Việt Nam. Năm sau (1955), Quốc Gia Việt Nam đổi thành Việt Nam Cộng Hòa, theo tổng thống chế, tự do dân chủ tuy có phần hạn chế vì bị cộng sản quấy phá. Nam Việt Nam chủ trương nền kinh tế thị trường tự do. Nhờ thế, Nam Việt Nam nhanh chóng phục hồi và phát triển.
 
Sự viện trợ của người Hoa Kỳ giúp Nam Việt Nam chẳng những làm cho Bắc Việt Nam lo ngại mà còn làm cho cả CHND Trung Hoa cũng không yên tâm. Lúc đó CHND Trung Hoa bị vây quanh ba mặt: 1) Bắc và tây bắc là Liên Xô, nước cộng sản bất đồng với CHND Trung Hoa. 2)  Tây và tây nam là dãy Hy Mã Lạp Sơn cao ngất ngưỡng, khó vượt qua. 3)  Đông là Thái Bình Dương với hàng rào các đồng minh của Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên (Nam Hàn), Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Hoa Kỳ còn đưa hạm đội vào eo biển Đài Loan.
 
Chỉ còn hướng nam của CHND Trung Hoa là Bắc Việt Nam. Nếu Hoa Kỳ phong tỏa Bắc Việt Nam, thì Hoa Kỳ sẽ chận đứng luôn con đường xuống Đông Nam Á của CHND Trung Hoa. Vì vậy CHND Trung Hoa giúp Bắc Việt Nam chống Hoa Kỳ, nói là vì “tình đồng chí anh em”, nhưng thật ra còn để bảo vệ mặt nam của chính CHND Trung Hoa.
 
Trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, Châu Ân Lai, thủ tướng CHND Trung Hoa, mời Hồ Chí Minh đến thị trấn Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây  (Kwangsi) (Trung Hoa), họp từ 3 đến 5-7-1954. Tại đây, Châu Ân Lai thông báo cho Hồ Chí Minh biết là các cường quốc tham dự hội nghị Genève theo mô thức Triều Tiên, đưa ra giải pháp chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc, Quốc Gia Việt Nam ở phía nam. Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh rằng trước khi tập kết ra bắc, Việt Minh nên cài người, chôn giấu võ khí ở lại Nam Việt Nam, trường kỳ mai phục, chuẩn bị lực lượng để tấn công Nam Việt Nam. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật Nội Ngõa hội nghị, Bắc Kinh, Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, Dương Danh Dy dịch: Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, ch. 27. Nguồn: “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. diendan@diendan.org. Trích 1-2-2009.) 
 
Sau hội nghị Liễu Châu, về lại mật khu ở Bắc Việt, Hồ Chí Minh lên án Hoa Kỳ ngày 15-7-1954 (trước hiệp định Genève), một cách mạnh mẽ như sau: “Mỹ chẳng những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào. Mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của nhân dân thế giới đều chĩa vào Mỹ…” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, 1953-1955, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 313.)   Nhớ lại năm 1945, OSS của Mỹ đã giúp huấn luyện quân đội của Hồ Chí Minh. Nay Mỹ chưa đến Việt Nam mà Hồ Chí Minh vội vàng đả kích Mỹ, phải chăng chính là do lệnh của Châu Ân Lai tại hội nghị Liễu Châu?  
 
Sau khi Việt Nam bị chia hai, vừa để khích động người Việt, vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin Liên Xô, CHND Trung Hoa và các nước cộng sản viện trợ để tấn công Nam Việt Nam, ngoài lý do “giải phóng miền Nam”, cộng sản đưa thêm chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, mà cho đến lúc đó Mỹ chỉ viện trợ giúp Nam Việt Nam, chưa đem quân vào Nam Việt Nam. Hoa Kỳ bắt đầu đưa bộ binh qua giúp Nam Việt Nam năm 1965 khi chiến sự càng ngày càng leo thang. Vậy phải nói là vì được CHND Trung Hoa và Liên Xô hậu thuẫn, Bắc Việt Nam tấn công Nam Việt Nam, nên quân đội Hoa Kỳ (Mỹ) mới có mặt để giúp Nam Việt Nam.
 
Như thế, các tên gọi cuộc chiến vừa qua là “giải phóng dân tộc”, “giải phóng miền Nam”, hoặc “chống Mỹ cứu nước” do cộng sản đưa ra, hoàn toàn không đúng với thực tế đã diễn ra trong cả hai cuộc chiến từ 1946 đến 1975.
 
4.  HIỆP ĐỊNH GENÈVE KHÔNG QUY ĐỊNH TỔNG TUYỂN CỬ
 
Để tạo lý do tấn công Nam Việt Nam, từ giữa năm 1955 nhà cầm quyền Bắc Việt Nam nhiều lần đề nghị chính phủ Nam Việt Nam mở cuộc tổng tuyển cử để thống nhứt đất nước, mà Bắc Việt Nam cho rằng đã được quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954. Thật ra hiệp định nầy tên “khai sinh” là “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam”, có tính cách thuần tuý quân sự, không có điều khoản nào quy định việc tổng tuyển cử để thống nhứt Việt  Nam.
 
Giải pháp về một cuộc tổng tuyển cử để thống nhứt Việt Nam được đề nghị tại điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954, tức một ngày sau khi hiệp định Genève được ký kết. Bản tuyên bố (declaration) không phải là hiệp định, mà chỉ là lời kêu gọi của các nước tham dự hội nghị Genève về các vấn đề liên quan đến các quốc gia ký kết hiệp định Genève.
 
Bản tuyên bố gồm 13 điều, trong đó điều 7 kêu gọi hai miền Nam và Bắc Việt Nam tổ chức tổng tuyển cử để thống nhứt đất nước ngày 20-7-1956. Vì chỉ là bản tuyên bố, nên phái đoàn các nước không ký vào bản tuyên bố ngày 21-7-1954. Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không ký vào hiệp định Genève, và không tham dự cuộc họp bàn về bản “Tuyên bố cuối cùng…”
 
Bản tuyên bố vốn chỉ là lời kêu gọi, không có chữ ký của đại biểu các phái đoàn, không có tính pháp lý để cưỡng hành, nghĩa là không bắt buộc các nước được kêu gọi phải thi hành. Vì vậy chính phủ Quốc Gia Việt Nam, rồi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chấp nhận đề nghị của Bắc Việt Nam về chuyện tổng tuyển cử ghi trong bản tuyên bố là chuyện chẳng có gì sai trái với nguyên bản hiệp định Genève ngày 20-7-1954.
 
Bắc Việt Nam dựa vào một bản tuyên bố mà chính Bắc Việt Nam không ký, để áp đặt Nam Việt Nam phải thi hành. Khi Nam Việt Nam không thi hành thì Bắc Việt Nam lại cho rằng Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève, và dựa vào lý do đó để tấn công Nam Việt Nam. Trong hoàn cảnh nầy, Nam Việt Nam ở thế tự vệ, bắt buộc phải chống đỡ, chứ Nam Việt Nam không khiêu khích, không khai chiến chống Bắc Việt Nam.
 
Có người lý luận rằng chữ “xâm lăng” dùng để chỉ nước nầy xâm chiếm nước khác, trong khi người Việt đánh nhau với người Việt, trên đất nước Việt, thì làm sao gọi là xâm lăng?  Xin chú ý rằng tuy cùng là người Việt, cùng một đất nước Việt do tổ tiên để lại, nhưng một hội nghị quốc tế đã phân xử bằng hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, và ai ở đâu thì ở yên đó. Đại diện nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt Nam) đã ký vào hiệp định, tức chính thức thừa nhận quyết định phân xử nầy. Thế mà Bắc Việt Nam dùng du kích quấy phá, rồi đảng Lao Động họp đại hội, quyết định đưa quân tấn công Nam Việt Nam.  
 
Xin nhấn mạnh đảng Lao Động chỉ là đảng chính trị của một nhóm người, không phải là quốc hội, hay quốc dân đại hội của Bắc Việt Nam. Tại sao đảng Lao Động có quyền quyết định việc Bắc Việt Nam tuyên chiến với Nam Việt Nam?  Hơn nữa lý do được đưa ra lại không đúng sự thật quy định trong chính hiệp định Genève. Như thế, nếu không gọi Bắc Việt Nam xâm lăng Nam Việt Nam, thì chỉ còn cách gọi là “ăn cướp”, một thứ “vừa ăn cướp vừa la làng”, mà Đông Kinh Nghĩa Thục đã mô tả là “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.”
 
5.  KHÔNG PHẢI LÀ CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ
 
Bên cạnh các cách gọi tên cuộc chiến trên đây, lại có người cho rằng Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, gây ra chiến tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc. Đúng là Hồ Chí Minh gia nhập đảng cộng sản Pháp vào cuối năm 1920, được Đệ tam quốc tế cộng sản đào tạo tại Liên Xô năm 1923, rổi gởi qua Trung Hoa hoạt động gián điệp năm 1924, cung cấp tin tức cho Đệ tam quốc tế cộng sản.
 
Đệ tam quốc tế cộng sản chủ trương sẵn sàng yểm trợ các quốc gia bị các nước thực dân đô hộ, nổi lên đánh đưổi xâm lăng, giành độc lập, rồi gia nhập vào Đệ tam quốc tế cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Như thế, Đệ tam quốc tế cộng sản chẳng qua chỉ là công cụ phục vụ chủ trương đế quốc của Liên Xô qua hệ thống đảng cộng sản mà thôi.
 
Đảng Lao Động từ đảng cộng sản Đông Dương cải danh năm 1951, hoàn toàn khác biệt với các đảng phái dân tộc như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng... Sự tranh chấp ý thức hệ giữa đảng Lao Động với các đảng phái chính trị dân tộc, không phải là chiến tranh ý thức hệ giữa Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.
 
Hơn nữa, hiệp định Genève ngày 20-7-1954 gồm 6 chương 47 điều, không có điều khoản nào quy định việc tổng tuyển cử để thống nhứt đất nước. Trong hiệp định nầy, từ điều 34 đến điều 46 chương VI quy định việc thành lập và hoạt động của một “Ủy ban quốc tế phụ trách giám sát và kiểm soát sự áp dụng hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam”, thường được gọi là “Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến”. Nếu một bên vi phạm hiệp định Genève thì bên kia khiếu nại với ủy ban nầy, để ủy ban tìm biện pháp giải quyết một cách hòa bình. Bắc Việt Nam tố cáo Nam Việt Nam vi phạm hiệp định Genève, thì tại sao Bắc Việt Nam không khiếu nại trước Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến, mà tự ý động binh tấn công Nam Việt Nam? 
 
Xin nhắc lại ở đây, theo kế hoạch Liễu Châu, Bắc Việt Nam cài người ở lại Nam Việt Nam, chuẩn bị sẵn sàng và khởi động du kích chiến ngay từ 1954, và Bắc Việt Nam công khai quyết định tấn công Nam Việt Nam bằng võ lực tại đại hội đảng Lao Động năm 1960. Như thế rõ ràng Bắc Việt Nam đã vi phạm hiệp định Genève ngay cả khi mới ký, rồi vu cáo Nam Việt Nam vi phạm để dùng làm lý cớ tấn công Nam Việt Nam. Vậy chiến tranh 1954-1975 là chiến tranh xâm lăng có dự mưu từ trước tại hội nghị Liễu Châu, không phải là “chiến tranh ý thức hệ”.
 
6.  CŨNG CHẲNG PHẢI LÀ NỘI CHIẾN
 
Một số tác giả khác còn cho rằng đây là cuộc nội chiến bắc-nam giống như Trịnh Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17. Tuy nhiên, trong cả hai cuộc chiến từ 1946 đến 1975, cả Bắc Việt Nam lẫn Nam Việt Nam đều có người nước ngoài tham chiến, nên không thể gọi là nội chiến.
 
Trong chiến tranh 1946-1954, CHND Trung Hoa viện trợ cho cộng sản Việt Nam từ 1950. Thông qua con đường Trung Hoa, Liên Xô viện trợ cho Việt Minh cũng từ 1950. Về phía Quốc Gia Việt Nam có sự hợp tác của quân đội Liên Hiệp Pháp. Trong chiến tranh 1954-1975, Liên Xô gởi 3,000 người đến Bắc Việt Nam năm 1965, đa số là chuyên viên không quân, kỹ thuật phòng không và hỏa tiễn, lo việc lắp ráp các bệ đặt hỏa tiễn đất đối không, huấn luyện phi công Bắc Việt Nam lái các loại chiến đấu cơ MIG-21 và SU; và Liên Xô còn gởi nhiều chuyên gia về hải quân và các binh chủng khác. (http//www.russiatoday.ru/ news/news/2019,” USSR “secret Vietnam soldiers speak out”, 16-2-2008. Xem thêm bản tin đài RFA 29-2-2008 và BBC Vietnamese 19-11-2008.) 
 
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đưa 320,000 quân qua bảo vệ Bắc Việt Nam, để đảng Lao Động kéo hết quân Bắc Việt Nam xuống tấn công Nam Việt Nam. Dưới đây là hai tài liệu về việc 320,000 quân CHND Trung Hoa qua trấn đóng và bảo vệ các tỉnh Bắc Việt Nam.

phung 1
Nguồn ảnh: The Blade, Toledo, Ohio: Thứ Ba 16-5-1989.
(Trích lại từ DCVOnline.net, ngày 13-8-2012.) 
 phung 2
Vị trí đóng quân của quân đội CHND Trung Hoa ở Bắc Việt Nam
PLA=People Liberation Army=Nhân dân giải phóng quân
(Nguồn: Xiaobing Li, A History of the Modern Chinese Army,
The University Press of Kentucky, 2007, tr. 2.
 
Vì Bắc Việt Nam được Liên Xô và CHND Trung Hoa hỗ trợ. Nam Việt Nam không thể một mình chống lại Bắc Việt Nam và khối cộng sản quốc tế, nên đành phải nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đưa quân qua Nam Việt Nam năm 1965 và kêu gọi thêm một số quốc gia đồng minh giúp Nam Việt Nam như Thái Lan, Cộng Hòa Triều Tiên, Úc Đại Lợi, Philippines.
 
Như thế, ở cả hai phía đều có quân đội nước ngoài tham chiến, càng không thể gọi đây là cuộc nội chiến. Về phía Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ gởi quân tham chiến ở Việt Nam, nên người Hoa Kỳ thường gọi cuộc chiến 1954-1975 là “chiến tranh Việt Nam”. Cách gọi nầy chỉ thích hợp với người Hoa Kỳ trong lịch sử Hoa Kỳ, nhưng không thích hợp với người Việt Nam về cách gọi tên cuộc chiến trên đất nước Việt Nam.
 
7.  CHIẾN TRANH UỶ NHIỆM
 
Gần đây có dư luận gọi tên cuộc chiến 1954-1975 là chiến tranh uỷ nhiệm giữa hai thế lực cộng sản quốc tế và tư bản quốc tế trong chiến tranh lạnh toàn cầu, thông qua hai miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam. Nói rõ hơn, ý kiến nầy cho rằng hai miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam đánh nhau là do hai khối cộng sản quốc tế và tư bản quốc tế uỷ nhiệm.
 
Thực tế cho thấy rằng chiến tranh 1954-1975 xảy ra là do tham vọng thống trị và bành trướng của cộng sản Bắc Việt Nam. Vì tham vọng nầy, khi CHND Trung Hoa tuyên bố một cách sai trái ngày 4-9-1958 rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải CHND Trung Hoa, thì thủ tướng Bắc Việt Nam là Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của CHND Trung Hoa, vừa để trả ơn CHND Trung Hoa viện trợ từ 1950 đến 1954, vừa để xin CHND Trung Hoa tiếp tục viện trợ nhằm tấn công Nam Việt Nam. Sau khi nhượng đảo, nhượng biển và được CHND Trung Hoa bảo kê, đảng Lao Động họp đại hội 3 tại Hà Nôi từ 5-9 đến 10-9-1960, đưa ra hai mục tiêu là “xây dựng Bắc Việt Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam bằng võ lực”, tức động binh tấn công Nam Việt Nam.
 
Có hai điểm đáng chú ý: 1) Thứ nhứt, Hồ Chí Minh qua Liên Xô cầu viện năm 1950. Stalin ủy nhiệm cho Mao Trạch Đông phụ trách viện trợ cho đảng cộng sản Đông Dương. (Trương Quảng Hoa, “Quốc sách trọng đại Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chống Pháp”, đăng trong Hồi ký những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Nxb. Lịch sử đảng cộng sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, đăng lại trong tạp chí Truyền Thông số 32-33, Montreal, 2003, tr. 45.)   2) Thứ hai, trong cuộc chiến 1954-1975, Lê Duẩn tuyên bố rằng Bắc Việt Nam đánh Mỹ là “ta đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422.) 
 
Có thể vì hai điều nầy mà có người nghĩ rằng Liên Xô và CHND Trung Hoa ủy nhiệm cho Bắc Việt Nam tấn công Nam Việt Nam. Đặc biệt cộng sản Việt Nam luôn giấu giếm các hiệp ước ký kết với các nước cộng sản khác, nên rất khó biết có hay không có việc cộng sản quốc tế ủy nhiệm cho Bắc Việt Nam, và cũng khó biết cộng sản quốc tế ủy nhiệm những gì?  Ủy nhiệm như thế nào”?  Nhữrng điều nầy chỉ có những đảng viên cao cấp đảng cộng sản Việt Nam, và gia đình họ có thể biết mà thôi.
 
Trong khi đó, Nam Việt Nam bị Bắc Việt Nam tấn công, nên Nam Việt Nam ở thế tự vệ, không lẽ ngồi chờ chết, nên phải chống trả ngoại xâm, chiến đấu để sống còn.
 
Do tất cả các lẽ trên, cuộc chiến ở Việt Nam từ 1954 đến 1975, nếu có ủy nhiệm thì đó là Liên Xô, CHND Trung Hoa ủy nhiệm cho Bắc Việt Nam trong hệ thống cộng sản quốc tế, còn Nam Việt Nam hoàn toàn không có chuyện ủy nhiệm từ bất cứ nước nào.
 
KẾT LUẬN
 
Tóm lại, chiến tranh vừa qua xảy ra trên đất nước chúng ta đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau, với những ý nghĩa khác nhau. Cuộc chiến diễn ra liên tục từ 1946 đến 1975, trải qua hai giai đoạn từ 1946 đến 1954 và từ 1954 đến 1975, tổng cộng là 30 năm.
 
Ở Âu Châu, khi vua Edward III nước Anh đòi kiêm luôn vua nước Pháp thì xảy ra chiến tranh giữa hai nước, khi đánh khi nghỉ, không liên tục từ 1337 đến 1453 và được sử sách gọi là “Chiến tranh trăm năm” (Hundred Years' War). Vào đầu thế kỷ 17, cũng tại Âu Châu xảy ra chiến tranh giữa nhiều nước khác nhau vì nhiều lý do khác nhau, từ 1618 đến 1648, được mệnh danh là “Chiến tranh ba mươi năm” (Thirty Years' War). Các tài liệu sử học Âu châu đã dùng yếu tố thời gian để gọi những cuộc chiến phức tạp từ nhiều phía khác nhau.
 
Riêng hai cuộc chiến vừa qua trên đất nước chúng ta, dù đứng trên tư thế nào, hay lập trường chính trị nào, không ai có thể phủ nhận rằng yếu tố thời gian là mẫu số chung của cả các phía trong cuộc chiến. Dùng mẫu số chung để gọi tên cuộc chiến trên đất nước chúng ta, vừa đơn giản, vừa bao quát, vừa vô tư, không định kiến, vừa thích hợp với các bên tham chiến, mà không ai có thể cho rằng danh xưng nầy được một phía lâm chiến dùng để tuyên truyền chủ nghĩa, đả kích đối phương, hay để biện minh cho hành động của bất cứ bên nào, phía nào.
 
Vì vậy, bài nầy xin khép lại ở đây với đề nghị danh xưng cuộc chiến vừa qua trên đất nước thân yêu của chúng ta là CHIẾN TRANH BA MƯƠI NĂM, theo đúng thời gian từ 1946 đến 1975.

 

– Trần Gia Phụng

(Toronto, tháng 5-2023)

Nguồn : https://vietbao.com/a316277/tro-lai-van-de-goi-ten-cuoc-chien

Saturday, July 8, 2023

MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM…

 

Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.
Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
 
 
Đoạn kết
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”.
Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.
Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.
Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?
Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng”. Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?
Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân”.
Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?
Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.
Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?
Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?
Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?
Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?
Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.
Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.
Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố”.
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:
Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.
Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.
Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

Tuesday, June 20, 2023

TƯỞNG NHỚ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

 KIM LOAN

Ngày Quân lực 19/6


1. NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI GÒ VẤP

 Chúng ta biết nhiều về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà với bức tượng nổi tiếng “Thương Tiếc” của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Nhưng cũng xin đừng quên Nghĩa Trang Quân Đội đầu tiên của chính quyền VNCH tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, nơi đón nhận hàng ngàn tử sỹ VNCH, và cả Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ ngay sau khi Ông tự sát vào ngày 30/4 đen năm ấy.

 
Hồi đó, sau ngày “giải phóng” mà dân Miền Nam mình gọi là ngày “trời sập”, vài năm sau tôi cũng hơn mười tuổi đầu, cũng nghe loáng thoáng các cô chú các bác trong xóm bảo nhau, nghĩa trang Quân Đội gần xóm mình có một vị tướng được chôn cất ở đó, nên rất linh thiêng và hãnh diện, hào hùng.
 
Mà thật ra, dù là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp, dù là người ngã xuống là một binh nhì, hay một vị tướng thì cũng là “huynh đệ chi binh” của Quân Lực VNCH, là xương máu ruột thịt của đồng bào Việt Nam yêu chính nghĩa yêu tự do yêu hòa bình .
 
Sau này qua định cư nơi hải ngoại đọc nhiều thông tin, thì tôi biết rõ hơn và chính xác hơn: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe nhật lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó, Tướng Vỹ đã ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó Ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư lệnh ở Lai Khê. hưởng dương 42 tuổi, trong khi vợ con Ông đi thoát trên con tàu Trường Xuân trong những ngày hỗn độn cuối Tháng 4 Đen năm ấy.
 
Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư lệnh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 được thân nhân  đem về cải táng ở Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Đến năm 1987, do giải tỏa Nghĩa trang Hạnh Thông Tây, hài cốt ông được mẹ cùng với người em trai là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào hợp cùng người anh họ là Trung tá Lê Nguyên Hoàng đến Nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa táng, đem tro cốt ông về quê ngoài Bắc.
 
Thuở đó, giữa thập niên 80s, nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp đã có dấu hiệu hoang tàn (vì ai, chắc không cần phải nói ra). Lần ấy, tôi có dịp đi coi thi tại trường Võ Thị Sáu phía sau Nhà Thờ Thông Tây. Sau đó, theo bạn bè đạp xe đi dạo, mới thấy đây là con đường rất đẹp và rất buồn. Từ phía Thông Tây, cứ đi mãi, sẽ thấy bên phải có một ngôi chùa đẹp, vườn cây hoa lá nên thơ, rồi cứ đi tiếp, sẽ thấy bên trái là Nghĩa Trang Quân Đội, và tiếp nữa là Làng Trẻ Em Mồ Côi SOS … Đường sạch sẽ, vắng vẻ, cảnh đẹp lặng lẽ, nhất là khi chiều tà. Nhà cửa dân cư lúc ấy thưa thớt, thỉnh thoảng có những căn nhà đẹp, kín cổng cao tường, có giàn hoa leo ngoài ngõ bên những tảng đá xanh rêu, đẹp như một đoạn đường cao nguyên Đà Lạt. Từ đó, những lúc buồn (hay vui), tôi thích đạp xe một mình trên con đường ấy, và lần nào đi ngang qua Nghĩa Trang Quân Đội cũng thấy một nỗi buồn mênh mang, khó diễn tả khi những ngọn gió từ những nấm mồ réo rắt bên tai nghe như một điệu nhạc u sầu, thổn thức .
 
Xóm tôi một dạo có phong trào đi đến Nghĩa Trang Quân Đội cầu cơ, xin số đánh đề. Nghe nói có anh Lính Biệt Động Quân, hay lên cơ để tâm tình và cho số, xóm tôi đã có người đánh trúng. Cứ vài ba tuần một lần, hễ chiều tối, mấy bà mấy cô rục rịch chuẩn bị hoa tươi, nhang đèn, bánh trái, chờ nửa đêm kéo nhau ra đó cầu cơ, tìm vận may giữa thời khốn khó, và nghe anh lính kể chuyện chinh chiến có oai hùng lẫn đau thương. Nghe các chị các cô rỉ tai rủ rê rất hấp dẫn gay cấn, có lần tôi và nhỏ bạn cũng xiêu lòng muốn đi theo, dù biết chắc Ba tôi sẽ không cho phép đi vì còn tuổi ăn tuổi học, vả lại, tôi cũng thuộc loại mê ngủ, nên đành tiếc nuối, chờ nghe tường thuật lại mà thôi. Tôi không mê tín dị đoan nhưng tôi tin chuyện tâm linh, anh Lính Biệt Động Quân ấy thương xót đời vất vả gian nan của người dân sau 1975 bị Cộng Sản đoạ đày nên ra tay “giúp”!
 
Trong những lần tụ tập “kể chuyện đêm khuya” của chòm xóm, chúng tôi từng được nghe nhiều câu chuyện “rờn rợn”, lạ lùng, ví dụ như chuyện một bác tài xế xe lam chạy xe sáng sớm mờ sương, khi sắp đi ngang qua Nghĩa Trang Quân Đội, nhìn thấy từ xa một người lính VNCH, áo quần đẫm máu tả tơi, chiếc nón sắt ngả nghiêng trên đầu và trên vai còn mang súng trường nặng nề, bác xe lam chạy nhanh đến để cứu giúp thì bóng người lính ấy tan biến trong màn sương mù.


Có thể có người cho rằng đó là chuyện “hoang đường tưởng tượng”. Nhưng tôi tin rằng, sau khi cưỡng chế Miền Nam, chế độ Cộng Sản miền Bắc đã trả thù hèn hạ những người lính VNCH, đuổi họ ra khỏi Quân Y Viện Gò Vấp, giết chết bao nhiêu tù “cải tạo” nơi rừng thiêng nước độc, bỏ phế Nghĩa Trang lạnh lẽo, thì những oan hồn ấy trở về trần gian để thăm gia đình, thăm đồng bào, và bày tỏ nỗi uất hận thiên thu với “bên thắng cuộc” tàn ác …là chuyện bình thường, là có thật.
 
Bỗng dưng tôi thấy yêu hơn vùng đất  Hạnh Thông Tây, Gò Vấp  “chôn nhau cắt rốn” của mình. Nơi đây gắn liền với những địa danh trong cuộc chiến của VNCH: Thao trường Quang Trung, Lục Quân Công Xưởng, Khu Quân Trang, Cổ Loa Thiết Giáp, Truyền Tin, Quân Khuyển, Tổng Y Viện Cộng Hoà và nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp, tang thương nhưng đầy kiêu dũng của hàng nghìn anh hùng chiến sĩ vô danh, góp phần gìn giữ Miền Nam yêu dấu những năm tháng hoà bình yên vui trong thời loạn.
 
Sau đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã san bằng nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp để dành chỗ xây dựng đại lý hãng xe Mercedes rộng rãi, sang trọng, bề thế. Con đường yên tĩnh ngày xưa không còn nữa, chẳng còn những chiều tôi đạp xe thong thả nghe gió vi vu gọi hồn những tử sĩ VNCH hôm nao, giờ đây con đường đông đúc hơn với những lượt xe chạy ra chạy vào, những bảng quảng cáo của Mercedes. Một số mộ phần được người thân chuyển đi nơi khác, nhưng còn rất nhiều mộ khác không có người thân đến nhận, đã bị hốt đem qua nghĩa trang Lái Thiêu chôn tập thể, vô cùng đau lòng xót xa.
 
Hằng năm đến ngày kỷ niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhắc chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của quân nhân VNCH, nhớ những tháng ngày “trời sập” tang thương có những oan hồn của các anh hùng vô danh và có danh nơi nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa và nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp từng gắn bó với bà con xóm Hạnh Thông Tây của chúng tôi một thời gian dài.
 
Mấy bà già trầu trong xóm tôi từng tuyên bố:
 
– Xe “Mẹc” thì chỉ có đám nhà giàu tư bản đỏ mới tập tành học làm “quí xờ tộc”, lũ khỉ PacBo đua đòi học làm sang, và đám con ông cháu cha chúng nó mới có tiền mua. Ừa, tụi bay cứ mua xe “Mẹc” bằng tiền bóc lột, tham nhũng của dân đi nhá, nếu oan hồn tử sĩ VNCH có hiện về bóp cổ tụi bay, cho tụi bay đụng xe giữa đường xa lộ, chết tươi không kịp ngáp, thì tao dzui, tao ăn mừng á!!
 

2. NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ

 

Tôi tìm về những lối quen xưa

Nghĩa trang quân đội ở Biên Hoà

Chạnh lòng một cõi đời hoang vắng

Khi thấy nơi kia những nấm mồ

 

Từ “Cổng Tam Quan” đường như dài

Tôi nghe gió lạnh thổi qua vai

Truy điệu hồn người “Đền Tử Sĩ”

Là nắng, là mưa (không có ai!)

 

Cỏ dại mọc cao che ngang đầu

Che hồn Tử sĩ dưới mộ sâu

Cha mẹ, họ hàng, người quen cũ

Vợ con anh, giờ ở nơi đâu?

 

Đã bao lần trên nấm mộ anh

Cỏ tàn rồi cỏ lại thêm xanh?

Ai để cho mộ bia đổ nát

Khi đã qua rồi cuộc chiến tranh?

 

Thương vô cùng những nấm mộ hoang

Gió chiều lồng lộng tiếng than van

Đã lâu không ai về hương khói

Sưởi ấm hồn người lính vô danh

 

Hoang phế từ lâu “Nghĩa Dũng Đài”

Những buổi hoàng hôn, những sớm mai

Chiến công của những người nằm xuống

Chưa kịp ghi đã nắng mưa phai

 

Cũng đã tiêu điều “Vành Khăn Tang”

Cho người đã “Vị Quốc Vong Thân”

Anh ơi, đã có trời mây trắng

Vẫn nguyện suốt đời để tang anh

 

“Thương Tiếc” bức tượng đã nát tan

Người lính ngồi, đôi mắt xa xăm

Súng để trên đùi, anh nghĩ đến

Đồng đội nào vừa mới hi sinh?

 

Các anh vẫn đứng ở giữa trời

Dù chỉ là những nấm mộ thôi

Dù ai còn nhớ hay quên lãng?

(Người lính hiên ngang ấy một thời)

 

Ôi những niềm đau, những xót xa

Tưởng rằng theo năm tháng phôi pha

Hôm nay tôi thấy từng ngôi mộ

Sừng sững niềm đau cũ lại về!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Tháng 6/2023)

 

Ghi chú: Cổng Tam Quan, Đền Tử Sĩ, Vành Khăn Tang, Nghĩa Dũng Đài, và bức tượng Thương Tiếc… là những công trình trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.

https://vietbao.com/a316103/tuong-nho-quan-luc-viet-nam-cong-hoa 

Monday, May 8, 2023

48 NĂM “GIẢI PHÓNG” HAY “NÔ LỆ” ?

 PHẠM TRẦN


30 Thang TuMười chín năm trước, 2004, nguyên Thủ tướng Cộng sản Võ Văn Kiệt nói: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm sẽ “có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Trong cuộc phỏng vấn của báo Quốc Tế thuộc bộ Ngoại giao phổ biến ngày 30-3-2005, ông Kiệt khuyên: “Vết thương chung của dân tộc như vậy cần được giữ lành, “thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Và muốn để mọi người Việt Nam chung tay hàn gắn thì chúng ta, người chiến thắng và đang lãnh đạo đất nước, “phải thực tâm khoan dung và hòa hợp”.
     Nhưng 48 năm qua, đảng  cầm quyền Cộng sản vẫn chưa có bất cứ hành động nào để hòa hợp, hòa giải dân tộc. Ngược lại, từ ngôn ngữ đến hành động, chỉ thấy người Cộng sản gây chia rẽ và hận thù thêm cho dân tộc.
     Về ngôn ngữ, đảng và báo chí nhà nước vẫn gọi Chính quyền Việt Nam Cộng hòa là “ngụy quân, ngụy quyền, tay sai Đế quốc Mỹ”. Trong hành động, xuyên qua Nghị  quyết 36 và Kết luận 12 (NQ-36-KL-12), đảng vẫn bảo thủ và kiêu ngạo khi không nhìn nhận những người bất đồng chính kiến trong và ngoài nước là “một thực thể chính trị” cần được gặp gỡ và thảo luận về hòa hợp và hòa giải dân tộc.
     Vì vậy, sau 19 năm ra đời của Nghị quyết 36 (NQ-36) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, ban hành ngày 26/3/2004, sau đó bổ xung Kết luận 12-KL/TW ngày 12/8/2021 “về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ. Lý do vì trong hàng ngũ lãnh đạo, vẫn còn những kẻ tự mãn là bên thắng cuộc không cần phải nói chuyện với người bại trận. Theo họ, hàng ngũ thua cuộc phải tìm cách hội nhập để xây dựng đất nước dưới quyền lãnh đạo của đảng CSVN.
     Vì vậy, đảng đã nhìn nhận trong KL-12 : “Công tác người Việt Nam ở nước ngoài còn một số hạn chế. Có nơi, có lúc công tác người Việt Nam ở nước ngoài chưa được các cơ quan, tổ chức quan tâm đúng mức; công tác nắm tình hình cộng đồng, tham mưu, kiến nghị và phối hợp triển khai chủ trương, chính sách chưa sâu sát, chặt chẽ và kịp thời; chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của đồng bào ta ở nước ngoài.” (Kết luận 12-KL/TW,ngày 12/8/2021).
     Bộ Chính trị cho rằng “Công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục được triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn”, đặt lên hàng đầu “chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc.” KL-12 cũng lặp lại những gì đã viết trong NQ-36, theo đó: “Đổi mới, đa dạng hoá các hình thức, linh hoạt trong triển khai vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nước sở tại, trở thành cầu nối, góp phần thúc đẩy quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước. Kiên trì vận động những kiều bào còn có định kiến để củng cố niềm tin, yên tâm hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Tiếp tục coi trọng, quan tâm hỗ trợ và phát huy vai trò của các lực lượng nòng cốt, những người có uy tín, ảnh hưởng trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.”
     Chủ trương này rõ ràng là nhà nước CSVN muốn thao túng hàng ngũ các tổ chức của người Việt ở nước ngoài để kéo họ vào quỹ đạo của CSVN.
     Nhưng KL-12 cũng như NQ-36 đã không che được bản chất  “nói một đường làm một nẻo” của Lãnh đạo, vì ngay đối với người trong nước mà nhà nước chưa “hòa giải” được thì làm sao nói chuyện phải trái với người Việt phải bỏ nước ra đi chỉ vì không sống nổi với chế độ. Đây cũng là lý do tại sao trong số trên 70,000 Trí thức trẻ ở nước ngoài là những chuyên viên khoa học-kỹ thuật, chỉ có một số ít đếm trên đầu ngón tay đã về giúp Việt Nam.

NỖI BUỒN PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Vì vậy, mọi người nên đọc tâm sự của cựu Đại tá, Nhà văn Cộng sản Phạm Đình Trọng: “30.4.1975 chỉ là ngày kết thúc, là điểm dừng của một biến cố, một tai hoạ lịch sử kéo dài ba mươi năm.” Ông nói: “Tôi là thế hệ trong cuộc, là người lính vào sống ra chết trong tai hoạ của đất nước tôi, của cuộc đời tôi. Tôi đã góp năm tháng cuộc đời, góp mồ hôi và cả máu trong tai hoạ lịch sử đó. Tôi đã mang cả quãng đời dài nhất, quí nhất, đẹp nhất, giá trị nhất làm cho đất nước tôi mất đi một thời đại, làm cho nhân dân tôi phải mang nỗi đau buồn thế kỉ. Soi vào điểm dừng 30.4.1975 của tai hoạ lịch sử ba mươi năm là soi vào chính cuộc đời tôi, tôi càng nhận thức sâu sắc cái mất mát đau buồn đó.” (“Ngày đau buồn” trên Facebook cá nhân, ngày 30/04/2023).
     Vì nhận ra được những tuyên truyền xảo trá của đảng, Nhà văn Phạm Đình Trọng đã cùng với một số Nhà văn đã tuyên bố ra khỏi đảng. Ông tuyên bố: “Tôi là Phạm Đình Trọng, nhà văn, là đảng viên Cộng sản lớp Hồ Chí Minh từ 19.5.1970. Đến nay, 20.11.2009, tôi tự thấy đảng Cộng sản không còn phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ và giá trị nhân văn mà tôi theo đuổi nên tôi tự rút ra khỏi đảng. Thiếu vài tháng nữa, tôi tròn 40 năm là người Cộng sản. Từ lúc tự nguyện đứng vào hàng ngũ Cộng sản, đến tự rút ra khỏi đảng là một quá trình chuyển biến trong tôi, từ nhận thức bằng tình cảm sang nhận thức bằng lí trí và cũng là quá trình chuyển biến của chính đảng Cộng sản, từ ý chí vì dân, vì nước sang ý chí chỉ vì sự tồn tại của đảng.”
     Nhà văn Phạm Đình Trọng viết tiếp trong “Ngày đau buồn”: “Năm 1954, người dân nửa nước Bắc Việt bị lùa về thời bầy đàn. 30.4.1975, đến lượt người dân Nam Việt chung số phận với người dân Bắc Việt. Cả nước bị lùa về thời bầy đàn. Cả dân tộc Việt Nam trong ai oán nô lệ cộng sản. Cả xã hội Việt Nam trong ngột ngạt độc tài.”

     “Sau 30.4.1975 những trí tuệ như Luật sư Trương Như Tảng, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mới cay đắng nhận ra độc lập, giải phóng, cứu nước chỉ là chiêu bài, chỉ là bánh vẽ! Sự thật là những quyền con người cơ bản, người dân cũng không có thì độc lập làm gì?”
     Nói về cuộc sống thanh bình của người dân miền Nam dưới chế độ VNCH, ông Trọng hỏi đảng: “Người dân đang tung tăng tự do. Tự do kiếm sống. Tự do tiếp nhận thông tin. Tự do bộc lộ chính kiến chính trị. Tự do ra báo tư nhân. Tự do ứng cử, bầu cử. Tự do rầm rộ biểu tình phế bỏ chính phủ không thuận lòng dân. Nay người dân chỉ còn là bầy cừu, không được ho he điều gì trái ý quyền lực, người dân chỉ là rô bốt cầm lá phiếu bầu cử theo ý quyền lực thì giải phóng nỗi gì?”
     Nhà văn hỏi tiếp: “Người Việt giết người Việt, người Việt tước đoạt quyền sống của người Việt, người Việt có quyền lực nhà nước tù đày người Việt lương thiện mà là cứu nước ư? Nước Việt là sở hữu độc quyền của lãnh chúa cộng sản, người dân đâu còn nước mà cứu!
Vì vậy, 30.4.1975 là ngày đau buồn của cả dân tộc Việt Nam.”

AI NỔI DẬY?

Quả thật là như thế, vì sau 48 năm mệnh danh “Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975”, đảng CSVN đã để lại cho đất nước muôn vàn tang thương và đổ vỡ từ tinh thần đến vật chất. Hành động hủy diệt đau buồn này xẩy ra chỉ sau 7 năm đảng thực hiện “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968” với những vụ thảm sát thường dân kinh hoàng ở cố đô Huế.
     Tài liệu của Bách khoa toàn thư mở viết: “Trận Mậu Thân tại Huế, bắt đầu từ ngày 31 tháng 1 năm 1968, và kéo dài tổng cộng 26 ngày, hàng chục ngôi mộ tập thể được phát hiện trong và xung quanh Huế. Nạn nhân bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em và trẻ sơ sinh. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.
Theo Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu VNCH khu vực Thừa Thiên, trong 22 địa điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2.326 sọ người. Sau tết, các gia đình kê khai có người chết hoặc mất tích là 4.000 gia đình. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân được họ xác định là đã bị mất tích, bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống”..
     Tài liệu viết tiếp: “Võ Văn Bằng, quan chức VNCH, Trưởng ban Cải táng nó thì cho rằngi với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: "Các hố cách nhau. Mỗi hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, người thì nằm, người thì ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…"
     Phía quân Cộng sản phủ nhận đã gây ra các vụ thảm sát. Tuy nhiên, nhiều người sống sót là nhân chứng xác nhận đã có các vụ quân Cộng sản hành quyết các viên chức và cảnh sát VNCH khi chiếm Huế.
     Tuy nhiên không hề có các cuộc được gọi là “nổi dậy” của quần chúng đi theo và ủng hộ “quân giải phóng” Việt Cộng trong hai vụ Tết Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975. Ngược lại, hàng trăm ngàn dân đã bỏ nhà chạy về phía Quân đội Quốc gia khi bị Việt Cộng tấn công. Đây là bằng chứng cho thấy những cuộc “nổi dậy” của dân đã được ngụy tạo để tuyên truyền. Đảng CSVN cũng không thể phủ nhận lý do vượt biển và vượt biên tìm tự do của hàng trăm ngàn người Việt từ 1975, sau khi Chính quyền Cộng sản tiêu diệt nền kinh tế tự do thời VNCH.
     Tài liệu của Bách khoa Toàn thư (BKTT) mở  viết: “Theo Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) thì trong khoảng thời gian 20 năm từ 1975 đến 1995 có 796.310 người từ Việt Nam vượt biên bằng đường biển. Cũng theo số liệu của tổ chức này, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người từ Đông Dương vượt biên bằng đường biển hoặc đường bộ (tính cả người Campuchia). Theo số liệu của Indonesia, trong khoảng thời gian 1975-1996 đã có 250.000 người từ Việt Nam và Campuchia tới tá túc trên đảo Galang. Tuy tới từ Việt Nam, nhưng theo thống kê thì 2/3 số người vượt biên là người gốc Hoa.
     Theo quan điểm của chính quyền Việt Nam thì việc vượt biên là do các thế lực đế quốc thù địch với Việt Nam (ngầm chỉ Mỹ và Trung Quốc) muốn phá hoại làm suy yếu đất nước, hòng mở cuộc gây hấn với Việt Nam...”
     Tài liệu của BKTT cũng cho biết: “Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn ước tính có từ 200.000 đến 400.000 thuyền nhân chết trên biển do mọi nguyên nhân (bệnh tật, tai nạn, bão tố, gặp hải tặc...) Những ước tính khác cho rằng có từ 10 đến 70 phần trăm thuyền nhân chết trên biển do mọi nguyên nhân.”
     Vậy ai đã gây ra thảm cảnh vượt biên và vượt biển cho người miền Nam, nếu không phải là chính quyền Cộng sản, sau khi cưỡng chiếm được Việt Nam Cộng Hòa? Cũng chính quyền này đã tiêu diệt hàng ngũ trí thức và tiêu diệt nền Văn hóa nhân bản của miền Nam, sau ngày quân Cộng sản vào Sài Gòn. Trách nhiệm lịch sử này sẽ mãi mãi tồn tại với nỗi đau buồn thắt ruột của ngày 30/4/1975. Cũng vì ngày này mà tuy đất nước đã thống nhất nhưng lòng người Nam, kẻ Bắc vẫn xa nhau vời vợi.
     Và trái với những hứa hẹn đoàn kết dân tộc để xây dựng đất nước phồn vinh thi Đảng cầm quyền Cộng sản lại tiếp tục độc tài cai trị, độc quyền báo chí để kìm kẹp tư tưởng và dùng bạo lực và tù đầy để đàn áp dân chủ, nhân quyền.
     Như vậy, ngày 30/4/1975 có xứng đáng là “ngày giải phóng” hay đã biến thành  “ngày nô lệ” cho cả dân tộc?

– Phạm Trần

(30/04/2023)

Tuesday, April 4, 2023

80 NĂM TRƯỚC : MỸ TIÊU DIỆT ĐÔ ĐỐC NHẬT ISOROKU YAMAMOTO

 

 Chiến dịch Mỹ hạ sát đô đốc Nhật chỉ huy trận Trân Châu Cảng

  

 See the source image

Bất chấp thất bại trong trận Midway năm 1942, Nhật vẫn kiên quyết không đầu hàng, thúc đẩy Mỹ lên kế hoạch hạ sát đô đốc Isoroku Yamamoto.

Yamamoto, đô đốc nổi tiếng nhất của hải quân Nhật khi đó, là người chỉ huy cuộc tập kích bất ngờ vào căn cứ Mỹ ở Trân Châu Cảng hồi tháng 12/1941. Chỉ trong hai giờ, đợt tấn công đã phá hủy 4 tàu chiến, gần 190 phi cơ, khiến hơn 2.000 lính Mỹ thiệt mạng và khoảng 1.200 người bị thương. Trận đánh này được coi là "nỗi nhục" với Mỹ và dẫn tới quyết định tham gia Thế chiến II.

Yamamoto được đánh giá là một người tài năng và vô cùng thông minh, nhận được sự tôn trọng từ cả hai bên chiến tuyến. Trước chiến tranh, ông đã sống vài năm tại Mỹ và học ở Đại học Harvard, nên từng phản đối cuộc chiến với nước này, thậm chí là việc gia nhập Hiệp ước Ba bên với Đức và Italy, hình thành nên phe Trục.

Mục tiêu của Yamamoto chỉ là một lòng phụng sự đất nước. Dù nhận thức được rằng Nhật đã lựa chọn con đường sai lầm, đô đốc này vẫn hỗ trợ tổ quốc hết sức có thể.

See the source image
Đô đốc Isoroku Yamamoto của hải quân Nhật Bản trong Thế chiến II. Ảnh: Dan Hampton

See the source image
Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. 

tia-chop-p-38-tiem-kich-ban-ha-nhieu-may-bay-nhat-the-gioi
Chiến đấu cơ P-38 Lightning (Tia chớp)

See the source image

See the source image
Trung úy Rex Barber của Mỹ là người khai hỏa vào oanh tạc cơ đầu tiên

See the source image

See the source image
"Trong 6-12 tháng đầu tiên của cuộc chiến với Mỹ và Anh, tôi sẽ hành động quyết liệt và lần lượt giành chiến thắng. Nhưng nếu chiến tranh vẫn tiếp diễn sau đó, tôi không kỳ vọng vào thành công", Yamamoto nói trong một cuộc họp với nội các Nhật, điều sau này trở thành hiện thực với thất bại nặng nề của hải quân Nhật trong trận Midway, sự kiện định đoạt mặt trận Thái Bình Dương.

Ngày 14/4/1943, các chuyên gia mật mã Mỹ đã thu thập và giải mã được một bức điện về kế hoạch thị sát của Yamamoto tại Quần đảo Solomon. Bức điện chứa nhiều thông tin chi tiết, như thời gian khởi hành, địa điểm, tuyến đường bay chính xác, thậm chí cả số lượng và loại máy bay được triển khai làm nhiệm vụ này, tạo thời cơ cho Mỹ hạ sát đô đốc Nhật.

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt khi đó tỏ ra dứt khoát và không suy tính gì thêm sau khi nghe về Chiến dịch Báo thù. Kế hoạch được tất cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo Mỹ phê chuẩn chỉ trong vòng ba ngày, thuộc loại nhiệm vụ tuyệt mật và khẩn cấp.

Chiến đấu cơ P-38 Lightning (Tia chớp), một trong những loại chiến đấu cơ hiệu quả nhất thế giới, được lựa chọn thực hiện chiến dịch nhờ khả năng bay đường xa vượt trội hơn bất kỳ máy bay nào khác trong kho vũ khí của Mỹ. Phi đội gồm 18 chiếc P-38 chỉ biết họ được giao nhiệm vụ "đánh chặn một quan chức cấp cao" của Nhật. Trong mỗi tốp 4 chiến đấu cơ sẽ có một chiếc nhận trách nhiệm "tiêu diệt", số còn lại yểm trợ cho chiến đấu cơ tấn công.

Các sĩ quan tham mưu Mỹ đặt ra khả năng máy bay chở Yamamoto di chuyển theo đường thẳng từ Rabaul, Papua New Guinea, đến sân bay Balalae trên quần đảo Solomon, dài khoảng 507 km. Dựa vào đó, Washington phải dự đoán thời gian và vị trí đụng độ, đồng thời hy vọng các phi công Nhật không trì hoãn chuyến bay hoặc thay đổi tuyến đường.

Tướng John Mitchell, chỉ huy Chiến dịch Báo thù, tính toán rằng vụ đánh chặn sẽ xảy ra vào 9h35 sáng 18/4/1943, vài phút trước khi máy bay chở Yamamoto hạ cánh xuống Balalae.
7h hôm đó, chỉ có 16 chiến đấu cơ P-38 cất cánh từ sân bay Kukum Field trên đảo Guadalcanal thuộc quần đảo Solomon, do hai chiếc gặp trục trặc. Thêm vào đó, phi đội phải tránh radar và vùng biển địch kiểm soát bằng cách bay thấp, ở độ cao hơn 12 m so với mực nước biển, hoàn toàn không trao đổi qua sóng vô tuyến suốt chặng đường dài 640 km.Lực lượng Mỹ đã gặp may mắn khi mọi thứ diễn biến theo đúng dự tính ban đầu, không bên nào thay đổi kế hoạch. Trận không chiến bắt đầu lúc 9h34 gần đảo Bouganville thuộc Papua New Guinea. Các phi công Mỹ phát hiện hai oanh tạc cơ Mitsubishi G4M của Nhật được 6 chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero hộ tống.

Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. Đồ họa: Google.
Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. Đồ họa: Google.

Trung úy Rex Barber của Mỹ là người khai hỏa vào oanh tạc cơ đầu tiên, bắn trúng động cơ bên phải khiến máy bay bốc cháy và rơi xuống rừng. Đây chính là phi cơ chở đô đốc Yamamoto. Oanh tạc cơ thứ hai chở phó đô đốc Matome Ugaki của Nhật cũng bị trung tá Besby Holmes bắn hạ và lao xuống biển.

Ugaki được giải cứu và sống sót, nhưng Yamamoto thì không. Đô đốc nổi tiếng của Nhật trúng hai phát đạn và tử vong trước khi máy bay rơi xuống. Thi thể ông được tìm thấy vào hôm sau, hỏa táng rồi gửi về Tokyo trên thiết giáp hạm Musashi, con tàu cuối cùng mà Yamamoto làm chỉ huy.

Một tháng sau, người dân Nhật được thông báo về cái chết của Yamamoto, mất mát được cho là to lớn với nước này. Ngược lại, tinh thần của người Mỹ dâng cao nhờ Chiến dịch Báo thù, khi một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của họ đã bị loại bỏ.

See the source image
Ánh Ngọc (Theo War History) Hình ảnh bổ sung Andy Van

See the source image

Monday, March 6, 2023

THÁNG 3.1975, AI RA LỆNH RÚT QUÂN TẠI KONTUM PLEIKU, TỔNG THỐNG THIỆU HAY TƯỚNG PHÚ ?

 

Đào Văn

✱ CIA: Thiếu tướng Phan Văn Phú, đã gặp  TT Thiệu ngày hôm qua (16.3.1975) và thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến cao nguyên miền Trung.

✱ Tướng  Phú: Tổng  Thống Thiệu  đã  chà  đạp  danh  dự  tôi  khi  ông công  khai  đổ  lỗi  cho  tôi  về  chuyện  mất  Cao nguyên  Trung  phần

✱ Tướng  Trưởng: Lệnh  của  Tổng  Thống  Thiệu  yêu  cầu  tôi  rút  khỏi Quân  Đoàn  I  vào  ngày  13  tháng  3,  và  rút  Quân  Đoàn  II  vào  ngày  14 tháng  3.  Ông  Thiệu  cho  biết  là  rút  hết  về Phú  Yên,  lấy Quốc  lộ  22  làm ranh giới.

✱ TT Thiệu:Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. Chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ không thực hiện những thay thế như đã cam kết – vì thế, chiến cụ của chúng ta đã bị giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc.

Việc rút  quân khỏi hai tỉnh Pleiku-Kontum từ hồi tháng 3 năm 1975  tính ra đã gần 50 năm, nhưng đề tài này vẫn còn  gây ra nhiều tranh cãi cho đến ngày nay về việc ai đã ra lệnh rút quân khỏi vùng cao nguyên Trung Phần. Để rộng đường dư luận, người viết xin lược lại  các tuyên bố của các vị tư lệnh quân khu trách nhiêm được ghi lại trên cách sách báo và tuyên bố của TT Thiệu dựa vào tài liệu giải mật  phổ biến trên thư viện online của CIA (2016 và 2017), và các điện tín giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn được phổ biến  trên thư viện của Bộ Ngoại Giao.

✱ Tình hình QK II vào tháng 3.1975

Theo bản văn của CIA thiết lập ngày 17.3.1975 (phổ biến ngày 14.8.2016) -Tổng thống VNCH Thiệu đã quyết định dùng tổng lực nhằm trụ lại  vùng cao nguyên Ban Mê Thuột và đã ra lệnh cho Tư lệnh quân khu rút quân khỏi hai tỉnh Kontum và Pleiku, để sử dụng  vào  cuộc  chiến tái chiếm thị trấn. [bị xóa một số chữ] Tư lệnh vùng, Thiếu tướng Phan Văn Phú, gặp Thiệu ngày hôm qua (16.3.1075) đã thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến  cao nguyên miền Trung. Tổng thống nói với Phú rằng việc tái chiếm Ban Mê Thuột là mục tiêu quan trọng nhất của Quân khu 2.

Thiệu được cho là đã ra lệnh cho Tướng Phú bắt đầu rút lực lượng của ông ta khỏi các tỉnh Pleiku và Kontum hôm nay (17.3.1975) và hoàn thành việc di chuyển vào thứ Hai tới. Một chiếc C-47 của Air America đã được sắp xếp để di tản tất cả người Mỹ khỏi Kontum và Pleiku vào sáng sớm hôm nay. Chi tiết về tình hình chiến thuật tại Ban Mê Thuột chưa đầy đủ, nhưng [bị xóa một số chữ] những người cộng sản hiện chiếm đóng phần lớn  thị trấn. [Bị xóa 4 dòng chữ] số đông quân đội miền Nam Việt Nam đã bị bắt làm tù binh, trong số này có tỉnh trưởng và một trung đoàn trưởng. Một số lượng lớn dân thường đã được “giải thoát”, cho thấy dân thường đã  di chuyển khỏi khu vực giao tranh để vào vùng do cộng sản kiểm soát. [1]

 ✱ Ý kiến của hai  vị Tư lệnh Quân khu I , II và của Đại Tướng Cao Văn Viên  về vụ triệt thoái.

• Tướng  Phú :  “Tổng  Thống Thiệu  đã  chà  đạp  danh  dự  tôi  khi  ông công  khai  đổ  lỗi  cho  tôi  về  chuyện  mất  Cao Nguyên  Trung  Phần….. và ông ta đã ra đi  như một  người  du  lịch với  những  chiếc va ly  mà ông  đã soạn  sẵn….  Nhưng  phần  tôi,  tôi  sẽ  ở  lại,  tôi  sẽ  tự  tử và máu của  tôi  sẽ rơi  trở  lại  vào lưng  ông  ta.  Tôi  chỉ còn  có một cách đó để đính chánh lời cáo  buộc  của  ông  ta  mà  thôi”  (VNQMOK- chương 23) [2].

• Tướng  Trưởng : ” Lệnh  của  Tổng  Thống  Thiệu  yêu  cầu  tôi  rút  khỏi Quân  Đoàn  I  vào  ngày  13  tháng  3,  và  rút  Quân  Đoàn  II  vào  ngày  14 tháng  3.  Ông  Thiệu  cho  biết  là  rút  hết  về Phú  Yên,  lấy Quốc  lộ  22  làm ranh giới. Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.  Cái lầm  của trung  ương là không  cho  các thuộc cấp biết biết ý định của  mình.  Nghĩa  là  các  vị  tư  lệnh  các  quân  binh  chủng,  tổng  bộ  trưởng,  tư lệnh sư  đoàn  v.v… đã không biết gì về về lệnh rút quân của Quân Đoàn I và  II.  Lệnh  này  chỉ  có  Tổng  thống  và  Thủ  tướng,  Đại  tướng  Cao  Văn Viên,  tôi  (Tư  lệnh  Quân  Đoàn  I)  và  Tư  lệnh Quân  Đoàn II  (Tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. “ [3]

• Đại Tướng Cao  Văn  Viên:   Vào thời gian Ban Mê Thuột gần như nằm dưới quyền kiểm soát của Cộng sản, Tổng thống Thiệu ngỏ ý muốn gặp Thiếu tướng Phạm Văn Phú tại tổng hành dinh của ông ta  ở Pleiku   để xem xét tình hình.  Tướng Phú đề nghị họp tại Cam Ranh và cuộc họp diễn ra vào thứ Sáu, ngày 14 tháng 3 năm 1975. Sau  khi  tướng  Phú  chấm  dứt  tường  trình, tổng thống  Thiệu   hỏi Tướng Phú có  thể  nào  chiếm  lại  được  Ban  Mê Thuột  hay không. Tướng  Phú  ” không cam tâm trả lời trước câu hỏi chắc nịch” , chỉ  xin  tổng  thống  Thiệu  thêm quân  tiếp  viện. Tổng thống Thiệu lệnh cho   Quân  Đoàn II  phối trí lại các đơn vị cơ  hữu  của  quân  đoàn  để  chiếm  lại  Ban  Mê  Thuột. Theo Tướng Viên: “Khi cuộc họp sắp kết thúc, và các tham dự viên chuẩn bị ra về, Tướng Phú bất ngờ đưa ra một yêu cầu cá nhân với Tổng Thống Thiệu. Bằng một giọng gần như cầu xin, ông đề nghị cấp dưới của mình, Đại Tá Phạm Văn Tất, tư lệnh lực lượng Biệt Động Quân tại Vùng II, được thăng cấp chuẩn tướng.  Mặc dù tôi không hoàn toàn phản đối, nhưng ý kiến của tôi là việc thăng cấp cho Đại tá Tất nên đợi cho đến khi ông ta lập được một chiến công đáng kể nào đó trong chiến đấu. Tổng thống Thiệu chưa quyết định; ông  do dự và đồng ý với lý do của tôi. Nhưng Phú vẫn khăng khăng và liên tục trình bày trường hợp của mình với tổng thống, Người cuối cùng đã đồng ý. (Sau khi được thăng cấp, Đại Tá Tất được chỉ định chỉ huy các đơn vị để bố trí lại).

Về đến Sài Gòn, tôi gọi Chuẩn tướng  Trần Đình Thọ, phụ tá Tham mưu trưởng Phòng 3 của tôi, kể cho ông nghe chi tiết cuộc họp. Tham mưu trưởng của tôi, Trung tướng Đồng Văn Khuyên, lúc đó đang đi công tác ở nước ngoài. Chỉ thị của tôi cho Thọ là theo dõi việc di chuyển tái bố trí và tùy ý phụ giúp cho Tướng Phú một tay, vì đây thực chất là một cuộc hành quân tuyệt mật do Quân đoàn II tiến hành và chỉ liên quan đến các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn. Đó cũng là một mệnh lệnh tác chiến tối mật do tổng thống với tư cách là tổng tư lệnh trực tiếp đưa ra cho một chỉ huy chiến trường. Do đó, Bộ Tổng Tham Mưu không được phép đưa ra bất kỳ mệnh lệnh nào cho việc tái triển khai các thành phần lục quân và không quân trong khu vực Kontum-Pleiku ,không trực tiếp tham gia vào cuộc hành quân”.(Tóm lược theo cuốn The Final Collapse, chương 6, tác giả: Gen. Cao Văn Viên).[4]

✱ Điện tín của Phó Đại sứ Lehmann gửi BNG  báo cáo về việc gặp TT Thiệu vào ngày 20.3.1975.

Ngày 20.3.1975 – Theo thư viện online của BNG/FRUS  – Căn cứ theo  Điện tín  số 62480 từ BNG gửi Sài Gòn, ngày 20 tháng 3, chỉ thị cho Phó Đại sứ Lehmann: “Ông nên gặp Thiệu càng sớm càng tốt để tìm hiểu lý do ông ta rút quân khỏi Kontum và Pleiku và việc rút quân  tại Quân khu I. Ông nên nói với ông ta rằng chúng ta cần một bức tranh rõ ràng từ ông ta về kế hoạch và chiến lược của ông ta nhằm đối phó với cái mà bây giờ rõ ràng là một cuộc tổng tấn công của Bắc Việt Nam.”

 Tôi (Lehmann) đã gặp Tổng thống  Thiệu vào chiều nay (20.3.1975) và nói với ông ta rằng cá nhân tôi hiểu những gì ông ta đang làm… Trước tình hình này, Tổng thống cho biết, ông không còn có thể chiến đấu theo quan điểm quân sự như trong hai năm qua là chiến đấu một cách “ngu ngốc”. Ông ta phải từ bỏ lãnh thổ hoặc đối mặt với viễn cảnh lực lượng của mình bị tiêu diệt từng mảnh, cuối cùng tạo ra một tình huống mà vì nỗ lực bảo vệ mọi phần của đất nước, nhưng ông ta không còn có thể bảo vệ bất kỳ phần nào trong số đó.

 Ở Cao Nguyên có thể ông đã giữ Pleiku và có lẽ cả Kontum. Tuy nhiên, với những con đường từ bờ biển bị địch phong tỏa, điều này chỉ có thể được thực hiện với cái giá rất đắt và ngay cả khi đó ưu thế địa phương mạnh mẽ của địch cuối cùng sẽ khiến việc phòng thủ Pleiku trở thành một nhiệm vụ tự sát. Do đó, ông ta đã quyết định rút hết lực lượng mà ông ta có thể. Vì đối diện với các lực lượng mạnh của kẻ thù, ông ta coi tốc độ và sự bất ngờ là điều cần thiết. Đó là sự đánh đổi giữa việc mất một số quân bị, kể cả máy bay và có thể phải trả giá bằng việc rút lui được tổ chức cẩn thận, có trật tự hoặc mất toàn bộ lực lượng vì không thể rút lui trước một cuộc tấn công sắp xảy ra của kẻ thù.

Việc mất Ban Mê Thuột, Tổng thống nói, chắc chắn là một đòn giáng mạnh. Nó đã xảy ra bởi vì Bắc Việt đã có thể tập trung một lực lượng tương đương với hai sư đoàn cộng với các đơn vị hỗ trợ. Vì nỗ lực tái chiếm Ban Mê Thuột sẽ tốn rất nhiều nguồn lực, nhưng với một kết quả không chắc chắn, ông đã quyết định từ bỏ nỗ lực này. “…”

Vào cuối cuộc thảo luận của chúng tôi, Tổng thống trở lại chủ đề rằng cho đến nay VNCH đã tiến hành một cuộc chiến tranh dựa trên các tiền đề của Hiệp định Paris. Tiền đề này đã tạo ra một cuộc chiến ngu ngốc về mặt quân sự, bên phía chính phủ với các đơn vị rải rác cố gắng bảo vệ mọi phần lãnh thổ. Cuộc tấn công hiện tại của Bắc Việt giờ đã chấm dứt mọi hy vọng tiếp tục chiến đấu trên cơ sở của Hiệp định Paris. Do đó, việc xem xét những gì hiệu quả nhất về mặt quân sự trong việc bảo vệ càng nhiều người dân càng tốt và duy trì sự toàn vẹn của các lực lượng vũ trang từ nay trở đi sẽ là sự cân nhắc quan trọng nhất. [5]

✱ Tình hình tại miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 3.1975.

Phần tóm lược sau dựa vào tài liệu của cơ quan CIA thiết lập ngày 27.3.1975 và phổ biến ngày 16.12.2016.

Ngày 27.3.1975 – Cuộc rút quân của Nam Việt Nam trong hai tuần qua dẫn đến một thất bại lớn, và những tổn thất khác là chắc chắn. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa có đủ sức mạnh quân sự ở miền Nam đất nước để tồn tại qua mùa khô hiện nay, mặc dù họ có thể sẽ chỉ kiểm soát vùng đồng bằng và các tỉnh đông dân xung quanh Sài Gòn.

• A. Tổng thống Thiệu quyết định di tản khỏi vùng cao nguyên và tập trung lực lượng dọc theo bờ biển đông dân cư và xung quanh Sài Gòn vì ông cảm thấy họ bị trải rộng quá mức, đối mặt với một lực lượng Bắc Việt vượt trội hơn rất nhiều, và còn phải đối diện với viễn cảnh viện trợ của Hoa Kỳ ngày càng cạn kiệt.

 1. Thiệu rõ ràng hy vọng sẽ gây bất ngờ cho cộng sản và rút lực lượng nguyên vẹn để sẵn sàng chiến đấu trước khi họ kịp phản ứng. Nhưng kế hoạch này đã thất bại, và những người cộng sản đã nhanh chóng lợi dụng tình hình.

 2. Các nhà lãnh đạo quân sự của Thiệu đã bị bất ngờ. Nhiều người trong số họ cho biết họ không được thông báo hoặc tham khảo ý kiến trước khi kế hoạch có hiệu lực.

  a. Do đó, việc bố trí lại của chính phủ nói chung là lộn xộn và tốn kém về nhân vật lực.

  b. Hơn nữa, sự bất bình chống lại sự lãnh đạo của Thiệu đã gia tăng sau những đảo ngược quân sự lan rộng, và những áp lực buộc ông phải từ chức hoặc cưỡng chế loại bỏ ông có thể nhanh chóng xuất hiện.

• B. Chính phủ hầu như đã nhượng bộ tất cả  Quân khu 1 và 2 vào tay cộng sản, và một số vùng đất còn lại dọc theo bờ biển Bắc trung bộ dự kiến sẽ thất thủ.

 1. Việc rút lui vô tổ chức từ các tỉnh phía bắc và phía nam Đà Nẵng đã tạo ra một vấn đề tị nạn lớn ở thành phố đó. Rối loạn dân sự đã nổ ra. “…”

  2. Cho đến nay, có rất ít biện pháp phòng thủ được áp dụng lên Đà Nẵng, mặc dù cộng sản có hai sư đoàn mới ở phía tây thành phố. Có những dấu hiệu cho thấy một sư đoàn dự bị chiến lược khác của Hà Nội đang tiến về phía nam, và có thể đang trên đường đến khu vực này. “…”

• C. Tại Quân khu 2, vị thế quân sự của chính phủ cũng suy giảm nhanh chóng. Năm tỉnh vùng cao và phần lớn tại một số tỉnh khác đã bị bỏ ngỏ.

 1. Người miền Nam Việt Nam chỉ có hai sư đoàn trong vùng, và một trong hai hầu như đã bị  tổn thất trong cuộc giao tranh ở tỉnh Darlac.

 2. Bảy trong số các nhóm kiểm lâm trong khu vực đang thiếu sức chiến đấu nghiêm trọng hoặc đang trong tình trạng hỗn loạn.

 3. Một số lượng lớn đạn dược, nhiên liệu và thiết bị đã bị bỏ lại tại các thành phố Kontum và Pleiku.

 4. Các cuộc tấn công của cộng sản vào đoàn quân rút lui từ cao nguyên đã  bị tan rã hoặc bị tổn hại nặng. “…”  [6]

✱ Chiến lược mới của TT Thiệu .

Ngày 4.4.1975 – Theo tài liệu  của Cơ quan CIA thiết lập ngày 4.4.1975 (phổ biến ngày 16.12.2016): ” Khái niệm chiến lược mới này đòi hỏi phải xóa bỏ hầu hết các khu vực miền núi,  dân cư thưa thớt thuộc  QK I và QK II, để tập trung từ các tài sản đến  nguồn lực  nhằm  bảo vệ QK III và QK IV, cộng với vùng đất thấp ven biển, gồm các khu vực sản xuất nông nghiệp của miền Nam Việt Nam, nơi phần lớn nhiều dân cư sinh sống. Chiến lược này có cơ sở và ước tính của Thiệu về sự cần thiết của kế hoạch là đúng. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch là một thảm họa. Trong cuộc họp ngày 13 tháng 3 với Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Trưởng, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới và kết quả của ông: quyết định rút Sư đoàn Dù từ QK I xuống QK III, bất chấp sự phản đối gay gắt của Tướng Trưởng về việc rút Sư đoàn Dù đi.
 

Trong mười hai ngày tiếp theo, – (13-25 tháng 3), cả ở QK I và Sài Gòn đều bị bỏ trống, và những phần còn lại  của  QK I  được tổ chức lại – đặc biệt là liệu có nên thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm bảo vệ Huế hay không. Do lệnh thay đổi từ Sài Gòn, Tướng Trưởng đã phải điều chỉnh lại kế hoạch triển khai quân ít nhất đến ba lần.  “…”

 Tại  QK 2, Tổng thống Thiệu và Tư lệnh khu vực của ông, Tướng Phú, gặp nhau tại  Cam  Ranh ngày 13 tháng 3 để thảo luận về tình hình do mất Ban Mê Thuột. Tại cuộc họp đó, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới của ông ta là rút khỏi vùng cao nguyên và củng cố các lực lượng của Chính phủ Việt Nam vào  những vùng xung yếu ven biển. Do không biết chính xác về  từ ngữ trong mệnh lệnh của Tổng thống– nhưng Tướng Phú cho rằng đó là lệnh nên ông phải  hành động ngay lập tức việc di tản  các tỉnh Pleiku và Kontum –mà chưa có kế hoạch hay sự chuẩn bị nào . Cuộc di tản bắt đầu trong hai ngày tiếp theo, theo đó các lực lượng QLVNCH đi theo đường 14 và đường 73, băng qua các tỉnh Phú Bổn và Phú Yên đến bờ biển Tuy Hòa. Con đường này  hầu như không được sử dụng trong nhiều năm, cần nhiều cầu nối nhưng đã  không được thực hiện”…”.

Trong ba tuần cuối cùng của tháng Ba, năm sư đoàn QLVNCH, mười hai Liên đoàn Biệt động quân và hai lữ đoàn thiết giáp đã bị mất tác dụng. Quân số  từ các đơn vị này được tập hợp lại thành các đơn vị mới, nhưng  tất cả các thiết bị của họ đã bị mất”. [7]

✱ Diễn văn từ chức của TT Thiệu có đoạn văn nói về cuộc di tản Pleiku và Kontum.

Ngày 21.4.1975 – “…” Nhận thấy rằng người Mỹ đã có thái độ chủ bại đối với các hành động xâm lược của cộng sản, chúng ta phải tự quyết định công việc của mình. Vì vậy, sau khi Ban Mê Thuột – một khu vực quan trọng, trù phú và đông dân cư nhất của cao nguyên miền Trung – bị cộng sản tấn công, chúng tôi tự hỏi liệu lực lượng của mình có thể bảo vệ Kontum và Pleiku được hay không. Lực lượng của ta không thể bảo vệ được Kontum và Pleiku mà lúc đó chúng tôi tin rằng sớm muộn gì cũng sẽ thất thủ. Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, chúng tôi băn khoăn không biết lấy quân ở đâu để tái chiếm. Chúng tôi đi đến một quyết định chính trị là không thể bảo vệ cho Kontum và Pleiku.

Trên cơ sở dựa theo các ý kiến của Thủ tướng, Tổng Tham Mưu  Trưởng và Tư lệnh các quân khu liên quan, chúng tôi quyết định điều lực lượng từ Kontum và Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột. Chúng tôi tin rằng nếu chiếm lại được Ban Mê Thuột, chúng tôi sẽ có cơ hội chiếm lại Kontum và Pleiku.( If Ban Me Thuot were retaken, we believed, we would have the opportunity to retake Kontum and Pleiku).

Đây là một quyết định chiến thuật, và xét cho cùng, là một quyết định chính trị. Về quân sự , đó là quyết định chiến thuật đối với  Quân khu II. Thật không may, bất kỳ sự bố trí lại quân đội hay bất kỳ sự rút lui nào đều không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Đó là một nhiệm vụ khó khăn nhất đối với một quân đội. Hơn nữa, lực lượng cộng sản ở Ban Mê Thuột và những đơn vị địch ngăn chặn các cuộc di chuyển từ Kontum và Pleiku đến Phú Bổn đông hơn của chúng ta.  Vì vậy, chúng ta đã rất khó bảo toàn một phần lực lượng di chuyển từ Kontum và Pleiku đến Tuy Hòa và Ninh Hòa, không đủ lực lượng để tập trung lên đồi 28 hầu ngăn chặn cuộc tiến công của cộng quân từ Ban Mê Thuột. Mọi hy vọng chiếm lại Ban Mê Thuột lúc đó đều tiêu tan, vì lực lượng của chúng ta khắp nơi phải đương đầu với địch theo tỷ lệ một chọi ba, nghĩa là lực lượng cộng sản đông gấp ba lần hơn chúng ta. Trước tình hình đó, chúng tôi phải miễn cưỡng sử dụng các đơn vị Dù của chúng tôi, các đơn vị này cũng đã bị áp đảo bởi cả một sư đoàn cộng sản. Quý vị và đồng bào thấy đấy, ngay cả chiến sĩ  Dù dày dạn kinh nghiệm của chúng ta cũng bị áp đảo sau khi đã chiến đấu quên mình và giáng cho hai ba trung đoàn địch những thiệt hại nặng nề.

 Với xu hướng đó, Nha Trang, Phan Rang và Cam Ranh bị đe dọa vì chỉ có lực lượng địa phương và dân quân phòng thủ. Điều này cũng đúng với Phú Yên. Trong những năm qua, chúng tôi duy trì một sư đoàn ở Qui Nhơn và Bình Định. Tuy nhiên, trong những năm này, những người cộng sản đã tăng cường quân số của họ ở đó và trang bị nhiều vũ khí hơn. Vì vậy, cho dù sư đoàn 22 của chúng ta đã chiến đấu anh dũng nhưng bị tổn thất nặng nề và cuối cùng phải rút lui. “…”

Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ đã cam kết trong thỏa thuận Paris thực hiện việc thay thế trên cơ sở một đổi một, nhưng họ đã không thực hiện những thay thế này: họ đã ngừng cung cấp cho chúng tôi những phương tiện này (the United States undertook in the Paris agreement to carry out replacements on a piece-to-piece basis,  but it has not made these replacements: it has stopped providing us with these means). Vì thế , chiến cụ của chúng ta đã giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc. Ngược lại, những người cộng sản ngay từ đầu đã có một lượng phương tiện chiến tranh ngày càng tăng lên. Do đó, họ đã đạt được lợi thế kép – họ đã tịch thu được nhiều chiến cụ hơn, trong khi khối lượng chiến cụ của chúng ta đã giảm.

Vì vậy, các chiến sĩ cho dù dũng cảm đến đâu, chỉ huy cho dù tài giỏi đến đâu cũng phải chịu tổn thất, mất đất, mất người. Chúng tôi đã nhận ra sự thật này và chúng tôi không thể chịu đựng được. Nhiều lần, chúng tôi đã thấy rằng chúng tôi phải sử dụng một chiến thuật phi lý để bảo vệ đất đai của chúng ta và bảo vệ người dân của chúng ta.  Chúng tôi đã phải chiến đấu trong một cuộc chiến phi lý bởi vì đây là trách nhiệm của chúng tôi. “…”

(Tóm lược trích đoạn theo bản văn Anh ngữ trang 12 , 13 và 15, diễn văn từ chức của TT Thiệu tuyên bố ngày 21.4.1975- chi tiết sẽ trình bày sau.)

Hy vọng với phần trình bày phía trên bạn đọc sẽ  tìm ra câu trả lời cho câu hỏi nơi đầu bài viết.

Đào Văn

Tài liệu tham chiếu:

[1]-CIA Library: THE PRESIDENT’S DAILY BRIEF 15 MARCH 1975.pdf

[2]- isach info: VN Quê mẹ oan khiên -Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch

[3]- Nhảy Dù wdc org : Tại sao tôi bỏ Quân Đoàn I?
[4]-History Army Mil.: GENERAL CAO VAN VIEN, THE FINAL COLLAPSE.pdf

[5]- BNG/FRUS: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State

[6]- CIA Library :DCI BRIEFING FOR 27 MARCH WSAG MEETING THE SITUATION IN VIETNAM.pdf [7]- CIA Library -(page 5)-  Memo for the President – 04.04.1975


NGUỒN : https://www.baocalitoday.com/viet-nam/thang-3-1975-ai-ra-lenh-rut-quan-tai-kontum-pleiku-tt-thieu-hay-tuong-phu.html