; }

NGƯỜI VIỆT TỪNG TẠO RA MỘT HỆ CHỮ ĐỂ VIẾT TIẾNG VIỆT — RỒI GẦN NHƯ KHÔNG CÒN ĐỌC ĐƯỢC NÓ

Có lần một người bạn Đài Loan hỏi mình:

“Việt Nam chịu ảnh hưởng chữ Hán lâu như vậy, tại sao chữ viết bây giờ lại giống tiếng Anh?”
Lúc đó mình trả lời khá đơn giản: vì Việt Nam chuyển sang dùng chữ cái Latinh. Nhưng càng học tiếng Trung, càng đọc về lịch sử ngôn ngữ Việt Nam, mình mới nhận ra câu chuyện phía sau phức tạp và thú vị hơn rất nhiều.
Bởi trước khi chữ Quốc ngữ trở thành hệ chữ phổ biến như hôm nay, người Việt đã từng phát triển một hệ chữ riêng để ghi lại chính tiếng nói của mình.
Đó là chữ Nôm.
Chữ Hán có thể dùng để viết văn ngôn và rất nhiều từ Hán-Việt, nhưng tiếng Việt còn vô số từ bản địa như trời, ăn, ở, ba... không thể đơn giản lấy một chữ Hán có sẵn rồi đọc theo tiếng Việt.
Vì thế, qua nhiều thế kỷ, người Việt dựa trên chính vật liệu và nguyên tắc của chữ Hán để tạo thêm những chữ mới nhằm ghi tiếng Việt. Các học giả thường đặt quá trình hình thành và phát triển chữ Nôm từ khoảng sau thời kỳ Việt Nam giành lại độc lập, và chữ Nôm tiếp tục được sử dụng cho tới tận đầu thế kỷ XX.
Cách người xưa tạo chữ đôi khi thông minh đến mức mình thấy học rồi mới hiểu được.
Ví dụ chữ 𠀧, đọc là “ba”.
Trong đó 巴 có âm Hán-Việt là “ba”, giúp gợi âm đọc; còn 三 mang nghĩa “ba”, giúp gợi nghĩa. Một bên cho bạn biết đọc gần như thế nào, một bên cho biết nó có nghĩa gì.
Hay chữ 𡗶, nghĩa là “trời”, được ghép từ 天 — trời — và 上 — trên. Hai thành phần cùng gợi ý một thứ ở phía trên con người: trời.
Có nghĩa là người Việt không đơn thuần bê nguyên chữ Trung Quốc về sử dụng.
Họ học cách một hệ chữ vận hành, rồi bẻ nó theo nhu cầu của tiếng Việt.
Và từ đó xuất hiện cả một kho tàng văn hóa.
Truyện Kiều của Nguyễn Du được lưu truyền bằng chữ Nôm. Rất nhiều bài thơ nổi tiếng gắn với Hồ Xuân Hương cũng bằng Nôm. Chinh phụ ngâm vốn được Đặng Trần Côn sáng tác bằng Hán văn, nhưng những bản diễn Nôm nổi tiếng về sau lại trở thành một phần quan trọng của văn học Việt Nam.
Nói rộng hơn, trong gần một thiên niên kỷ, một khối lượng rất lớn văn học, tôn giáo, y học và nhiều loại tài liệu của người Việt đã được ghi lại bằng Hán và Nôm. Chính vì vậy chúng ta ngày nay vẫn gọi chung cả một kho di sản là Hán Nôm.
Nhưng chữ Nôm có một vấn đề rất lớn.
Nó khó.
Muốn học Nôm thuận lợi, người học thường phải có nền tảng chữ Hán khá vững, bởi phần lớn cấu trúc của nó dựa vào hình, âm và nghĩa của Hán tự. Trong khi đó, chữ Hán vẫn là ngôn ngữ quan trọng của khoa cử, học thuật và bộ máy nhà nước trong phần lớn thời kỳ quân chủ.
Thành ra có một nghịch lý khá thú vị: người Việt có một hệ chữ có thể ghi được chính tiếng nói của mình, nhưng hệ chữ đó chưa bao giờ trở thành công cụ đọc viết phổ cập cho toàn bộ dân chúng.
Rồi chữ Quốc ngữ xuất hiện.
Và đây cũng là phần mình nghĩ rất nhiều người Việt đang nhớ chưa hoàn toàn chính xác.
Chữ Quốc ngữ không phải đơn giản là “người Pháp sang rồi tạo chữ cho Việt Nam”.
Quá trình Latinh hóa tiếng Việt bắt đầu từ thế kỷ XVII, trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam rất lâu. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên — đặc biệt có những người Bồ Đào Nha, Ý và Pháp — cùng với người Việt bản địa đã tham gia vào quá trình ghi âm và hoàn thiện hệ thống này. Alexandre de Rhodes có vai trò rất quan trọng trong việc hệ thống hóa và xuất bản từ điển Việt–Bồ–La năm 1651, nhưng ông không phải một mình “phát minh ra chữ Quốc ngữ”.
Điều thú vị hơn nữa là ban đầu chữ này chủ yếu phục vụ hoạt động truyền giáo.
Phải mất hàng trăm năm, nó mới đi từ phạm vi Công giáo ra xã hội rộng lớn hơn.
Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa thúc đẩy Quốc ngữ vì những mục tiêu hành chính và giáo dục của họ. Nhưng đồng thời, nhiều trí thức và nhà cải cách Việt Nam cũng nhìn thấy ở nó một công cụ cực kỳ mạnh để truyền bá kiến thức.
Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội tích cực dạy và cổ vũ chữ Quốc ngữ, bên cạnh khoa học, lịch sử, địa lý và những tư tưởng canh tân mới. Những ấn phẩm Quốc ngữ của phong trào cũng góp phần khuyến khích người dân học chữ, đọc báo và tiếp cận tri thức mới.
Và đây là lúc cán cân thực sự thay đổi.
So với việc phải nhớ hàng nghìn chữ Hán và Nôm, một hệ thống chỉ gồm 29 chữ cái, có thể dùng để ghi gần như mọi âm tiết tiếng Việt, rõ ràng dễ phổ cập hơn rất nhiều.
Đến năm 1919, triều Nguyễn tổ chức khoa thi Nho học cấp trung ương cuối cùng ở Huế. Còn khoa thi Hương cuối cùng thực tế đã diễn ra trước đó: Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm 1918.
Một thế giới chữ viết kéo dài hàng thế kỷ dần khép lại.
Nhưng điều làm mình suy nghĩ nhất không phải chuyện chữ nào tốt hơn chữ nào.
Quốc ngữ rõ ràng đã góp phần rất lớn vào việc khiến việc đọc và viết trở nên dễ tiếp cận hơn. Sau đó, giáo dục đại chúng, báo chí, các phong trào xóa mù chữ và đặc biệt những chiến dịch như Bình dân học vụ mới tiếp tục đưa khả năng đọc viết tới hàng triệu người.
Cái giá của sự chuyển đổi ấy lại nằm ở một nơi khác.
Hôm nay, một người Việt có thể đọc một bài báo được viết cách đây vài chục năm mà gần như không gặp trở ngại. Nhưng nếu bước vào một đình làng, một ngôi chùa cổ hay đứng trước tấm bia của chính quê hương mình được viết vài trăm năm trước, phần lớn chúng ta sẽ không biết trên đó đang viết gì.
Ngôn ngữ vẫn còn, nhưng khả năng đọc trực tiếp một phần rất lớn ký ức của tổ tiên thì đã đứt đoạn.
Có lẽ vì vậy mà càng học tiếng Trung ở Đài Loan, mình càng có một cảm giác khá lạ.
Những chữ như:
教育 — giáo dục
經濟 — kinh tế
歷史 — lịch sử
社會 — xã hội
với một người Việt, chúng vừa lạ nhưng lại vừa quen.
Tiếng Việt chứa một lớp từ Hán-Việt rất lớn, đặc biệt trong những lĩnh vực như học thuật, chính trị, triết học, khoa học hay các khái niệm trừu tượng. Con số chính xác bao nhiêu phần trăm còn phụ thuộc vào cách người ta thống kê từ vựng, nên mình nghĩ nói “60% tiếng Việt là tiếng Hán” sẽ đơn giản hóa vấn đề quá mức. Nhưng ảnh hưởng của lớp từ Hán-Việt lên vốn từ của chúng ta là điều rất rõ ràng.
Vì vậy mình không nghĩ người Việt học chữ Hán là “học lại thứ tổ tiên từng có” theo nghĩa đen.
Nhưng có một phần sự thật rất đẹp trong cách nói đó: chúng ta đang tiếp xúc lại với một lớp văn hóa từng nằm rất sâu trong lịch sử ngôn ngữ của chính mình.
Có lần mình vào một ngôi chùa cổ ở Đài Loan và bất ngờ nhận ra vài chữ trên hoành phi. Không phải vì tiếng Trung của mình giỏi đến mức nào, mà vì khi đọc nghĩa của chúng, mình nhận ra rất nhiều khái niệm cũng đã tồn tại trong tiếng Việt từ rất lâu.
Khoảnh khắc đó mình mới hiểu: học một ngôn ngữ đôi khi không chỉ là học cách nói chuyện với một dân tộc khác. Nó cũng có thể là một cách để quay ngược lại và hiểu chính lịch sử của dân tộc mình.
Và mình vẫn luôn thấy hơi tiếc một chuyện.
Có lẽ thế hệ chúng ta là một trong những thế hệ người Việt đọc và viết nhiều nhất trong lịch sử. Nhưng cũng là những thế hệ đứng trước chữ viết của tổ tiên mình… và gần như trở thành người ngoại quốc.
Nếu một ngày đứng trước một tấm hoành phi hay bia đá ở đình làng quê mình, bạn có muốn biết tổ tiên đã viết gì trên đó không?


No comments:

Post a Comment