; }

CHỮ QUỐC NGỮ Ở CUỐI SÔNG THU BỒN

(Trích: Quảng Nôm ngụa chiện)

Nếu mở cuốn Từ điển Việt - Bồ - La xuất bản tại Roma năm 1651, dòng đầu tiên bạn đọc được sẽ là tiếng Việt, nhưng không phải thứ tiếng Việt đã qua chuẩn hóa theo giọng Hà Nội, cũng không phải giọng Huế hay Sài Gòn. Đó là tiếng Việt mang đậm âm sắc Quảng Nam, một vùng đất nơi con chữ lần đầu được dùng để phiên âm lời ăn tiếng nói của người Việt. Từ “chẳng” được viết thành “chảng”, “tôi” viết là “tui”, “tao” thành “tau”, “mày” ghi là “maai”, còn “và” được chép thành “ùa”. Chữ Quốc ngữ, như vậy, đã từng mang giọng Quảng trước khi trở thành hệ thống chữ viết hoàn chỉnh như ngày nay.

Không dừng lại ở đó, trong một văn bản hiếm hoi còn sót lại từ hội nghị các giáo sĩ Dòng Tên tại Macao khoảng giữa thế kỷ 17, người ta tìm thấy câu rửa tội được chấp thuận để sử dụng bằng tiếng Việt: “Tau rữa maai nhân danh Cha ùa Con ùa Spirito Santo.” Chỉ một dòng ngắn nhưng vang lên trọn vẹn âm hưởng của người Quảng, với cách phát âm quen thuộc đối với bất kỳ ai từng lớn lên ở Quảng Nam.
Không cần tìm đâu xa, chữ Quốc ngữ, thứ chữ ngày nay cả dân tộc đang dùng để viết, để học, để yêu nhau qua tin nhắn và cãi nhau trên mạng, đã được thai nghén từ Quảng Nam.
Câu chuyện bắt đầu từ những buổi học lặng lẽ giữa lòng Dinh trấn Thanh Chiêm đầu thế kỷ 17, nơi các giáo sĩ phương Tây cầm bút dùng mẫu tự Latinh ghi lại tiếng nói của người Việt theo cách họ nghe được từ người bản xứ.
Năm 1619, giáo sĩ Francisco de Pina, một tu sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha, đặt chân đến An Nam qua cửa ngõ thương cảng Hội An. Ông đến không phải để buôn bán mà để truyền đạo rồi học tiếng Việt.
Từ Hội An, ông đi ngược lên Thanh Chiêm, khi đó là Dinh trấn Quảng Nam, trung tâm hành chính và quân sự của cả vùng Đàng Trong. Trong thư gửi về cho Dòng Tên, Francisco de Pina viết: “Ở đây, tiếng nói chuẩn hơn, người ta dễ học hơn, không bị pha nhiều giọng.” Thanh Chiêm không phải một đô thị sầm uất theo nghĩa buôn bán mà là vùng đất ven sông có đông quan lại, nho sĩ và dân bản xứ sinh sống bằng nghề canh nông, thủ công.
Môi trường giao tiếp tự nhiên, mạch lạc đã giúp nơi đây trở thành một trong những địa điểm quan trọng trong quá trình tiếng Việt được phiên âm bằng mẫu tự Latinh, đặt nền móng cho sự hình thành chữ Quốc ngữ sau này.
Pina sống giữa người bản xứ, học tiếng của họ, giảng đạo bằng tiếng Việt và bắt đầu thử nghiệm ghi âm tiếng Việt bằng chữ Latinh. Ông mua một căn nhà rộng của người dân Quảng Nam để ở rồi đón học trò bản xứ đến cùng sinh hoạt, vừa học vừa dạy lẫn nhau.
Người Quảng khi đó, có thể là một cậu bé chăn trâu, một ông đồ nho trong làng hay một tín hữu mới rửa tội, đều có thể trở thành những người thầy tiếng Việt đầu tiên của ông.
Người ta không thể biết hết tên tuổi của những người đã dạy tiếng Việt cho Francisco de Pina, chỉ cho ông những tiếng địa phương như “răng”, “rứa”, “hỉ”, “mô”, “tê” và giúp ông hiểu, đọc đúng. Nhưng chắc chắn quanh ông là tiếng nói của cư dân Quảng Nam.
Khi Pina bắt đầu phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latinh, những âm thanh ông nghe hằng ngày cũng đi vào cách ghi chép. Từ đó, một lối ghi tiếng Việt mới dần hình thành giữa vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
Câu chuyện tiếng Việt mang âm sắc Quảng không dừng ở Pina. Alexandre de Rhodes, người sau này có vai trò quan trọng trong việc hệ thống hóa chữ Quốc ngữ, cũng học tiếng Việt tại Thanh Chiêm, từ Pina và những người bản xứ. Sau này, khi ông xuất bản Từ điển Việt Bồ La và Phép giảng tám ngày, nhiều dấu vết ngữ âm của tiếng Việt thế kỷ 17 vẫn được lưu lại trong cách ghi chép.
Những giáo sĩ cùng thời như Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Christoforo Borri cũng học tiếng Việt từ người bản địa và ghi lại theo cách họ nghe được. Có bản đồ ghi “Thanh Chiêm” thành “Cacham”, rồi “Cacciam”, có tài liệu viết “Dinh Cham”, rồi dần thành “Kẻ Chàm”.
Những biến đổi đó phản ánh cả một quá trình người phương Tây nghe, học và tìm cách ghi lại một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ bằng hệ chữ của họ.
Thậm chí khi Đắc Lộ rời Việt Nam, tiếng Việt ông mang theo về châu Âu vẫn còn dấu vết cách phát âm miền Trung. Một số ghi chép đương thời từng nhận xét về cách nói tiếng Việt của ông. Nhưng sách của Đắc Lộ được in tại Roma năm 1651 lại trở thành một trong những cột mốc quan trọng nhất của lịch sử chữ Quốc ngữ. Trong những trang sách đó vẫn còn lưu lại dấu vết của tiếng Việt mà các giáo sĩ từng nghe, học và sử dụng tại Đàng Trong.
Dinh trấn Thanh Chiêm, nơi Pina và Đắc Lộ từng sống, từng viết, từng học tiếng Việt, có thể xem là một trong những trung tâm Việt ngữ sớm nhất dành cho các giáo sĩ phương Tây.
Người bản xứ dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và cùng họ thử nghiệm cách ghi lại tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Trong những lớp học không bảng đen, không giáo án đó, có những thầy đồ Quảng Nam giảng chữ Nôm, có giáo sĩ Bồ Đào Nha tra âm và có thể có cả những đứa trẻ Quảng chạy chơi ngoài sân, vô tình đọc to một tiếng mà người nước ngoài đang loay hoay chưa biết phát âm.
Tôi hình dung lớp học đầu tiên của “trường Quốc ngữ” không nằm trong một ngôi trường đúng nghĩa mà trong căn nhà ngói ba gian, dưới tán cau, bên chiếc phản gỗ ở Thanh Chiêm. Một bên là ông Tây gò lưng chép chữ, một bên là ông đồ già bắt lỗi phát âm. Cạnh đó là thằng nhỏ con nhà dân, ngồi ăn cơm nguội với cá nục kho, vừa nhai vừa nhắc: “Không phải cha, mà là choa!”, rồi kéo dài âm “oa” cho đúng tông Quảng. Cứ rứa mà thành chữ.
Quá trình học và truyền bá chữ Quốc ngữ thời đó cũng không hề dễ dàng. Hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong trải qua nhiều giai đoạn với chính sách khác nhau.
Francisco de Pina từng viết về quan hệ của mình với quan lại tại Quảng Nam. Sự tiếp xúc với nho sĩ và người bản xứ tạo điều kiện để các giáo sĩ học tiếng Việt một cách có hệ thống. Thanh Chiêm dần trở thành nơi tiếng Việt được dạy và học nghiêm túc bằng một phương pháp mới, dùng mẫu tự Latinh để ghi lại âm thanh của tiếng nói.
Chữ Quốc ngữ không ra đời từ một viện hàn lâm. Nó hình thành qua một quá trình tiếp xúc lâu dài giữa người Việt và các nhà truyền giáo phương Tây, từ nhu cầu học tiếng, giảng đạo, giao tiếp và ghi chép. Trong quá trình đó, người bản xứ không chỉ là người được truyền đạo. Họ còn là những người dạy tiếng, sửa cách phát âm và cung cấp vốn từ để các giáo sĩ từng bước tìm ra cách ghi lại tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh.
Không ai trong số những người dân xứ Quảng sống ở thế kỷ 17 nghĩ rằng giọng nói của mình rồi sẽ góp phần làm nên một hệ thống chữ viết mới. Họ không nhận mình là người làm ra chữ, cũng chẳng ký tên vào sách vở nào. Nhưng tiếng nói của họ đã đi vào những con chữ đầu tiên, trước khi chữ Quốc ngữ được cả dân tộc đón nhận và sử dụng.
Chữ Quốc ngữ ra đời không chỉ từ lý trí mà còn từ nghĩa tình, từ những con người đã kiên nhẫn nghe nhau, học nhau, dạy nhau từng tiếng nói. Trong hành trình dài đó có công sức của những giáo sĩ phương Tây, nhưng cũng có tiếng nói và sự góp sức thầm lặng của những người dân bản xứ mà phần lớn tên tuổi của họ không được sử sách lưu lại.
Và ở cuối dòng Thu Bồn, trên một miền đất nghèo khó nhưng thừa chữ nghĩa đã rộng lòng đón nhận cái mới, những con chữ Latinh xa lạ đã tìm được một nơi để ở nhờ. Người Quảng dạy cho chúng cách nói tiếng Việt, cho chúng mang âm thanh của tiếng Việt, rồi một ngày nhìn chúng rời xứ mà đi khắp mọi miền.
Chữ đến ở nhờ, rồi thành người nhà. Và ở lại với tiếng Việt mãi mãi.
Tiểu Vũ 

No comments:

Post a Comment