“Tôi xin hứa với anh em trong quân đội là ngày nào anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào, chẳng may, mà đất nước không còn nữa thì cái nắm xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em binh sĩ,” trong buổi lễ nhậm chức Tổng thống ngày 21/4/1975 ông Trần Văn Hương hứa.
Sinh
năm 1902 tại Vĩnh Long, nhờ học giỏi ông Trần Văn Hương được ra Hà Nội
học trường Cao đẳng Sư phạm, cùng thời với nhà cách mạng Nguyễn Thái
Học.
Sau
khi tốt nghiệp ông về Sài Gòn dạy môn văn chương ở Collège Le Myre De
Villers, thành lập từ năm 1879, trường xưa nhất tại Việt Nam mà năm 1953
được đổi tên thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng.
Tháng
3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, vua Bảo Đại
giao cho Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ, và ông Trần Văn Hương được
làm Đốc Học tỉnh Tây Ninh.
Tháng 8/1945, ông Hương tham gia Việt Minh, làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.
Đến
năm 1946, ông Hương thấy Việt Minh quy chụp cho nhiều trí thức là Việt
gian rồi đem thủ tiêu, ông về quê tuyên bố bất hợp tác, lên Sài Gòn làm
tiệm thuốc Tây.
Năm 1953, ông Hương cùng ông Trần Văn Văn và một số nhân sĩ lập đảng Phục Hưng, và ông Hương được cử làm chủ tịch.
Đấu tranh chính trị
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng xin từ chức sau vài tháng.
Nội
dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Ðình Diệm mở
rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu
được yêu cầu.
Ngày
11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn
Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy
tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
Sau
cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, ông Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm
Đô trưởng Sài Gòn, nhưng chỉ vài tháng ông được Quốc trưởng Phan Khắc
Sửu mời ra làm Thủ tướng.
Ông làm thủ tướng được 84 ngày thì Trung tướng Nguyễn Khánh lật đổ Chính phủ dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế.
Người
con trai đầu của ông Hương tên là Trần Văn Dõi tự là Lưu Vĩnh Châu theo
Việt Minh ra Bắc khi biết ông Hương làm Thủ tướng có viết một lá thư
nhờ ông Ung Văn Khiêm là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Bắc Việt trao cho ông
Hương.
Ông
Hương nhận thư, thảo luận với người con thứ tên là Trần Văn Ðính cả hai
đồng ý chuyện quốc gia phải đặt trên chuyện gia đình, bởi thế ông đã từ
chối không liên lạc với người con ở miền Bắc.
Năm
1967, ông Hương cùng ông Mai Thọ Truyền lập liên danh Người Gieo Mạ ra
tranh cử Tổng thống nhưng chỉ được 10% phiếu cử tri ủng hộ đứng hàng thứ
tư.
Cộng tác với ông Thiệu
Tháng
5/1968, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu mời ông Hương ra làm Thủ tướng
nhưng cũng chỉ được 96 ngày thì ông xin từ chức cũng không cho biết lý
do.
Quyết
định này làm nhiều người ủng hộ ông Hương thất vọng, vì trước đó liên
danh Người Gieo Mạ đã cùng các liên danh thất cử khác họp báo tố cáo có
gian lận bầu cử và yêu cầu Quốc hội Lập hiến hủy bỏ kết quả bầu cử để tổ
chức một cuộc bầu cử khác.
Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế hỏi ông Hương vì sao ông đã nhận lời làm Thủ tướng được ông trả lời như sau:
“…
Lúc đó chỉ có ông Thiệu là có khả năng chống cộng thật sự, lại nữa vụ
Mậu Thân cho thấy Việt cộng đã mạnh lắm rồi, mà Hoà Kỳ thì lại có ý chủ
hòa, ông Johnson thì ép mình phải đi hoà hội Paris… nên cần phải ủng hộ
ông Thiệu.“
Năm 1971, ông Hương đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống.
Ông
Hương rất liêm chính nên những kẻ tham nhũng rất sợ ông, miền Trung bị
lụt ông tới ngay để thăm dân và cứu trợ, trong chiến dịch Hạ Lào khi Hoa
Kỳ thất hứa không trợ giúp không quân cho miền Nam ông họp báo chỉ
trích Mỹ…
Báo
chí đặt cho ông danh hiệu “Cụ Già Gân” còn dân chúng miền Nam trân quý
kêu ông bằng “Cụ Hương” vì là văn viết nên tôi xin phép gọi bằng ông
Hương.
Trong
việc điều hành đất nước ông Hương rất gắn bó với ông Nguyễn văn Thiệu
cho đến khi ông Thiệu từ chức dựa trên Hiến Pháp chính thức trao quyền
Tổng thống cho ông.
Từ chức tổng thống…
Trong
bài diễn văn trước Lưỡng viện Quốc Hội ngày 26/4/1975, Tổng thống Trần
Văn Hương cho biết đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời ông
Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, nhưng ông Minh không chịu mà đòi phải
nhường cho ông Minh chức Tổng thống.
Ông
trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông ấy vì còn có Quốc Hội
và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc Hội biết để mọi người
bàn tính và quyết định.
Ngay
ngày hôm sau Quốc Hội họp, đồng ý sửa lại Hiến Pháp và trao quyền Tổng
thống cho ông Dương Văn Minh để thương thuyết với phía cộng sản.
Sang ngày 28/4/1975, ông Hương chính thức từ chức và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh.
Từ chối di tản…
Ngày
29/4/1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin có đến nhà gặp ông Hương vừa để
từ giã về nước, vừa để gởi lời Chính Phủ Hoa Kỳ mời ông Hương sang Mỹ
lánh nạn, ông trả lời:
“Thưa
Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm, đã đến đỗi như
vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời
tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại sứ, nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết
định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết cộng sản sẽ vào Sài Gòn,
bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là
người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ
với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất
nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.“
Trước đó, Tòa Đại sứ Pháp cũng ngỏ lời sẵn sàng đưa ông rời khỏi Việt Nam để đi Pháp.
Nước mất nhà tan
Theo
Hồi ký của bà Phan Cẩm Anh vào tối ngày 30/4/1975 hai vợ chồng cháu ông
Hương là đại úy Phan Hữu Cương và trung úy Trần Mai Hương (là bạn thân
của bà Phan Cẩm Anh) đã uống thuốc ngủ tuẫn tiết ngay tại nhà ông Hương.
Đại
úy Phan Hữu Cương là cháu ruột kêu ông Hương bằng cậu và cũng là sĩ
quan cận vệ cho ông Hương nên gia đình ở chung với ông Hương.
Họ để lại lời trăn trối: “…xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù…“, người nhà phát hiện nhưng chỉ cứu được người vợ.
Từ chối ‘quyền công dân’
Ngày
28/4/1975 sau khi từ chức tổng thống, ông Hương dọn về ngôi biệt thự
nhỏ và cũ nằm ở cuối con hẻm đường Phan Thanh Giản vách tường của ngôi
nhà đã có nhiều chỗ nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ gạch vỡ tung lên, màu vôi
không được trùng tu sơn quét.
Giáo sư Lâm Vĩnh Thế cho biết sau Hội Nghị Hiệp thương Thống nhất Hai Miền Nam Bắc, chính quyền mới muốn trao trả “quyền công dân” cho ông Hương tại ngôi nhà để tuyên truyền.
Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi một cán bộ cộng sản đọc “chính sách khoan hồng và rộng lượng” của nhà nước đối với những “thành phần” như ông Hương, ông trả lời:
“Tôi
xin phép từ chối, không nhận cái quyền công dân này vì dù gì tôi cũng
là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì
thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại
cải tạo. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi
binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được thả và nhận lại quyền công
dân.“
Những năm tháng cuối đời
Vì
từ chối nhận “quyền công dân” ông Hương không được cấp hộ khẩu, không
có phiếu mua lương thực, và còn bị quản thúc ba năm tại gia.
Ông
Hương phải sống đạm bạc, thiếu thốn, ốm đau và cũng như những người
miền Nam khác để có thể sống qua ngày ông phải bán dần đồ vật trong nhà
từ bộ áo vest cũ đến những đồ kỷ niệm.
Bà
Trần Văn Văn và bạn bè từ Pháp gởi thuốc về giúp ông chữa trị, thuốc
không dùng hết cũng được mang ra chợ trời thêm chút gạo bó rau cho gia
đình.
Bà
Phan Cẩm Anh bạn thân của cháu gái ông Hương có chồng là bác sĩ mới ra
trường, khi biết ông Hương bệnh nặng cần người chăm sóc, ông chồng bác
sĩ đã tình nguyện thường xuyên đến tận nhà để chăm sóc cho ông.
Muốn nằm cạnh anh em binh sĩ
Cựu
tổng thống Trần văn Hương mất ngày 27/1/1982, gia đình nghèo đến độ
không còn tiền mua hòm, người tài xế cũ của ông xin được phúng điếu
chiếc quan tài, người chủ trại hòm ở Chợ Lớn, một người Việt gốc Hoa,
nghe nói mua cho ông Tổng thống xin chỉ lấy nửa giá tiền của chiếc quan
tài.
Ông
Hương có ước nguyện được chôn trong nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để
được nằm bên anh em binh sĩ nhưng không được chính quyền cộng sản chấp
nhận, nên người nhà đã quyết định hỏa táng ông tro cốt được rải trong
khu vực.
Hơn
40 năm qua người Việt quốc gia vẫn trân quý công ơn của ông, ở hải
ngoại nhiều cộng đồng đến ngày ông mất đã cử hành lễ giỗ để tri ân một
người đã một lòng một dạ xây dựng Việt Nam Cộng Hòa.
Ôn lại cuộc đời ông, tôi nhớ lại lời học giả Phạm Quỳnh viết trong bài “Đi tìm một chủ nghĩa Quốc Gia” xuất bản năm 1938:
“Một
người theo chủ nghĩa quốc gia là một người hết lòng gắn bó với đất nước
và nòi giống mình, có một ý thức cao về tình đoàn kết quốc gia và
truyền thống lịch sử; là một người yêu nước, nhưng yêu nước không chỉ
bằng tình cảm mà còn bằng lý trí, một người muốn nâng mức độ yêu nước
của mình lên thành một chủ thuyết đạo đức và chính trị.“
Ông
Hương quả là một mẫu người tiêu biểu theo chủ nghĩa quốc gia, ở miền
Nam có không ít những người như ông, nhưng dường như họ đã thất bại xây
dựng được một chủ thuyết về đạo đức và chính trị chung cho cả nước, để
cuối cùng bị chủ nghĩa cộng sản quốc tế xóa nhòa.
Nay,
ở thế kỷ thứ 21, người Việt lại phải đối đầu với chủ nghĩa (quốc tế)
toàn cầu mà mục tiêu cũng là xóa bỏ văn hóa, đạo lý, truyền thống dân
tộc và xóa nhòa mọi nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội và cả biên giới
của mọi quốc gia.
Nhân
30/04, tôi nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, những
thành công và thất bại của các thế hệ trước, để cùng nhau gìn giữ và
phát triển những điều hay, lẽ phải, đồng thời bảo vệ được bờ cõi ông cha
để lại.
Theo Nguyễn Quang Duy




No comments:
Post a Comment