; }

CHIẾN TRANH NGOẠI LỆ/ TRẬN CHIẾN BÍ MẬT

Chiến Tranh Ngoại Lệ 5

Bản tuyên ngôn Geneva về vấn đề trung-lập hóa Ai-Lao sẽ có hiệu lực kể từ ngày 6 tháng Mười năm 1962. Chánh quyền của tổngthống Kennedy ngưng tất cả mọi hoạt động bí mật, các toán biệt-kích nằm vùng ngoài Bắc được lệnh nằm chờ thời và tạm ngưng tất cả các hoạt động phá hoại.
Sau vụ bắn rớt chiếc máy bay C-123 của hãng hàng không Air America ngày 22 tháng Mười Một. Chiếc máy bay này chở đồ tiếp tế nhân đạo cho dân Lào chứ không có mục đích quân sự nào làm chính quyền Kennedy nổi giận. Cơ quan CIA và phòng 45 được lệnh tiếp tục các hoạt động bí mật tại Bắc Việt-Nam. Toán Toubillon trong tháng Bẩy trước đây đã báo cáo đánh xập một cây cầu.
Đầu tháng Mười Hai, toán được lệnh làm 'cú nữa', một cây cầu khác cách cây cầu trước khoảng mười hai cây số về hướng tây. Ngày 8 tháng Mười Hai, Toubillon báo cáo đã làm xong nhiệm vụ.
Thấy toán Tourbillon thành công, Saigon chuẩn bị toán biệt kích kế tiếp. Toán Lyre có
nhiệm vụ phá hoại và lấy tin tức. Toán Lyre tuyển mộ những người theo đạo công
giáo như hai toán thất bại trước đây Echo và Atlas. Toán Lyre sẽ được thả vào khu vực
gần đèo Ngang. Nơi này gần biển, CIA xử dụng tầu đổ bộ từ biển vào thay vì thả dù như những toán biệt-kích khác. Ngày 29 tháng Mười Hai, lúc đổ bộ, toán biệt kích đã bị một trạm kiểm soát đặt nơi bãi biển phát giác. Năm người trong toán bị bắt ngày hôm sau, hai người còn lại định trốn về hướng nam, cũng bị bắt lại vào cuối tuần.
Toán biệt kích phá hoại đầu tiên trong năm 1963 là toán Tarzan. Gồm năm người, điạ bàn hoạt động trong quận Tuyên-Hoá tỉnh Quảng-Bình. Vùng này toán Echo đã nhẩy
dù xuống cách đó hai năm.Đêm 6 tháng Giêng, các biệt kích quân lên máy bay C-54 do phi công Đài-Loan lái cất cánh từ phi trường Tân-Sơn-Nhất. Chuyến thả biệt kích thành công, ít hôm sau, Tarzan lên máy báo cáo về Saigon.
Ngày 12 tháng Tư, sáu biệt kích sắc tộc Thổ trong toán Pegasus nhẩy dù xuống tỉnh
Lạng-Sơn. Nhiệm vụ của họ phá hoại một trong hai thiết lộ chính chạy từ biên giới Hoa-Việt tới Hà-Nội. Trong Saigon CIA ngồi đợi báo cáo của toán Pegasus, kết quả biệt tăm. Tháng sau, một toán biệt-kích khác nhẩy ra bắc cũng mất tích luôn.
Không đếm xiả đến những toán mất tích. Cơ-quan CIA tổng tấn công, thả ba toán
cùng ngày 4 tháng Sáu. Chiếc C-54 không đủ sức chở ba toán biệt-kích cùng lúc, CIA
phải mượn thêm một chiếc C54 khác từ Đài-Loan xang trong vòng một tháng. Sáng
sớm ngày 5, cả hai chiếc C-54 trở về an toàn sau khi thả ba toán biệt kích ra ngoài miền Bắc. Tuy nhiên chỉ có toán Bell lên máy báo cáo về Saigon, hai toán kia bặt tin.
Ba hôm sau, CIA làm tiếp bản cũ, cho hai toán đi chung một chiếc C-54 thả trong tỉnh Ninh-Bình và Thanh-Hóa. Cả hai đều không liên lạc. Hai hôm sau, hai toán khác lên đường trên một chiếc C-54 nhẩy dù xuống vùng Hà-Tĩnh và Nghệ-An, cũng biến mất luôn.
Cơ quan CIA tìm loại máy bay khác để thay thế chiếc C54 trả lại Đài-Loan. Họ chọn
loại máy bay C-123 đuôi rộng hơn, toán biệt kích cùng thùng tiếp liệu có thể ra khỏi trong vòng vài giây, như vậy đỡ bị phân tán thất lạc. Những chiếc C-123 không phù hiệunày sẽ do phi công Đài-Loan lái đến Tân-Sơn-Nhất ngày 15 tháng Sáu.
Toán kế tiếp gồm tám biệt kích quân Việt-Nam mật hiệu Giant, lên chiếc C-123 vào
buổi tối. Chiếc máy bay cất cánh bay ra biển, hướng về vịnh Bắc Bộ, bay cắt ngang
thành phố Vinh ở ngoài Bắc đến vùng rừng núi nơi hướngtây. Đến mục tiêu, các biệt
kích trong toán Giant nhẩy ra và chiếc máy bay C-123 quay đầu xuôi về nam. Trong
Saigon, cơ quan CIA cố dò tìm làn sóng để nhận điện văn báo cáo của toán Giant nhưng hoài công. Tất cả đều êm lặng. Hai hôm sau, hai toán biệt kích khác đã sẵn sang lên đường. Toán thứ nhất gồm sắc tộc thiểu số mật hiệu Packer, sẽ xâm nhập vùng Yên-Bái. Hy vọng toán Packer sẽ thành công như toán Bell, toán duy nhất gửi điện văn về trong mùa hè. Cũng như toán Bell, Packer gồm năm biệt kích quân có nhiệm vụ phá hoại thiết lộ chạy xuyên qua tỉnh. Trưởng toán Packer là Ngô-
Quốc-Chung người sắc tộc Tày . Toán thứ hai gồm ba người sẽ nhẩy xuống tăng
cường cho toán Europa. Toán này đã nhẩy dù xuống vùng Hoà Bình mười bẩy tháng
trước đây. Lúc đó chiếc phi cơ C-54 đã hết thời gian hoạt động, tuy
nhiên họ muốn bay phi vụ chót. Chở cả hai toán đi thả, chiếc C-54 bay lên Yên-Báitrước. Đến bãi nhẩy, các biệt kích trong toáng Packer nhẩy dù xuống. Chiếc C-54 lượn vòng cung bay đi Hoà Bình, viên phi công bay thấp tránh mây và biến mất trước khi đến bãi thả toán biệt kích thứ hai. Toán Packer xuống tới đất cũng mất liên lạc với Saigon. Mất tích quá nhiều, Saigon chuẩn bị thêm một toán chót ra ngoài Bắc. Toán Dragon gồm toàn người sắc tộc Nùng, sẽ được đổ bộ bằng xuồng vào tỉnh Quảng Ninh, gần biêngiới Hoa-Việt. Đúng vào lúc thời tiết xấu, họ ra đi năm lần cùng ngày 15 tháng Bảy, bẩy người trong toán Dragon, bơi xuồng cao-su xâm nhập hải phận Bắc Việt. Từ đó họ biệt tăm.
Tính luôn toán Dragon, CIA đã thả ra ngoài bắc mười ba toán biệt-kích trong vòng bẩytháng. Đến tháng bẩy, chỉ có một toán báo cáo về Saigon., các toán còn lại coi như đã bị bắt. Ngày 9 tháng Bảy Hà-Nội loan tin xử toán biệt kích Pegasus, và thêm năm phiên toà xử biệt kích khác trong vòng ba tháng tới.
Rõ ràng là CIA đã thất bại xuống biệt kích trong việc thả các toán biệt kích ra miền Bắc. Một trong những lý do, bãi thả dù chọn không đúng. Nhiều toán nhẩy xuống quá gần nơi làng mạc và bị phát giác nhanh chóng. Thí dụ toán Tellus nhẩy xuống tỉnh Ninh-Bình ngày 8 tháng Sáu, bị phát hiện khi đang nhẩy dù xuống, cả bốn biệt kích trong toán bị bắt trong vòng hai mươi lăm phút. Toán Packer xui hơn, nhẩy
đúng vào giữa làng, nhân viên truyền tin rơi trúng nóc nhà dân làng. Tháng Mười Hai 1962, Hà-Nội xử dụng toán Europa làm mồi nhử trong lúc phối trí bốn ổ súng phòng không 14.7 ly trong khu vực đồi núi tỉnh HòaBình. Đêm 10 tháng Tám, phicông Đài-Loan lái C-123 bay đi thả tiếp tế cho toán Europa. Trên mục tiêu, từ xa viên phi công trông thấy đèn thắp sáng theo hình chữ 'T'. Bỗng dưng đạn phòng không từ dưới đất bắn lên trúng nhiều chỗ trên thân phi cơ, nhưng viên phi công vẫn lái về an toàn. Về đến Saigon, vẫn còn sợ, viênphi công Đài-Loan xin nghỉ, chê tiền Đô-la Hoa Kỳ và dông thẳng một mạch về Đài Loan. Phi hành đoàn người Tầu cũng sợ, họ từ chối bay tiếp tế cho toán Europa trong tỉnh Hòa Bình.
Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2001.
Bạch-Hổ
--------------------------------------------------------------------------
Chiến Tranh Ngoại Lệ 6
(Bài 6)
Ngày 20 tháng Mười Một 1963, những nhân vật quan trong trong chính quyền Hoa-Kỳ, Những người sẽ quyết định phương thức chiến đấu trên chiến trường Việt-Nam. Tổng thống Diệm đã bị giết, bây giờ phải xắp xếp lại công việc. Người ngồi ghế chủ toạ là bộ-trưởng quốc phòng Robert S. McNamara, bên phải là đôđốc Felt tư-lệnh tất cả các đơn vị Hoa-Kỳ trong vùng TháiBình-Dương (CINCPAC). Ngồi đối diện với McNamara
là ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Dean Rusk, phụ-tá là George Ball, cố vấn an-ninh quốc-gia
McGeorge Bundy, trùm cơ quan CIA John McCone. Thêm hai người đến từ Saigon
là đại-sứ Henry Cabot Lodge và tướng Paul Harkins tư lệnh cơ quan MACV (Bộ Tư-Lệnh Quân Viện Việt-Nam). Họ quyết định chuyển giao những hoạt động của cơ quan
CIA cho quân-đội. Chuyện bàn giao này có mật hiệu là kế hoạch Trở-Lại (Switch
Back).
Từ năm 1957, cơ quan CIAvà Ngũ-Giác-Ðài (bộ TổngTham-Mưu QLHK) đã phối
hợp làm việc. Những quân nhân mũ-xanh (LLÐB/HK) đã đến cố vấn cho liên-đoàn
Quan-Sát số 1. Năm 1961, LLÐB/HK gia tăng cộng tác với cơ quan CIA. Năm đó CIA
mở trung tâm huấn luyện ởThủ-Ðức và ở Hòa Cầm gầnÐà-Nẵng. Thủ-Ðức chứa bốn
đại-đội Biệt-Kích Nhẩy-Dù, dự trù cho những chuyến xâm nhập qua Lào. Hòa Cầm huấn luyện dò-thám biên-giới, đường mòn. Cơ-quan CIA tài trợ tiền bạc, quân Mũ-Xanh tổ chức việc huấn luyện cho cả hai nơi.
Ðầu năm sau, CIA bắt đầu tổ chức lực-lượng Dân-SựChiến-Ðấu (CIDG), tuyển mộ
dân thiểu số thành những đại đội võ trang chống lại quân Việt-Cộng. CIA xữ dụng quân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ huấn luyện và sống với dân tộc thiểu số.
Sở Khai-Thác Ðiạ-Hình PhủTổng-Thống cũng gửi ngườiqua giúp đỡ. Ðến tháng Bẩy
cơ quan CIA đồng ý bàn giao chương trình CIDG cho quân đội. Chuyện này bắt đầu cho kế hoạch Trở Lại và sẽ hoàn tất trong vòng một năm.
Những hoạt-động ngoài bắc, kế-hoạch 34-63 là chuyện khác. Tháng Giêng năm 1963,
hải-quân Hoa-Kỳ đã gửi toán biệt-hải (SEAL) qua huấn luyện về hành-quân biệt-hải ngoài Ðà-Nẵng. Hai tháng sau toán biệt-kích Mũ-Xanh từ Okinawa đến huấn luyện
trong căn cứ mới của CIA ở Long-Thành cách Saigon chừng hai mươi hai cây số về
hướng tây. Căn cứ này thaythế cho căn cứ ở Thủ-Ðức được đặt tên là trại Quyết
Thắng.
Trước khi lập căn cứ ở Long-Thành, tất cả những biệt kích ra bắc đều do mấy tay Xiạ
(CIA) huấn luyện trong những nhà an-toàn rải rác trong Saigon. Trên lý thuyết, điều
này tốt trên phương diện bảo mật, mỗi toán đều ở riêng biệt. Căn cứ rộng lớn trên
Long-Thành thực tế hơn cho những buổi huấn luyện phá hoại, xử dụng vũ-kích, mìn.
Toán Mũ-Xanh đầu tiên đến căn cứ Long-Thành là toán A-413 do đại-úy Clinton
Hayes làm trưởng toán. Họ huấn luyện cả điệp viên lẫn biệt-kích-dù. Tháng Mười
toán A-413 được thay thế bởi toán A-211 đến từ Okinawa, trưởng toán là đại-úy
Lawrence White. Trong Saigon, dựa theo kế hoạch Trở Lại, ngày 1 tháng Tư năm 1963, Sở Khai-Thác Ðiạ-Hình đổi tên thành Lực-Lượng Ðặc-Biệt, một binh chủng trong QL/VNCH.
Sau nhiều biến cố xẩy ra vào cuối năm 1963, cả hai vị tổng thống VNCH và Hoa-Kỳđều bị giết. Ðầu năm 1964, các hoạt động ngoài bắc nằm trong kế hoạch 34A. Ngày 3 tháng Hai, tướng Nguyễn-Khánh được tường trình về kế-hoạch 34A, ông ta có vẻ hài lòng và hứa sẽ yểm trợ.
Kế hoạch 34A vẫn được tiếp tục soạn thảo mặc dầu tình hình chính trị rối ren trong
Saigon. Ngày 24 tháng Giêng, Hoa-Kỳ thành lập đoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt (SOG) và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của vị Tổng Tham Mưu Trưởng QLHK và cơ quan
MACV. Trên giấy tờ, đơn vị SOG xử dụng kỹ thuật chiến tranh ngoại-lệ 'phá-hoại, quấy rối và làm suy giảm nền kinh tế' chế độ cầm quyền miền Bắc. SOG tổ chức xâm nhập bắt tù-binh, phá hoại, tuyên truyền, lấy tin tức tình báo, và phản gián.
Chương trình hoạt động của SOG chia ra làm bốn loại. Loại 1 là những trận đột kích
bất ngờ. Loại 2 đột kích phá hoại những căn cứ, nhà máy quân, dân sự. Loại 3 tổ chức
những cuộc hành quân cấp đại-đội, tiểu đoàn vào lãnh thổ miền bắc, phá hoại những
căn cứ, cơ-xưởng, nhà máy lớn ngoài bắc. Loại 4, có thể xử dụng không lực đánh phá
làm suy-xụp nền kinh-tế miền bắc.
Dựa theo nhiệm-vụ cho phép, SOG tiến hành giai đoạn 1 từ tháng Hai cho đến
tháng Năm 1964. Tất cả ba mươi ba mục tiêu trong đó 22 trận đột kích phá hoại. Vị chỉ
huy trưởng đầu tiên đơn vị SOG là đại tá Clyde R. Russell, cựu trung đoàn trưởng trong sư đoàn 82 nhẩy dù, cựu liên-đoàn trưởng LLÐB. CIA đã bàn giao cho SOG những gì họ xây dựng từ những năm trước, kể cả các tầu Swift, PTF các toán biệt hải cùng thủy thủ đoàn. Hành quân nhẩy dù, CIA bàn giao lại mấy chiếc C-123 cùng phi hành đoàn Ðài-Loan. Họ cũng bàn giao luôn căn cứ Long-Thành cho SOG.
Ðơn vị SOG tiếp tục các hoạt động ngoài bắc. Ngày 23 tháng Tư, C-123 chở toán biệt
kích ba người ra tăng cường cho toán Remus. Phi cơ bay tới điểm hẹn, những ngọn đồi
gần khu vực Ðiện-Biên-Phủ. Phi hành đoàn trông thấy đèn hiệu từ dưới đất, bật đèn xanh cho các quân nhân biệt-kích nhẩy dù ra. Sau đó Remus báo cáo những toán viên mới đã xuống an toàn. Cú đầu tiên của SOG thành công.
Hai hôm sau SOG chuẩn bị cho chuyến thứ hai. Toán biệt kích Attila gồm sáu quân nhân Việt-Nam nhẩy dù xuống phiá nam tỉnh Nghệ-An. Lần này SOG không nhận được báocáo, coi như mất tích. Ðến cuối mùa hè SOG đã thả thêm tám toán biệt kích ra miền bắc. Ba chuyến ra tăng cường cho các toán nằm vùng từ trước đều nhận được công điện báo cáo. Năm toán khác nhẩy dù xuống mục tiêu mới, chỉ có một toán lên máy báo cáo về Saigon.
Trong khi đó Washington theo dõi sát các hoạt động của đơn vị SOG. Nhiều vấn đề
được nêu lên, các toán nằm vùng ngoài bắc, nhiều toán thiếu đồ tiếp liệu, thực phẩm.
Toán Bell hoạt động trong tỉnh Yên-Bái đã hơn một năm không được tái tiếp tế. Trước
khi nhận được tiếp tế trong tháng Bảy, hiệu thính viên toán Bell báo cáo ba toán
viên đã chết vì đói.
Một vấn đề khác trong vấn đề lãnh đạo chỉ huy. Theo điện văn ngày 19 tháng
Giêng, kế hoạch 34A (miền bắc) có hai chủ, vị đại-sứ tại Saigon và tư-lệnh cơ quan
MACV. Thêm vào nữa, SOG chỉ nhận lệnh từ cơ quan Phản-Gián và các Dịch-Vụ
Ðặc Biệt (SACSA) ở Washington. Tóm tắt đơn vị SOG phải xin phép cho mỗi sứ
mạng, điều này phức tạp. Tối thiểu, đại tá Russell, trùm SOG phải gửi chương trình
hoạt động lên vị tư-lệnh TháiBình-Dương, thông báo vị tổng-tham-mưu trưởng và
được sự chấp thuận của đại-sứ Hoa-Kỳ tối thiểu 24 tiếng đồng hồ trước khi thi hành.
Nhiều sứ-mạng phải được sự chấp thuận của tổng thống Hoa-Kỳ Johnson. Tất cả mọi
viên chức cao cấp đều có quyền gạch bỏ những sứ mạng do SOG vạch ra mà không
nêu lý do.
Còn nhiều vấn đề khác trong nội bộ. SOG than phiền các phi công của hãng Air
America không hợp tác. Cácphi công Ðài-Loan từ chối bay tiếp tế cho toán Europa sau vố bị phòng không bắn. Sau khi SOG ra lệnh phải tiếp tục tái tiếp tế cho Europa, họ báo cáo bệnh. Vấn đề chọn bãi thả dù cũng tùm lum. Toán Attila trong tháng Tư nhẩy dù xuống tỉnh Nghệ-An, toán sau Lotus dự trù nhẩy xa về phiá bắc, lại nhẩy xuống cùng tỉnh. Toán Scorpion thả xuống cùng nơi với những toán khác bell, Packer, Buffalo, toán khác nhẩy vào cùng mục tiêu với toán Ruby.
Ðến tháng Tám, trong căn cứ Long Thành có mười sáu toán, từ một đến mười lăm
người trong mỗi toán. SởKhai-Thác Ðiạ-Hình cung cấp nhân lực tuyển mộ từ các đơn
vị trong QL/VNCH làm cho các toán biệt kích mạnh thêm. SOG nhận được một trong sáu chiếc phi-cơ C-123 biến cải, bẩy phi hành đoàn Tầu và baViệt-Nam. Ðặt tên là phiđoàn số 1 trực thuộc đơn vị SOG dời ra Nha-Trang.
Ngày 14 tháng Mười Một, C-123 bay ra bắc thả biệt kích tăng cường cho toán Bell
trong tỉnh Yên-Bái thành công. Phi hành đoàn Việt-Nam tên Cò-Trắng chuẩn bị
phi vụ đặc biệt thả biệt kích xuống phá cầu Cam nơi phiá bắc thành phố Vinh. Cây cầu
quan trọng này dùng cho cả thiết lộ, nếu bị xập sẽ ngăn cản lưu thông, tiếp vận của
địch. Sau khi phá xập cầu, toán biệt-kích sẽ dùng xuồng bơi ra biển và sẽ được biệt hải
đợi sẵn, đưa về miền nam.
Sứ mạng này phức tạp hơn những chuyến trước đây. SOG tổ chức toán biệt kích Centaur gồm ba mươi ba người (gấp ba lần những toán trước đây).
Chương trình huấn luyện cho Centaur bắt đầu từ ngày 26 tháng Bảy. Ba tháng sau, SOG sửa lại mục tiêu, tấn công dàn radar nơi bờ biển thay vì cầu Cam. Theo kế hoạch, tầu Nasty chở biệt hải ra bắc, họ sẽ dùng xuồng cao-su bơi vào bờ thám thính. Sau đó ra hiệu cho C-123 Việt-Nam chở toán Centaur nhẩy dù xuống tấn công đài radar. Xong nhiệm vụ tất cả rút lui bằng xuồng ra tầu Nasty. Ngày N sẽ là ngày 22 tháng Mười Hai.
Ðể thực tập trận đột kích, ngày 10 tháng Mười Hai, hai chiếc Nasty chở biệt hải ra
đậu ngoài khơi. Toán biệt hải bơi xuồng vào bờ, đợi ra hiệu cho C-123 chở biệt kích.
Trong phi trường Ðà-Nẵng, toán Centaur hai mươi tám người lên máy bay C-123 do
phi công Hồ-Văn-Kiệt lái. Cách phi trường chừng mười cây số, phi cơ gặp mây che
phủ, đâm vào núi. Không một ai sống sót.
Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy,
Dale Andradé, United Press, 2000.
15/03/2001
Bạch-Hổ
--------------------------------------------------------------------------
Chiến Tranh Ngoại Lệ 7
(Bài 7)
Không phải chỉ riêng những toán biệt kích nhẩy dù ra miền bắc thất bại. Những trận tấn công trên biển do biệt hải đảm trách cũng làm cho đơn vị SOG mất mặt. Từ
tháng Sáu 1962 đến tháng Giêng 1964, biệt hải tổ chức bốn trận đột kích , một trận duy nhất thành công không bị thiệt hại về phiá ta.
Trưa ngày 15 tháng Hai, bốn người nhái trong toán Neptune, kiểm lại hành trang và lên chiếc Swift. Chiếc tầu hướng ra miền bắc, họ chạy cách xa bờ biển để tránh radar. Một tiếng đồng trước nửa đêm, thuyền trưởng người Na-Uy cho tầu chạy vào
gần bờ. Toán người nhái âm thầm làm việc trong màn đêm. Một người trong toán là Vu õÐức-Gương, người bắc công giáo di cư vào nam năm 1954. Gương là một trong những người nhái đầu tiên do CIA huấn luyện. Anh cũng có mặt trong tháng Mười Hai 1963 khi một chiếc Swift bị tầu Swatow Bắc Việt bắn chìm.
Toán người nhái cùng ba thủy thủ đoàn dùng xuồng cao-su bơi vào bờ. Nhiệm vụ của họ cũng như toán Vulcan trước đây. Xuồng đến cửa sông Gianh, toán người nhái sẽ bơi vào đặt mìn phá hoại, rồi bơi trở về xuồng. Sau đó chạy ra chiếc Swift tẩu thoát về miền nam. Một thủy thủ trực máy liên lạc với chiếc Swift đậu ngoài khơi đề phòng chuyện khẩn cấp.
Chuyện không may xẩy ra, bỗng nhiên gió thổi mạnh tạo nên những ngọn sóng gây khó khăn cho chiếc xuồng cao-su. Khi toán người nhái đang xuống nước, một ngọn sóng lật úp xuồng, máy móc, đồ trang bị rớt xuống biển kể cả mìn để gắn vào mấy chiếc Swatow.
Khi toán cảm tử quân lật được chiếc xuồng trở lại, đông cơ cùng máy truyền tin bị nước vào hết hoạt động. Không thể gọi chiếc Swift vào cứu, họ chèo xuồng bằng bơi chèo trong đêm tối tìm đường trở lại chiếc Swift. Ðến gần sáng, chiếc Swift đợi
quá lâu, chạy vào tìm, may gặp được chiếc xuồng cao-su, lôi tất cả lên tầu, cứu thoát toán người nhái cùng ba thủy thủ đoàn.
Ban Cố-Vấn Hải-Quân (SOGlàm việc ngoài Ðà-Nẵng) phải đợi đến đêm không trăng tháng sau mới tổ chức lại 'cú khác'. Chiều ngày 11 tháng Ba, toán Neptune trở lại cửa sông Gianh trên chiếc Swift. Toán trưởng là Nguyễn-Văn-Nhu, Vũ-Ðức-Gương, hai người nhái khác là Phạm-Văn-Lý, Vũ-Văn-Giỏi. Công việc trở nên thường xuyên, chiếc Swift đậu ngoài khơi, xuồng cao-su đưa bốn người nhái đến cửa sông Gianh
rồi đợi họ bơi trở về.
Mặc quần áo lặn, đi chân vịt, toán người nhái chia làm hai tổ bơi vào. Hai tổ sẽ gặp nhau trong bến đậu mấy chiếc Swatow. Vào đến nơi, Gương và Lý ngoi đầu lên quan sát, không thấy chiếc Swatow nào hết, cũng không thấy hai người trong tổ kia (Nhu, Giỏi). Nhớ lại lúc họp hành quân, Gương và Lý bơi đến bến đậu thứ hai. Họ phải bơi
ngược giòng, Gương để ý bọn chàng không đủ Oxy để bơi trở lại xuồng cao-su.
Gương ra dấu cho Lý lội lên bờ, cả hai tháo bình dưỡng khí, chân vịt ra dấu vào bãi xậy để dễ hành động. Bỗng dưng, cótiếng hô to 'Ðứng lại', tiếp theo là ánh đèn soi khắp nơi rồi tiếng súng nổ vang. Cả hai liền quay trở lại nơi dấu đồ nhái.
Trên chiếc xuồng cao su, mấy thủy thủ ngồi chờ cho đến lúc rạng động. Không còn cách nào hơn, họ phải quay trở lại chiếc Swift, thiếu bốn người nhái.
Tin tổn thất về đến Ðà-Nẵng. Lần này toán Cố-Vấn Hải-Quân phác hoạ chương trình đánh phá mấy cây cầu dọc theo bờ biển miền bắc. Toán biệt hải xử dụng lấy ra từ toán biệt kích Cancer toàn người sắc tộc Nùng. Họ ngồi trên xuồng cao su bên hông
chiếc Swift hướng về huyện Kỳ-Anh tỉnh Hà-Tĩnh. Khi chiếc xuồng cao su vào đến gần bờ, hai người ở lại ngoài biển. Vòng A-Cầu, Châu-Hềnh-Xương bước lên trên cát. Một toán tuần tiễu đi ngang qua, Xương chiếu đèn hiệu ra chỗ xuồng cao su báo nguy, sau đó cùng với Cầu chạy lủi vào một bụi rậm, hy vọng toán tuần tiễu đi qua, họ sẽ
cho xuồng vào vớt.
Ðiều không dễ như tiên đoán, toán tuần tiễu Bắc Việt trông thấy dấu chân in trên cát và tức khắc mở cuộc săn đuổi. Thấy bị động, chiếc xuồng cao-su chạy ra chiếc Swift, và quay trở lạiÐà Nẵng thiếu hai người nhái là Vòng-A-Cầu, Châu-Hềnh-Xương.
Hai hôm sau, NAD (ban Cố-Vấn Hải Quân) tổ chức chuyến khác, phá cầu trong tỉnh Quảng-Bình. Với kế hoạch cũ, chín người bơi xuồng cao-su vào gần bờ, thả toán người nhái, hai người trong nhóm đi nhằm vào đám dân đánh cá đêm. Thêm lần nữa chiếc Swift trở lại Ðà-Nẵng thiếu hai người nhái.
Ngày 1 tháng Tư năm 1964, lực-lượng Phòng-Vệ Duyên-Hải được chính thức thành lập ngoàiÐà-Nẵng dưới quyền thiếu-táNgô-Thế-Linh. Ðơn vị mới này tuyển mộ, huấn luyện thêm, nhiều toán lên tới ba mươi người. Không như CIA, SOG có thể tuyển mộ từ trong QL/VNCH. Toán Romulus gồm những quân nhân từ binh chủng TQLC/VN. Toán Nimbus tuyểntừ BÐQ và Nhẩy Dù. Hai toán khác từ HQ/VN toán Vega lấy từ
đơn vị hải-thuyền, toán Athena lấy từ chiến hạm.
Tấn công lên bờ khó thành công, NAD thảo chương trình khác mật danh Loki, bắt cóc ngư dân ngoài miền bắc đem đến cù-lao Chàm ngoài khơi Ðà Nẵng cho mặt trận Gươm-Thiêng Ái-Quốc tuyên truyền.
Sau khi nhận tầu Nasty, các trận tấn công đột kích lên bờ dễ thành công hơn. Hai mươi sáu biệt hải trên ba chiếc xuồng cao su tràn lên bờ bắn phá trong vòng mười phút rồi rút lui. Chuyến kế tiếp SOG soạn thảo kế hoạch đánh phá cầu trên quốc lộ 1 trong tỉnh Thanh-Hóa, xa hơn những mục tiêu thực hiện trước đây.
Ðêm 26 tháng Sáu, đơn vị biệt hải ra tay. Bẩy quân nhân làm nhiệm vụ phá cầu. Hai mươi hai người khác làm thành phần an ninh. Trận này họ giết hai địch quân gác cầu, hạ thêm bốn tên địch khác trong toán tuần tiễu. Thanh toán xong mục tiêu tất cả
rút ra xuồng cao su và chạy về chiếc Nasty đang đợi. Sau trận đột kích thành công,
tưởng 'dễ ăn', NAD tổ chức tấn công qui-mô hơn, xử dụng hai chiếc Nasty, một chiếc chở biệthải, chiếc thứ hai hộ tống. Mục tiêu cho trận đột kích này là nhàmáy bơm nơi phiá bắc ÐồngHới. Ðêm 30 tháng Sáu, hai chiếc Nasty xâm nhập hải phậnÐồng-Hới PTF5, và 6 đợi ngoài khơi trong khi ba mươi biệt hải xuống xuồng cao su vào tấn
công.
Bị hai vố trong vòng hai tuần, lần này miền Bắc đã chuẩn bị. Khi toán biệt hải lên tới bờ, họ được chào đón bằng đủ loại súng. Ngoài khơi, chìếc PTF-5 chạy vào bắn yểm trợ cho toán biệt hải rút lui, kẹt lại hai người. Ngày 15 tháng Bẩy, biệt hải tấn
công nơi cửa sông Ron, để lại thêm hai người. Miền Bắc kháng cự quyết liệt, cơ quan
MACV nhận được tin tình báo, mười chiếc Swatow trên đườngvào Ðồng-Hới, bốn chiếc khác đã đến sông Gianh.
Theo tài liệu 'How American Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy,
Dale Andradé, United Press, 2000
Bạch-Hổ
--------------------------------------------------------------------------
Chiến Tranh Ngoại Lệ 8
(Bài 😎
Ngày 20 tháng Giêng năm 1965, dưới ánh trăng một chiếc C-123 mầu xám không phù hiệu cắt ngang không phận phía tây tỉnh Lai Châu. Bay vòng trên bầu trời nơi hướng bắc long chảo Ðiện-Biên-Phủ, phi hành đoàn Ðài Loan trông thấy lửa đốt sáng trong khu rừng ở dưới đất đúng theo hình dáng trong mật hiệu. Toán biệt kích bốn người nhẩy ra khỏi phi cơ, chiếc C-123 bay qua Lào rồi hướng về nam.
Những quân nhân biệt kích vừa nhẩy xuống vùng Lai Châu là toán đầu tiên đơn vị
SOG thả xuống trong năm 1965 tăng cường cho toán Remus đã nằm vùng trước đó
Tình hình biến đổi, toán Remus nhận được lệnh đổi sang công tác phá hoại. Toán
Remus trước đây chỉ được huấn luyện lấy tin tình báo, cũng như không đem theo 'đồ
nghề' để 'làm chuyện phá hoại' do đó SOG thả xuống tăng cường cho Remus hai 'sư phụ' ngày 10 tháng Tám năm 1963. Cả hai tay tổ đều thuộc sắc tộc Tày nên dễ làm việc với Remus, duy trì đặc tính của toán biệt kích. Ba tháng sau, toán báo cáo đã rải mìn con đường chính hướng tâynam Ðiện-Biên-Phủ chạy qua đất Lào.
Sau khi CIA bàn giao các toán biệt kích cho đơn vị SOG trong tháng Giêng năm 1964,
phá-hoại là nỗ lực chính trong kế hoạch 34A. Ngày 23 tháng Tư, SOG thả thêm ba biệt kích sắc tộc Mường xuống tăng cường cho Remus. Trong tháng Tám, Remus báo cáo
phá xập thêm hai cầu nữa nơi phiá bắc thung lũng ÐiệnBiên-Phủ. Ðơn vị SOG thả
thêm bốn biệt kích sắc tộc Mường khác cho Remus.
Trong tháng Giêng 1965, SOG dự trù thả thêm chín biệt kích quân Việt-Nam xuống
tăng cường cho Remus. Nhóm này đem theo hỏa tiễn 4.5 inch nhỏ mới chế tạo đem qua chiến trường Việt-Nam. Toán Remus được lệnh dùng loại vũ khí mới này bắn vào phi đạo trong Ðiện-Biên-Phủ. Phi đạo này không quân Bắc Việt xử dụng như một căn cứ tiền phương. Ngày 20 tháng Giêng bốn biệt-kích quân Việt Nam nhẩy dù xuống nhập vào Remus, năm người khác cáo bệnh không đi. Công điện báo cáo về cho biết, một biệt kích quân bị gẫy chân lúc xuống đất, một bị ngã vỡ sọ chết.
Vài tháng sau, đơn vị SOG có vị chỉ huy trưởng mới, một huyền thoại trong ngànhLLÐB, đại tá Donald D. Blackburn. Trong năm 1965, không lực Hoa-Kỳ oanh tạc Bắc Việt với chiến dịch Rolling Thunder. Quân Lực Hoa-Kỳ yêu cầu oanh kích
đường mòn Hồ Chí Minh ngăn chặn đường tiếp vận chuyển quân của Bắc Việt vào chiếntrường miền nam. Ðể chỉ điểm cho các trận oanh kích, cơ quan MACV ra lệnh tổ
chức các toán biệt kích do Mũ-Xanh Hoa-Kỳ làm toán trưởng xâm nhập, dò thám hệ
thống đường mòn Hồ Chí Minh.
Kết quả cho thời gian còn lại của năm 1965, SOG tuyển thêm quân Mũ-Xanh và huấn
luyện họ chung với biệt kích quân Việt-Nam trong căn cứ Long Thành. Các cuộc hành
quân dò thám đường mòn trên đất Lào có tên là ShiningBrass. Ðơn vị SOG tiếp tục
tuyển mộ thêm tình nguyện trong QL/VNCH. Toán Romeo gồm năm quân nhân
lấy từ sư đoàn 2 bộ binh và năm dân sự. Toán mười người Romeo đã được huấn luyện
hơn một năm, có nhiệm vụ dò thám đường 103 chạy dọc theo vùng phi quân sự rồi đổ
vào hệ thống đường mòn HồChí-Minh.
Trong khi toán Romeo chuyẩn bị, SOG tìm phương tiện khác để thả toán biệt kích. Các phi công Ðài-Loan bay C-123 không phải là 'hạng nhất'. Nhờ trực thăng Air America cũng không nên, SOG là đơn vị thuần tuý quân sự chứ không phải CIA. Cuối
cùng họ xử dụng các phi cơ trực thăng H-34 của phi đoàn 219 (King Bee) VNCH. Mấy
tay phi công trong phi đoàn 219 có nhiều kinh nghiệm thả biệt kích và rất liều mạng làm người Hoa-Kỳ phải thán phục.
Bốn chiếc H-34 không phù hiệu được biệt phái ra Nha Trang trong tháng Mười 1965.
Nhiệm vụ bay cho hành quân Shining Brass, các phi công Việt Nam chứng tỏ khả năng
tài ba của mình. Trong nhiệm thả, thâu hồi các toán biệt kích Việt-Mỹ, các phi công
Việt-Nam được người Hoa-Kỳ công nhận là 'siêu' (superb). Cũng vì vậy SOG quyết định dùng H-34 đưa toán Romeo xâm nhập.
Sáng 19 tháng Mười Một, mười biệt kích trong kế hoạch 34A được đưa tới Khe-Sanh.
Lúc đó chưa nổi tiếng chỉ làmột căn cứ LLÐB nhỏ cách biên giới Lào-Việt sáu cây số, và cách vùng phi quân sự bốn mươi cây số. Ba giờ chiều toán Romeo lên ba chiếc trực
thăng H-34 và phát xuất từ Khe-Sanh. Chiếc bay đầu có ba biệt kích quân, sĩ quan
SOG, hai xạ thủ đại liên và một phi công phụ người Hoa-Kỳ. Người ngồi ghế phi công
trưởng là đại-úy Nguyễn-Phi-Hùng biệt danh 'Moustachio'. Phần còn lại của Romeo chia đều trên hai trực thăng H-34 khác. Ðại-úy Hùng bay đầu dẫn đoàn trực thăng bay về hướng bắc lẫn vào trong mây. Băng qua vùng phi quân sự, đến mục tiêu ông ta đáp thẳng xuống bãi đáp, ba biệt kích quân nhẩy ra. Hai chiếc kia xuống theo thả toán biệt kích Romeo rồi bốc lên cao bay về hướng nam. Chuyến thả biệt kích thành công.
Ðầu năm 1966, đơn vị SOG tin rằng mình có chín toán biệt kích nằm vùng nơi miền bắc, tổng cộng bẩy mươi tám người. Hai toán mới nhất Romeo thả tháng Mười Hai
1965 và toán Kern chín ngưòi nhẩy dù xuống gần đèo Mụ-Già trong tháng Ba 1966 và
đã liên lạc sau khi xâm nhập. Hai toán này có nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo theo
lệnh vị tư-lệnh lực-lượng Hoa-Kỳ vùng Thái-Bình-Dương(CINPAC). Ông ta tin rằng
Hà-Nội đang sửa lại những con đường dùng để chuyển quân, đồ tiếp vận vào miền
nam. Kết quả các toán biệt kích phải đếm số xe vận tải Molotova của địch di chuyển
trên đường. SOG nhìn nhận, lệnh-lạc cho các toán biệt kích đôi khi mơ-hồ không rõ
ràng.
Ðơn vị SOG cũng đã nhận thêm loại máy truyền tin mới Delco 5300 thay cho loại máy
cũ cồng kềnh RS-1 phải quay tay, máy Delco 5300 cũng có thể truyền tín hiệu Morse.
Phiá địch quân, Hà Nội tiếp tục gia tăng hệ thống phòng không làm cho các phi công Ðài-Loan 'lạnh cẳng' những lần bay thả đồ tiếp liệu. Lúc đó hai toán cần phải được tiếp tế, điệp viên Ares xâm nhập năm 1961 và toán Eagle sáu người nhẩy dù xuống phiá tây tình Quảng-Ninh tháng Sáu năm 1964. Hai toán này nằm gần thành-phố Hải-Phòng nơi có hỏa lực phòng không rất mạnh. Trong tháng hai 1965, SOG đưa ra kế hoạch thả tiếp tế cho toán Eagle, rồi Eagle sẽ chia cho Ares (làm một chuyến cho cả hai toán). Kế hoạch bị đình trệ nhiều lần. Hệ thống phòng không nơi Hải-Phòng đã có thêm hoảtiễn Sam. Nghe nói tới hỏatiễn Sam các phi công Ðài-Loan xanh mặt, từ chối bay.
Vẫn phải tiếp-tế cho họ, để tránh hoả lực phòng không, SOG tìm giải pháp khác dùng
loại phi-cơ bay nhanh hơn. Lúc này các phi-công Việt-Nam được để ý tới. Trong ba
phi hành đoàn được huấn luyện bay với cao độ thấp ở Florida năm 1964, một toán tử
nạn trong lúc huấn luyện, một toán bỏ cuộc. Toán thứ ba sau này bị loại vì bay tiếp tế nhiều lần không thành công.
Ðể lấy lại uy-tín, tướng Kỳ người đầu tiên bay thả biệtkích, cũng là người đầu tiên bay phi vụ oanh kích trongtháng Hai năm 1965. Ông ta cho phép xử dụng đơn vị nổi
tiếng của ông ta, phi đoàn 83 chiến-thuật biệt danh Thần-Phong bay những chiếc
Skyraider A-1G không phù hiệu. Phi đoàn này qui-tụ những phi công 'thượng hạng'
của KL/VNCH. Trong tháng Tư 1966, một đơn vị A-1G vượt tuyến bay thẳng đến
những ngọn đồi gần đường 103. Khi nhận được tín hiệu của toán Romeo trên mặt đất,
viên phi công thả hai quả bom Napalm, bên trong chứa đồ tiếp liệu cho toán biệt kích
trong kế hoạch 34A gồm quần áo, lương thực, đạn dược. Rồi đến phiên KL/HK tiếp
tay. Phi-đoàn tác-chiến 366trong phi trường Ðà-Nẵng dùng phản lực F-4 Phantom
thả tiếp tế cho toán Eagle nơi phiá tây tỉnh Quảng-Ninh. Người Hoa-Kỳ chuẩn bị kỹcàng hơn, một phi tuần F-4 tấn công một mục tiêu gần đó, rồi hai chiếc F-4 tách ra bay về hướng khác, họ bay cách mặt đất chừng mười sáu thước, khi trông thấy tín hiệu của toán biệt kích Eagle, hai phi công thả những trái bom Napalm chưá đồ tiếp liệu. Toán biệt kích báo cáo thâu hồi đầy đủ.
Nhờ những trận oanh kích nơi miền bắc, đơn vị SOG nhận được máy bay C-130 cho
những hoạt động bí mật. Trường hợp bị rơi ngoài bắc, người Hoa-Kỳ sẽ chối là
thuộc KL/HK. Phi hành đoàn C-130 sẽ được huấn luyện đặc biệt trong căn cứ không quân Pope, tiểu bang North Carolina. Ðến mùa hè, SOG nhận thêm bốn chiếc MC130,
gắn thêm 'râu' trước mũi để bốc toán biệt kích theo kiểu điệp viên James Bond
007 (Fulton Skyhook extraction system).
Tháng Mười, bốn chiếc MC130 đến Nha-Trang dưới danh hiệu phi-đoàn Vận-Chuyển
314, nhưng họ chỉ nhận lệnh từ đơn vị SOG. Sau những lần bay thực tập, họ ra miền bắc thả truyền đơn và sẵn sànglàm việc. Ðêm Noel họ làm 'cú' đầu tiên, thả hai biệt kích nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon. Phi công trưởng Leon Franklin kể lại 'Chúng tôi cất cánh từ Nha-Trang, bay dọc theo biểnngang qua Ðà-Nẵng rồi vào
đất liền. Phi hành đoàn gồm có hai phi-công, một cơ khí viên, hai sĩ quan định hướng,
thêm một phi công thứ ba đọc bản đồ'. Khi chiếc máy bay đến mục tiêu, viên phi công
trưởng Franklin để ý tìm tín hiệu, không thấy gì hết. Họ bay trở lại, lần này trông thấy
lửa đốt lên ở dưới theo hình chữ L. Ðúng mật hiệu, hai biệt kích quân nhẩy ra, chiếc phi cơ vòng lại bay về hướng nam.
Ðơn vị SOG vẫn tiếp tục tìm đủ mọi phương tiện để tăng hiệu năng hoạt động. Các phi công Việt-Nam lái H34 rất có khả năng và thành công trong việc thả toán Romeo trước đây, tuy nhiên SOG thích loại trực thăng CH3 của KL/HK. Chiếc CH-3 mới trên chiến trường Việt-Nam, có khả năng bay nhanh hơn và chở nhiều hơn chiếc H34. Trong tháng Mười năm 1965, tám chiếc CH-3 đến Nha-Trang trong phi đoàn 20
Trực Thăng. Tháng Tư năm sau, sáu chiếc biệt danh Pony Express thuyên-chuyển qua
căn cứ không quân Nakhon Phanom bên Thái-Lan. Toán biệt kích đầu tiên xâm
nhập bằng CH-3 là toán Hector, toán này chia làm hai toán nhỏ. Hector-A sẽ xâm
nhập bắc Việt-Nam lập điạ điểm dò thám đường. Toán Hector-B sẽ xuống sau, nhiệm
vụ liên lạc với dân điạ phương. Ngày 22 tháng Sáu, mười lăm biệt kích trong toán
Hector-A lên đường qua Nakhon Phanom. Nhiệm vụ của họ thăm dò đường số 137
sát biên giới Lào-Việt, đường này lớn, chạy ngang qua đèo Ban Karai vào đường mòn
Hồ-Chí-Minh. Toán Hector gồm toàn quân nhân Việt-Nam tuyển từ các đơn vị trong
QL/VNCH, trưởng toán là đại-úy Nguyễn-Hữu-Luyện, người có cấp bậc cao nhất
trong các toán biệt kích nhẩy bắc. Hector-A không đợi lâu bên Thái-Lan, họ lên hai chiếc CH-3 đang đợi sẵn. Hai trực thăng Pony Express bay xuyên qua đất Lào, xâm nhập không phận tỉnh Quảng-Bình. Khi mặt trời sắp lặn, họ đến bãi đáp, các biệt kích đẩy thùng đồ tiếp liệu của họ xuống trước rồi nhẩy xuống.Ít lâu sau, toán Hector báo
cáo đã đến vị trí an toàn. Toán Hector-B tiếp theo, qua Thái-Lan ngày 23 tháng Chín.
Như lần trước, xuống bãi thả, các biệt kích trong toán Hector-B biến mất vào rừng,
sẽ nhập lại với toán Hector-A. Trong Saigon, SOG đợi điện văn của Hector-B nhiều hôm không thấy họ lên máy. Khi SOG chất vấn Hector-A, được trả lời rằng không tìm thấy mười một quân nhân trong toán Hector-B. Không màng tới chuyện Hector-B bị mất tích, SOG chuẩn bị cho thả toán kế tiếp. Toán Samson tám người gồm đủ sắc tộc
thiểu số. Họ sẽ được trực thăng CH-3 đưa đến sát biên giới Lào-Việt rồi xâm nhập
bộ qua biên giới đến đèo Tây-Trang nơi hướng nam ÐiệnBiên-Phủ. Nhiệm vụ cho toán Samson là dò thám đường số 4, con đường tiếp vận cho các đơn vị cộng-sản hoạt động vùng bắc Ai-Lao. Ngày 5 tháng Mười, trực thăng CH-3 chở toán biệt kích
Samson cất cánh từ Nakhon Phanom bay về hướng bắc, ghé một trạm CIA trên đất
Lào lấy thêm nhiên liệu rồi tiếp tục bay đến mục tiêu thả toán biệt kích. Toán Samson
gửi tín hiệu về Saigon ngay tức khắc, chứng tỏ họ thành công.Ðơn vị SOG đợi ba tháng
sau thả toán Hadley gồm mười một quân nhân Việt-Nam. Cũng như Samson, toán biệt kích sẽ được thả gần biên giới rồi xâm nhập bộ vào miền bắc. Toán Hadley có nhiệm vụ dò thám đường số 8, đường này sẽ qua đèo Nape rồi chạy qua Lào. Thêm vào đó, toán sẽ đặt máy thăm dò chấn động trên đường. Cơquan CIA đã thử máy bên Lào. Máy này có thể phân biệt chấn động do người hoặc xe cộ di chuyển. Toán Hadley
sẽ phải thâu thập dữ kiện về xe cộ lưu-thông gửi về Saigon.
Ngày 26 tháng Giêng 1967, toán Hadley được đưa quaNakhon Phanom. Ði theo có
đại-úy Nguyễn-Văn-Vinh bí danh Marc. Hai chiếc CH-3 bay ngang qua tỉnh Khammouane đến gần biên giới. Mặt trời lặn thật nhanh, chiếc CH-3 dẫn đầu đáp
xuống một bãi trống, các biệt kích quân trong toán Hadley nhẩy ra. Chiếc trực thăng ngóc đầu bay lên, vòng lại hướng về phiá nam. Khi chiếc trực thăng lên được cao độ, Marc nhìn ra cửa sổ máy bay. Ngay tức khắc tim ông ta đập mạnh, bên kia đồi chỗ vừa thả toán biệt kích là một con đường đất. Khi được thuyết trình hành quân, trong tấm không ảnh không có con đường đất. Họ đã xuống lầm bãi! Chiếc CH-3 thứ hai bay theo cũng phát giác ra chuyện đó, báo cáo ngay tức khắc. Chiếc trực thăng thả biệt kích quay trở lại, Marc và quân nhân chuyển vận Việt Nam chạy ra khỏi trực thăng vào bià rừng kêu gọi toán biệt kích. Họ gọi tên từng người, không ai trả lời, tất cả đã biến mất hút vào rừng.
Trở lại Nakhon Phanom, Marc ngồi bên cạnh thùng đồ ăn cho toán biệt kích để sẵn ra
đi tiếp tế. Bốn mươi tám giờ trôi qua, Hadley vẫn biệt tăm.Trở lại Ðà-Nẵng, đại-úy Vinh ngồi sau chiếc khu trục cơ A-1 do phi công Việt-Nam lái. Trong hai ngày kế tiếp, họ bay ba lần ngang qua điểm hẹn với toán Hadley, hy vọng thấy tấm Pa-nô báo nguy hoặc tín hiệu của toán biệt kích. Tất cả hoài công. Hai hôm sau, Marc nhận được điện thoại của đại-úy Calisto từ Saigon gọi ra cho biết CIA bắt được công điện của Bắc Việt cho biết, địch đã phát giác toán biệt kích gần đèo Nape. Như vậy Hadley đãnằm trong tay Bắc Việt. Ðiều này đúng không? Mười tám ngày sau, Hadley lên máy báo
cáo, toán chạm địch vẫn còn đang lẩn tránh. Ðiều này gây nên cuộc tranh luận trong
Saigon, đơn vị SOG tổ chức toán Voi nhẩy xuống điều tra. Bốn biệt kích trong toán được trang bị ống nhòm cực mạnh và máy chụp ảnh xa (tele camera), họ được lệnh nằm lại, chụp ảnh bất cứ người nào lấy thùng tiếp liệu thả cho toán biệt kích Hadley. Ðiều này sẽ chứng minh toán Hadley đã bị bắt hay chưa.
Ngày 18 tháng Mười, Marc đi theo thả toán Voi trên chiếc MC-130. Ðến Hà-Tĩnh, toán biệt kích nhẩy ra khỏi phi cơ.Ðại-úy Vinh (Marc) đã dặn toán Voi khi xuống tới đất phải báo cáo ngay. Toán Voi biến mất luôn, không một lời báo cáo. Trong tháng Mười 1966, hiệu thính viên toán Romeo gửi về một điện văn ngắn 'Romeo đã bị bắt'. Tháng Mười Hai, Hà-Nội thông báo vụ bắt được và đem xử toán Kern, chín quân nhân biệt kích ngẩy xuống đèo Mụ-Già. Toán này xâm nhập từ tháng Ba, lần cuối cùng liên lạc tháng Chín. Trong tháng Ba1967, Hà-Nội thông báo tiếp về vụ toán Samson, toán này mất liên lạc từ ba tháng trước. Tháng Sáu đến phiên toán Hector-A lên đài Hà-Nội, bị khép vào tội gián-điệp. Cuối cùng lên đài là toán Bell.
Theo tài liệu 'How American Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy,
Dale Andradé, United Press, 2001.

No comments:

Post a Comment