; }

Tuesday, July 28, 2026

TẠI SAO CÓ CHIẾN TRANH VIỆT NAM ?

Bút Sử

        

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – (The Truman Doctrine)

 

Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự Khủng Bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Có những người luôn phê bình tổng thống Johnson về điểm yếu của ông trong chính sách đương đầu với cộng sản miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, ông đã không chủ trương muốn chiến thắng. Nhưng kiểm lại tài liệu lịch sử thì thấy rằng ông Johnson đã không hẳn là vậy. Nguyên do của sự lưng chừng không dứt khoát đi ra từ những vấn đề phức tạp liên quan mà chúng tôi sẽ trình bày trong một tiêu đề khác. Cũng như tại sao Johnson đã không tái ứng cử.

 

We have learned at a terrible and brutal cost that retreat does not bring safety and weakness does not bring peace. It is this lesson that has brought us to Vietnam – Chúng ta học ở một cái giá khủng khiếp và tàn bạo rằng sự rút quân không mang lại an toàn và sự yếu đuối không mang lại nền hòa bình. Nó là bài học này mà đã đưa chúng ta tới Việt Nam.

 

Câu nói trên của tổng thống Lyndon Johnson trong một buổi họp báo tại Toà Bạch Ốc vào năm 1965 khi chuẩn bị tăng cường quân sự để đạt mục đích chiến thắng trong cuộc chiến hết sức cam go.

 

Tại Sao Có Chiến Tranh Việt Nam?

 

 

 

Một chút ít hậu cảnh khi nói về chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa Việt Minh với Pháp từ 1946-1954 kết thúc tại Điện Biên Phủ. Nguyên do có cuộc chiến này cũng vì sự xuất hiện của Hồ Chí Minh sau thế chiến thứ 2 kết thúc. Làn sóng đỏ bắt nguồn từ Hồ tại Á Châu là mối đe doạ cho khối tự do mà chính tổng thống Richard Nixon đã phải nhấn mạnh. Ông Nixon cho rằng nhiều người còn lầm tưởng đó là cuộc chiến có tinh thực dân của Pháp, nhưng thật ra đó là cuộc chiến tranh chống cộng sản (It is not colonialism, it is communism, No More Vietnams, trang 36).

 

Trong phim tài liệu “Why Vietnam” do John Ford thực hiện, ghi nhận hiện tượng coi như dị thường rằng có 3 nhóm người chống nhau tại 3 khu vực: nhóm Việt không cộng sản chống Việt cộng sản, và trong 2 nhóm đó có số người chống Pháp.

 

 

Sau khi thua trận Điện Biên Phủ (vũ khí của Tàu Nga cung cấp hùng hậu cho Việt Minh) Pháp rời Việt Nam. Lúc này cờ đỏ bay càng nhiều hơn trong mọi nẻo đường miền Bắc. Hiệp Định Geneva do Tạ Quang Bửu, đại diện cộng sản Bắc Việt, ký với Pháp chia đôi lãnh thổ Việt Nam tại vĩ tuyến 17, miềm Bắc thuộc cộng sản, miền Nam có chính phủ theo thể chế tự do.  Nếu cộng sản miền Bắc chấp hành những gì ghi trong hiệp định thì dù chia đôi nhưng dân chúng hai bên vẫn sống trong hoà bình yên ổn. Trường hợp Nam Hàn chẳng hạn, quân đội Hoa Kỳ vẫn đóng đó hàng chục năm, nhưng không ai cho rằng đó là hành động xâm lăng mà với mục đích giống như tại miền Nam Việt Nam là ngăn chặn làn sóng đỏ từ Bắc Hàn. Hơn nữa, quân đội Hoa Kỳ còn đó và trong hơn 3 thập niên qua, Nam Hàn đã và đang phát triển kinh tế vựot bực so với các quốc gia tiến bộ khác.

 

 

Riêng việc chia đôi Việt Nam thì phải hiểu đó là kế họach của Nga Tàu đưa ra cho tay sai Hồ Chí Minh thực hiện. Thực tế  thì nó là một thiết bị cho sự thắng lợi về phe cộng sản. Hình bên chúng ta thấy Chu Ân Lai lộ vẻ vui mừng thỏa mãn sau khi Pháp-Việt cộng sản ký xong Hiệp Định Geneva. Bắc Kinh cho rằng cái công thắng Pháp tại Điện Biên Phủ là do phe Trung Cộng làm thành; mà thật vậy, từ cố vấn chỉ huy, nhân sự tiếp trợ, đến vũ khí đạn dược đa phần do Trung Cộng cung cấp. Có thể nói từ thời điểm đó về sau Hà Nội bị một cái tròng nặng hơn vào cổ khó gỡ. Việc Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm bằng lòng chấp nhận Hòang Sa-Trường Sa là của Trung Cộng vào 1958 cho thấy rõ tư thế của phe Hồ bị lệ thuộc như thế nào.

 

 

Hơn một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam vì họ đã kinh nghiệm một thời gian khá dài trong sự cai trị độc tài khắc nghiệt của tập đoàn Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trong đoàn người xuôi Nam tỵ nạn có nhiều thành phần cộng sản được gài vào mà sau này chính sách báo cộng sản đã công nhận ít nhất 60 ngàn cán bộ.

 

Cộng sản miền Bắc gia tăng đàn áp trên mảnh đất miền Nam. Chính phủ miền Nam bắt buộc phải tạo thế phản công và  đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ. Cộng sản càng gia tăng lực lượng xâm lăng miền Nam thì Hoa Kỳ nhận thấy phải làm rộng thêm phạm vi công tác tiếp tay. Chính sách của Hoa Kỳ, nhấn mạnh hơn dưới thời tổng thống Harry Truman (The Truman Doctrine), lúc nào vẫn giúp các quốc gia trên thế giới, những nơi dân chủ và tự do của con người bị đe dọa.

 

 

 

 

Việc biên giới tại vĩ tuyến 17 trên thực tế đã không có giới hạn rõ ràng để ngăn ngừa làn sóng xâm lăng từ miền Bắc. Trong khi xô đẩy cán bộ vào Nam thực thi những công tác khủng bố người dân trong làng mạc miền Nam thì Hồ Chí Minh ngoài Bắc đóng vai một "hiền nhân đức độ"

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự khủng bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Miền Nam theo thể chế bầu chọn Tổng Thống và các chức vụ đại diện dân, trong khi tại miền Bắc rõ ràng chế độ cộng sản cho thấy họ không bao giờ nghĩ tới việc bầu cử tự do một cách công khai minh bạch. Năm 1954, tổng thống Eisenhower cũng đã giúp chính phủ miền Nam phát triển và giữ thế vững mạnh để có thể chống đỡ nếu có sự chống phá xảy ra. Năm 1955, Hoa Kỳ và các nước Úc, Pháp, Tân Tây Lan, Pakistan, Phillippines, Thailand và Anh đã ký cam kết bảo vệ an ninh trong vùng chống lại cộng sản. Hiệp ước này gọi là  SEATO (South East Asia Security Treaty Organization).

 

 

Trong khi miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đang kiến thiết xây dựng kinh tế, phát triển các bộ phận khác như giáo dục, nông nghiệp, thì miền Bắc người ta thấy dân ra sức lao động xây dựng những trung tâm huấn luyện hành động và tuyên truyền để chuyển gài cán bộ vào miền Nam. Chương trình của họ gồm cả hành động khủng bố và lật đổ để làm xáo trộn chính phủ miền Nam. Người ta còn nhớ mỗi lần sinh nhật 19 tháng 5 của ông Hồ, ông ta hay lên đài kêu gọi dân chúng nỗ lực thêm trong công tác khủng bố và đưọc vậy thì ông Hồ trọng thưởng những cá nhân đó trong ngày sinh nhật của ông ta.

 

 

 

 

 

 

 

    

Với cách đánh du kích của quân miền Bắc, hành động rất dã man, không thương xót mạng đồng bào của họ, mục đích là tàn phá, thì Hà Nội gọi đó là “cuộc chiến tranh giải phóng”. Việc này không bao giờ đúng đối với hàng ngàn những người chống cộng lúc đó. Lãnh đạo, giáo chức và gia đình họ cùng trẻ con họ bị cộng sản vào nhà ban đêm dẫn đi, có khi xác tìm thấy đâu đó hay mất tích!

 

Vào 1959, tổng thống Dwight Eisenhower nhận ra hiểm họa tại Việt Nam. Ông đã quyết định giúp miền Nam bảo vệ vùng đất tự do chống lại làn sóng đỏ từ Bắc lan vào. Eisenhower đã tuyên bố bổn phận công dân Hoa Kỳ làm gì và cái giá phải trả để bảo vệ tự do tại ngay đất Mỹ phải qua nhiều hình thức khác nhau, kể cả phải hy sinh mạng người tại Đức,Việt Nam, Trung Đông…

 

 

Đến 1960 thì tại miền Nam có thể nói chiến trận mọi nơi. Càng lúc càng thấy rõ vị thế nước Mỹ phải làm gì và họ đang đương đầu với ai. Trong diễn văn vào 1965, tổng thống Johnson đã nhấn mạnh cho công dân Mỹ biết là:

 

In this war, it is guided by North vietnam and it is furnished by communist China. Its goal is to conquer the South and to extend asia to millions of commuinsts … Trong cuộc chiến này, nó được chỉ đạo bởi miền Bắc Việt Nam và được trang bị bởi Trung Cộng. Mục đích của cuộc chiến là để thống trị miền Nam và để bành trướng Á Châu có thêm hằng triệu người cộng sản.

 

 

Không ai thấy rõ âm mưu này hơn những người dân miền Nam. Chính phủ miền Nam, vào 1961, cấp bách gọi Washington DC trình bày về hiện trạng. Hoa Kỳ gởi qua quân cụ, súng ống, và kỹ thuật viên. Họ huấn luyện người Việt cách dùng để đạt hiệu quả. Những cố vấn người Mỹ này là chuyên gia, rất giỏi, và năng động. Họ học cả tiếng Việt để giảng huấn. Ngay trong thời điểm này, những người Mỹ tại Việt Nam chỉ là những cố vấn, không có một căn cứ quân sự nào được thành lập. Nhiều trạm y tế công cộng do người Mỹ dựng lên để giúp tìm bệnh và cho thuốc, cũng như nhiều trường hợp khác trong tinh thần nhân đạo.

 

 

Chiến Tranh Du Kích (The Guerrilla Warfare, The Latest Technique of the Global Communist Plan)

 

Đương đầu với những trận đánh du kích mọi nơi, mọi tỉnh trong miền Nam là một điều vô cùng khó khăn cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

 

 

Việt Cộng lẫn vào dân để sống và hăm doạ dân nếu không làm theo kế hoạch của họ. Tại miền Bắc, thanh niên bị cưỡng ép vào quân đội, nếu không thì tai hoạ cho gia đình, bằng cách này hay cách khác họ sẽ bị hại, có trường hợp nhà nước cộng sản cắt "hộ khẩu" để không được quyền mua bán gì cả. Có người vì đói quá phải gia nhập quân đội để gia đình bớt đi phần ăn. Những anh bộ đội mặt mày còn non nớt, chưa hiểu rõ nguyên nhân của cuộc chiến, hoặc hiểu theo lối tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” khi mà trước 1965 Hoa Kỳ chưa đặt một cơ cấu quân sự nào cả.

 

Không gì hơn là chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường thêm những phái đoàn cố vấn. Họ đã chứng kiến cảnh chiến tranh không rõ hàng ngũ (no frontlines) bởi vì phe cộng sản là du kích, ẩn hiện mọi nơi, có khi họ bắt dân làm theo họ, và phe quân đội miền Nam phải có cách tìm ra sự thật là vấn đề không phải dễ, nhất là về tâm lý thì cộng sản tuyên truyền "quân đội miền Nam tấn công dân chúng". Người Việt với nhau đã khó như thế thì với người Mỹ càng khó khăn hơn.

 

 

Hình ảnh trong phim tài liệu ta thấy cảnh Việt Cộng tải thương và tử thi thì đó là dấu hiệu cho biết là Việt Cộng còn hiện diện không xa trong địa phận đó. Đây là trạng huống đau đớn mà những người lính Việt Nam Cộng Hoà phải để trong đầu, phải chuẩn bị chiến đấu với địch trong bất cứ lúc nào.

 

Cộng Sản Tấn Công Tàu Maddox

 

 

 

báo Thanh Niên đăng tin Kỷ Niệm 40 năm Bắc Việt tấn công tàu Maddox Báo Thanh Niên, 30/7/2004, kỷ niệm 40 năm ngày cộng sản Bắc Việt tấn công Maddox.

Một bằng chứng không thể chối cãi.

 

Vào tháng 8, 1964, cộng sản miền Bắc mở rộng phạm vi của sự phức tạp. Với sự tăng cường lực lượng vào Nam càng ngày càng nhiều, cùng vũ khí đạn dược do Nga Tàu cung cấp, không gì hơn là làm ra cuộc chiến tranh thật sự gài Mỹ vào trong thế phải nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến. Vì có thế cộng sản miền Bắc mới có cớ tuyên truyền mạnh “Mỹ xâm lăng” và dùng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”.Chiêu bài này chỉ cho dân miền Bắc vì ngoài ấy mọi thông tin bị bít kín, ngoại trừ tin của Đảng.

 

Trong tháng 7, 1964, để làm giảm làn sóng ồ ạt đưa vũ khí, người vào Nam, cố vấn của tổng thống Johnson thảo ra nghị quyết có tính trừng phạt cộng sản miền Bắc nếu họ cứ tiếp tục xâm lăng thì miền Nam sẽ tấn công ra Bắc. Nghị quyết chưa được đem ra quốc hội bàn thảo, và việc này, tổng thống Johnson không vội vàng xúc tiến chỉ chờ xem những đợt xua quân xâm lăng có giảm thiểu hay không.

 

Ngày 2 tháng 8, 1964, Bắc Việt tấn công tàu khu trục Maddox của Hoa Kỳ tại hải phận quốc tế gần vùng biển Thanh Hoá. Cộng sản viện lý do tàu Maddox vi phạm hải phận Việt Nam vào tối 31 tháng 7. Ba chiếc phóng lôi (torpedo) tấn công với tốc độ nhanh vào gần Maddox. Những tiếng súng cảnh báo từ Maddox bắn ra nhưng phóng lôi vẫn tiến tới, hải quân Mỹ phải dùng súng 5in bắn ra triệt hạ một tàu và làm hư hại một tàu khác. Cộng sản bắn 2 ngư lôi vào Maddox nhưng không trúng, cách tàu 200 yards. Liền đó, tàu được tiếp viện không vận, cuộc xung đột ngưng. Bên Mỹ không thiệt hại gì cả.

 

Hai ngày sau, 4 tháng 8, tàu khu trục thứ hai tên C. Turner Joy đến tiếp trợ. Người trực radar trên tàu Maddox phát hiện 5 chiếc phóng lôi của cộng sản đang tiến tới. Lúc này  2 chiếc tàu Mỹ biết họ bị tấn công liền gọi không vận yễm trợ và ra lệnh sẵn sàng ứng chiến. Kết quả 2 tàu cộng sản bị bắn chìm và 2 bị hư hại.

 

Chủ trương của Hoa Kỳ lúc này là không tỏ thái độ muốn chiến tranh với miền Bắc (restraint). Sau vụ tàu bị tấn công 2 lần, Hoa Kỳ đo lường được mức độ gây hấn của cộng sản. Các vị chỉ huy quân sự và cố vấn cho rằng cộng sản xem sự hạn chế của Hoa Kỳ đồng nghĩa với thế yếu ớt thiếu nghị lực nên quyết định tấn công. Tổng thống Johnson quyết định trả đủa, và sau đó nghị quyết đã được đem ra bàn thảo và được quốc hội thông qua. Đây cũng là lần đầu tiên những người Mỹ với súng ống, máy bay xả xuống khu căn cứ hải quân của địch tiêu diệt 25 chiếc phóng lôi. Tài liệu sau này cho thấy rõ miền Bắc muốn Mỹ nhúng tay càng nhanh càng tốt  vào cuộc chiến để chính thức phóng ra một cách mạnh mẽ chiêu bài “Mỹ xâm lăng” đệm thêm vào chiêu bài cũ là “giải phóng miền Nam” mà xem ra không có hiệu quả về mặt tuyên truyền.

 

Trong lúc quân đội miền Nam và đồng minh Hoa Kỳ giao chiến với cộng sản miền Bắc thì tổng thống Johnson vẫn trong tinh thần không muốn chiến tranh lan rộng. Hoa Kỳ nhiều lần yêu cầu cộng sản miền Bắc ngồi vào bàn hội nghị để bàn việc ngưng chiến tiến tới một giải pháp tốt đẹp 2 bên, nhưng phe cộng sản không bao giờ chấp nhận. Trái lại, có lần một chiếc tàu chỡ vũ khí tiến vào Nam bị chận bắt, trong đó rất nhiều vũ khí đạn dược do Trung Cộng chế tạo. Có khi phải dội bom để ép cộng sản vào bàn hội nghị cũng vẫn không thành công.

 

Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Dean Rush, đã cố gắng vận dụng để đem Hà Nội vào bàn hội nghị. Ngay cả Liên Hiệp Quốc, Anh, Ấn Độ làm cùng một mục đích, nhưng Hà Nội và Bắc Kinh vẫn thái độ từ chối. Tổng thống Johnson đề nghị vào bàn họp vô điều kiện cũng vẫn bị Hà Nội và Bắc Kinh từ chối và còn cho đó là trò đánh lừa của Mỹ. 17 nước, không là đồng minh của Hoa Kỳ, cũng đề nghị một giải pháp hoà bình vô điều kiện vẫn không thay đổi thái độ của Hà Nội và Bắc Kinh.

 

Thế giới thấy rõ cộng sản đang muốn thống trị miền Nam. Hà Nội quyết định không chọn giải pháp tiến tới hoà bình, còn Bắc Kinh thì trắng trợn hơn, họ tuyên bố chủ thuyết và mục đích của cộng sản Trung Hoa không thể thay đổi, sự tiến tới một Đông Nam Á cộng sản, và sau đó là đại đồng thế giới.

 

Johnson: We do not seek the destruction of any government or make any territory. We always insist the people of South Vietnam shall have the right of choice, the right to shape their own destiny in  free elections in the South, or throughout all Vietnam  under international supervision. They should not have any government imposed upon them by force and terror so long as we can prevent it. We do not want an expanding  struggle with consequences that no one can perceive. We will not surrender and we will not retreat – Chúng tôi không chủ trương phá hoại bất cứ chính phủ nào hay tìm vùng ảnh hưởng. Chúng tôi luôn khẳng định người dân miền Nam nên có quyền tự chọn hình thức cho vận mệnh của họ qua những cuộc bầu cử tự do, hoặc là cho cả toàn dân Việt Nam dưới sự kiểm soát của quốc tế. Họ không nên có một chính phủ nào áp đặt cho họ bằng bạo lực và khủng bố trong lúc chúng ta đang còn có thể ngăn ngừa chuyện đó. Chúng tôi không muốn một cuộc tranh đấu kéo dài với hậu quả mà không ai biết trước. Chúng tôi sẽ không đầu hàng và chúng tôi sẽ không rút quân.

 

 

 

 

 

 

 

Trong cuộc chiến chống lại dân chúng, những loại chất nổ mạnh không chỉ nhắm vào những người đàn ông mang vũ khí, nhưng Toà Đại Sứ tại Saigon chính nó cũng trở thành một trận điạ lớn. Những tên khủng bố Việt cộng đã chọn nơi này để đặt bom. Họ đã có tính toán kỹ lưỡng và tiếp tục chiến dịch tạo khủng bố chống lại người Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và công dân Việt tại miền Nam.

 

Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ càng được tăng cường để đối kháng lại địch quân càng ngày càng có chiến lược tinh vi hơn, gồm cả giương đông kích tây, nhất là những trận du kích khó đóan biết, những vụ gài mìn trên đường lộ để làm tắt nghẽn lưu thông, đặt bom phá cầu, khủng bố những nhà kinh doanh bằng cách vào nhà ban đêm để thu tiền (đóng hụi chết cho cộng sản), chặt đầu trưởng ấp ban đêm rồi treo tòn ten trên bìa rừng cây cao su dọc quốc lộ 1 Saigon Tây Ninh, một hình thức khủng bố cho dân sợ.v.v..

 

 Tổng thống Johnson nói: Nếu tự do còn tồn tại trong từng nhà người Mỹ tại Hoa Kỳ thì tự do trước đó đã được gìn giữ duy trì tại nơi như Việt Nam. Ông cũng cho rằng hầu hết dân vùng Á Châu không thể tự mình bảo vệ chống lại cộng sản, một lọai người mang chủ nghĩa không tưởng đang lan tràn sanh sản nhanh chóng mà ông ví họ như lòai chuột trong đám cỏ có nọc độc.

 

Đội quân chiến đấu Hoa Kỳ đã đến. Sứ mệnh của họ rất đơn giản – chiến đấu cho tự do tại Việt Nam. Họ biết rằng cái gọi là “chiến tranh giải phóng” chỉ là một hình thức xâm lược và nó sẽ bị đánh bại. Người Mỹ cũng đã thấy rõ rằng cộng sản miền Bắc đã chọn con đường xâm lăng vào Nam và làm hằng triệu dân miền Nam chịu tổn thất, đau khổ.

 

As long as there are men who hate and destroy, we must have the courage to resist …we did not choose to be the guardians at the gates, but there is no one else, said JohnsonNgày nào còn những người chỉ biết thù ghét và tàn phá, chúng ta phải có can đảm để chống lại. Chúng ta không chọn để trở thành người bảo vệ tại các cổng, nhưng mà không còn ai cả ngòai chúng ta.

 

 

Bút Sử

 

Sources:

 

Why Vietnam, John Ford, 1973

We Will Stand in Vietnam, 1965

The Vietnam War, Bernard C. Nalty, 1998

Friday, June 26, 2026

SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI” VÀ “GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”

Trần Trung Đạo

(Nhân câu nói của Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao trong dịp thăm Việt Nam “trái tim tôi thuộc về nước Mỹ, dòng máu thuộc về Việt Nam” và báo chí CSVN đáp lại bằng một số khẩu hiệu quen thuộc như “hòa giải”, “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” v.v… Mời đọc bài viết dưới đây phân tích lý do tại sao sau 51 năm các khẩu hiệu đó vẫn chỉ là những khẩu hiệu tuyên truyền.”)

---------------
Mỗi người Việt Nam dù đi xa bao nhiêu đều mang theo trong lòng một quê hương. Truyền thống của dân tộc Việt Nam là "nhiễu điều phủ lấy giá gương", là "lá lành đùm lá rách", là "một giọt máu đào hơn ao nước lã" chứ không phải độc tài hay thù hận. Dân tộc Việt Nam, bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, là một thực thể thống nhất và không một thế lực nào, một ý thức hệ ngoại lai vong bản nào có thể làm phân ly chia cách.
Thế nhưng, sau 51 năm, ý nghĩa của khái niệm dân tộc vô cùng thiêng liêng quý giá đó vẫn chưa là thực tế. Dân tộc Việt Nam đến nay vẫn còn một đoàn người nối đuôi nhau nhận sự ban phát từ chức tước bổng lộc đến chén cơm manh áo từ tay giới lãnh đạo đảng không khác gì thời vua chúa phong kiến. Sinh mệnh của họ và tương lai của con cháu họ vẫn còn trong tay một nhóm người rất nhỏ nhen, ích kỷ và lạc hậu.
Giống như trường hợp một con người bình thường phải vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt để tiến thân, một dân tộc chỉ có thể đuổi kịp đà tiến của nhân loại nếu dân tộc đó vượt qua được những bất hạnh của chính mình và vận động được sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Do Thái chỉ vỏn vẹn hơn 6 triệu dân, sống trong một diện tích 20 ngàn cây số vuông, và bị các quốc gia thù địch bao vây ngay từ ngày lập quốc, nhưng họ đã tồn tại và vươn lên nhờ sự vận dụng sức mạnh dân tộc rộng lớn khắp thế giới.
Vì điều kiện lịch sử, chất xám Việt Nam cũng trải rộng khắp năm châu, tinh hoa Việt Nam có mặt trong mọi ngành khoa học kỹ thuật của nhân loại và đang dấn bước vào chính trường của các quốc gia họ định cư. Thế nhưng cho đến nay, tuyệt đại đa số trong số 300 ngàn trí thức Việt Nam hải ngoại, như nhiều nguồn ước lượng, vẫn không hợp tác với đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam. Họ chẳng phải thuộc thành phần “bám theo chân đế quốc” hay “chống Cộng tới cùng” gì đâu, mà là những người thật sự quan tâm cho tương lai dân tộc.
Ngọn núi cách ngăn giữa họ và quê hương chính là cơ chế chính trị tại Việt Nam.
Việc bất hợp tác của họ với nhà nước Việt Nam không phải phát xuất từ những cách ngăn quá khứ, mà là vì những dị biệt khi nhìn về tương lai dân tộc.
Mối lo mất quyền lực đã làm cho giới lãnh đạo đảng hoài nghi trước mọi đóng góp của trí thức hải ngoại dù là những đề án hoàn toàn không liên hệ gì đến chính trị. Không một người Việt Nam có lương tâm nào mà không khỏi đau lòng khi nhìn lại đất nước sau 51 năm chấm dứt chiến tranh nhưng lòng người vẫn còn ngăn cách, anh em nhìn nhau thù hằn xa lạ. Một ông thủ tướng đi thăm nước ngoài mà bị chính dân nước mình biểu tình phản đối, phải đi vào cửa trước và đi ra cửa sau thì có gì để đáng hãnh diện.
Về hòa giải, lịch sử nhân loại đã để lại nhiều bài học quý giá về hòa giải.
Hãy tưởng tượng nếu tổng thống Abraham Lincoln thay vì nói “không ác tâm nhắm vào ai, với lòng nhân ái dành cho mọi người” (With malice toward none, with charity for all) trong phần kết luận diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ hai vào những ngày cuối của nội chiến Mỹ, mà kêu gọi “máu kêu trả máu đầu kêu trả đầu” thì nước Mỹ liệu có là một cường quốc hàng đầu thế giới và có diện tích trải rộng trên 9 triệu cây số vuông như ngày nay không?
Câu trả lời hẳn nhiên là không.
Hãy tưởng tượng khi Nelson Mandela, người bị tù suốt 27 năm ngoài hoang đảo và đã có thời gian nghiêng về phương pháp đấu tranh bằng võ lực, không chủ trương hòa giải mà nhất định trả thù cho bằng được thiểu số da trắng đã một thời đã áp đặt những đối xử bất công, phân biệt chủng tộc lên trên số phận của đa số người da đen thì nước Cộng hòa Nam Phi ngày nay liệu có còn là một trong những quốc gia ổn định và phát triển nhất Châu Phi?
Câu trả lời hẳn nhiên là không.
Hai nhà lãnh đạo quốc gia, tuy sinh ra và lớn lên trong những thời điểm lịch sử và hoàn cảnh bản thân khác nhau, nhưng đều sở hữu giống nhau ba đặc tính mà một lãnh tụ sáng suốt nào cũng cần phải có: kiên nhẫn, khôn ngoan và biết nhìn xa trông rộng.
Đất nước Việt Nam thời buổi này không có may mắn đó. Một trong những điều bất hạnh dễ nhận ra nhất là các nhà lãnh đạo Việt Nam không những thiếu ba đặc tính kiên nhẫn, khôn ngoan và nhìn xa thấy rộng đó, nhưng đáng buồn hơn họ lại mang trong người ba căn bịnh trái ngược với các đặc tính vừa nêu.
Thay vì kiên nhẫn trong từng bước đổi thay của đất nước bằng tinh thần hòa giải bao dung dân tộc, họ đã bắt nhân dân thắt lưng buộc bụng để “tiến nhanh, tiến mạnh” lên chế độ xã hội mà chính họ cũng chỉ mới được nghe qua hay đọc đâu đó trong các tài liệu tuyên truyền của đảng; thay vì áp dụng một cách khôn ngoan các chính sách đối ngoại thận trọng với những người từng là bạn cũng như rộng lượng ngay cả với những kẻ vốn là thù, họ đã chứng tỏ vô cùng thiếu khôn ngoan, kiêu căng vô lối trong bang giao quốc tế, để rồi dẫn đất nước vào vòng cô lập trong nghèo nàn lạc hậu suốt mấy mươi năm; thay vì nối lại nhịp cầu dân tộc mà trước đây các dã tâm thực dân đế quốc đã làm ngăn cách tình đồng bào ruột thịt, hay lót những viên gạch rắn chắc trên con đường dẫn đến tương lai hạnh phúc cho con cháu khi còn có quyền lực trong tay thì họ chỉ biết đợi đến cuối đời để ngậm ngùi nhìn lại.
Thủ tướng Konrad Adenauer, chính trị gia thân Mỹ hàng đầu tại Châu Âu sau Thế Chiến Thứ Hai, mặc dù lo tái thiết Tây Đức hoang tàn đổ nát bằng tiền của Mỹ, nhưng cũng không quên kín đáo tiếp xúc với Stalin để cứu những tù binh Đức bị tù trên lãnh thổ Liên Xô dù trước đây chế độ Đức Quốc Xã đã từng bỏ tù ông ta.
Tương tự, những gì Nelson Mandela đã cống hiến cho đất nước ông không phải vì nhờ ông đã quên quá khứ hay gác quá khứ qua một bên, nhưng nhờ ông đã sống rất trọn vẹn trong quá khứ, đã chiêm nghiệm và chuyển hóa những những vinh quang và chịu đựng, thành công và thất bại, hy vọng và tuyệt vọng của quá khứ thành nhựa nguyên, nhựa luyện cho những hàng cây xanh tốt tươi và hy vọng ở tương lai. Nelson Mandela là tổng thống da đen đầu tiên của Cộng hòa Nam Phi, nhưng không ít phụ tá của ông, chuyên viên cao cấp trong chính phủ là những người da trắng. Họ không phải chỉ được dựng lên để làm cảnh như Mặt trận Giải phóng Miền Nam, Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình tại Việt Nam trước đây, mà là những người có thực quyền. Ngoài ra, một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Nelson Mandela là thành lập ủy ban Sự thật và Hòa giải để điều tra các tội ác của chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi và thực thi chính sách hòa giải của ông.
Hòa giải chỉ có giá trị vĩnh cửu nếu hòa giải đó dựa trên sự thật và sự thật chỉ là viên ngọc quý khi nào nó được dùng để soi sáng công lý, xoa dịu khổ đau, chứ không phải để đào sâu thêm thù hận.
Các lãnh đạo đảng nói về hòa giải chắc là nhiều hơn cả Abraham Lincoln, Nelson Mandela và Konrad Adenauer cộng lại. Nhưng trong suốt 51 năm cai trị đất nước bằng nhà tù và súng đạn, họ chưa làm được một điều gì căn bản để thể hiện tinh thần đó.
Tệ hại hơn nữa, họ đã sử dụng hòa giải như là chiếc bẫy để lừa gạt những người dễ tin hay quá thật tâm đi tìm một con đường sống cho dân tộc. Đừng nói gì đến các chính sách đất nước đa màu (Rainbow Nation) nhìn xa thấy rộng như Nelson Mandela, hay hành động can đảm cứu người như của Konrad Adenauer, chỉ đơn giản sửa sang, tu bổ các ngôi mộ của những người lính miền Nam ở nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngoại ô Sài Gòn, giúp đỡ các thương phế binh miền Nam đang lây lất trên đường phố, họ cũng không làm.
Có nhiều lý do đã làm cho giới lãnh đạo đảng không thực tâm hòa giải và một trong những lý do đó là vì họ sợ sự thật.
Nhiều người cho rằng nhân dân Việt Nam quá sợ đảng Cộng sản, nhưng đừng quên giới lãnh đạo đảng cũng luôn bị ám ảnh bởi sự thật. Trong hơn năm chục năm qua, họ đã làm tất cả những gì có thể làm được để che giấu sự thật. Một tấm bia nhỏ để tưởng nhớ những đồng bào bỏ thây trên biển cả cũng làm họ run sợ. Một bức tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa tuy gãy đổ cũng làm họ ăn ngủ không yên. Các lãnh đạo đảng hẳn đang trách nhau tại sao năm mươi năm trước họ đã không san bằng nghĩa trang quân đội Biên Hòa cho rồi, để đến hôm nay, khi con dao chuyên chính vô sản không còn bén nữa, và trước mắt của cả thế giới khi vừa bước chân vào ngưỡng cửa WTO, họ không thể ra tay được.
Sinh viên Việt Nam nào cũng được dạy đảng là tổ chức anh minh, sáng suốt và lãnh đạo thành công mọi cuộc cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ trước đây cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nếu các em chịu khó vào trang mạng của đảng Cộng sản Việt Nam để đọc mục đích của đảng là gì, các em sẽ nhận thức ngay được tính mâu thuẫn đối kháng giữa nhu cầu của đất nước Việt Nam và quyền lợi của đảng.
Như một sinh viên, em muốn gì cho đất nước? Phải chăng đó là một Việt Nam hội nhập vào dòng thác cách mạng dân chủ, khoa học kỹ thuật, văn minh hiện đại của nhân loại bằng sức mạnh tổng hợp và đa diện của người Việt, không chỉ người Việt trong nước, mà cho dù họ đang định cư bất cứ nơi nào trên thế giới? Vâng, nhưng điều đó sẽ không thể thành sự thật khi đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến hôm nay vẫn bám vào hệ thống giáo điều lạc hậu, cơ chế độc tài mà hầu hết các quốc gia, từ dân chủ Tây phương cho đến các nước chậm tiến ở núi rừng Châu Phi khinh rẻ. Thế giới đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba rồi mà ngay trong trang mạng chính thức của đảng vẫn còn viết được những câu đầy tính lừa bịp như thế này: “Lý luận tập trung dân chủ là một bộ phận quan trọng của học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, là cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho các chính đảng của giai cấp công nhân thực hiện phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung thống nhất trong Đảng.”
Giả thiết cho dù đảng Cộng sản đã đóng vai trò lãnh đạo trong chiến tranh đi nữa, sau 51 năm đưa đất nước vào con đường tụt hậu so với đà tiến văn minh của nhân loại hôm nay thì liệu họ có xứng đáng tiếp tục lãnh đạo đất nước hay phải bước xuống trả lại quyền quyết định tương lai đất nước cho nhân dân Việt Nam?
Giả thiết cho dù chuyện công hay tội của đảng Cộng sản trong chiến tranh có thể còn là vấn đề đang tranh luận, thì trong 51 năm cầm quyền với những tộc ác không thể nào chối cãi khiến hàng triệu gia đình ly tán, hàng trăm ngàn đồng bào chết thảm thương trong rừng sâu nước độc, ngoài biển khơi, trong trại tập trung, thì nhân dân Việt Nam có nên để đảng Cộng sản tiếp tục đè đầu cỡi cổ nữa hay không?
Từ khi viên đại bác đầu tiên do thực dân bắn vào cửa biển Đà Nẵng năm 1847 cho đến năm 1954, máu của hàng triệu người Việt yêu nước đã đổ xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Dân tộc Việt Nam nhớ ơn họ và các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ cúi đầu mỗi khi nghĩ về họ. Mặc dù trong hàng ngũ đảng Cộng sản có những người bắt đầu hành trình bằng lòng yêu nước, đảng Cộng sản, ngay từ ngày thành lập cho đến nay chưa bao giờ là một đảng yêu nước.
Lịch sử sớm hay muộn rồi sẽ sang trang. Tôi tin sẽ có một ngày các cháu sinh viên học sinh Việt Nam ngồi đọc lại những chương buồn của lịch sử dân tộc với Nhân văn-Giai phẩm, với Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, với Tết Mậu Thân ở Huế, với Cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, với “Trại cải tạo” khắp ba miền, với Kinh tế mới, với Thảm cảnh biển Đông, và hẳn họ sẽ rơi nước mắt cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của ông bà mình.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo IV) 

Nguồn: FB Trần Trung Đạo

Monday, May 11, 2026

"QUỐC HIỆU VIỆT NAM"

Đây là tên nước 'ước mơ' của Hoàng đế Gia Long nhưng không được Thanh triều công nhận.

Tên nước Đại Nam do Vua Minh Mạng đặt đã bị Pháp xóa để lập ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trong Liên bang Đông Dương.
Sau khi Nhật Bản trao trả 'độc lập', vua Bảo Đại và chính phủ mới Trần Trọng Kim đã nhanh chóng tuyên bố quốc hiệu là Việt Nam.
Đây cũng là cái tên mà Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu đặt cho các đảng phục quốc, cách mạng.
Quốc hiệu Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố với thế giới sau đã thành tên nước cho cả Nam và Bắc đến 1975 và ngày nay.
Đế quốc Việt Nam năm Bảo Đại 20 chọn cờ vàng ba sọc đỏ với một sọc đứt quãng theo quẻ Ly của Kinh Dịch làm quốc kỳ.
Nhà Nho học Trần Trọng Kim dẫn sử để nói đó là màu cờ vàng của Triệu Thị Trinh khi khởi nghĩa chống quân Ngô.
Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục
Dù có một số nỗ lực dùng tiếng Nhật thời Nhật Bản chiếm Đông Dương, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Việt và một số văn bản Hán ngữ đến năm 1945.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, đóng vai trò chính trong việc ra quyết định dùng tiếng Việt hệ quốc ngữ thay tiếng Pháp.
Ông soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt và đưa bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Đây là cơ sở cho chương trình trung học trên toàn Việt Nam ở cả hai miền dưới hai chế độ đối nghịch.
Các sách giáo khoa chịu ảnh hưởng của giai đoạn Hoàng Xuân Hãn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu từ 1936 đến 1947.
Đó là thời gian ông xuất bản tiểu sử Lý Thường Kiệt và La Sơn phu tử, soạn từ vựng danh từ khoa học Toán Lý Hóa cho người Việt Nam.
Đòi lại miền Nam để thống nhất lãnh thổ
Theo sử gia Lê Mạnh Hùng, ngày 16/06, Vua Bảo Đại ra tuyên bố thống nhất tương lai của ba kỳ về một.
Chính phủ Trần Trọng Kim cũng ngay lập tức đàm phán với Nhật để đòi lại ba thành phố trực trị của người Pháp trước đó là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Cuộc gặp của Trần Trọng Kim với gặp Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật tại Đông Dương trong tháng 7 đã đem lại kết quả quan trọng.
Tân chính phủ Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo ba đô thị lớn: Trần Văn Lai làm Thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh làm Thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm Thị trưởng Tourane (Đà Nẵng).
Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai đã cho đổi tên phố từ tên Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc Việt Nam.
Sang tháng 8/1945, Nhật Bản đồng ý trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim và ông Nguyễn Văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ.
Không có quân đội riêng, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ dựa vào tình thế và quyết tâm của các trí thức để đàm phán với Nhật Bản.
Nhưng về mặt chính trị, tâm lý dân tộc và hành chính, nhận lại Nam Kỳ là thành tựu có tính biểu tượng quan trọng.
Hành động này không chỉ xóa nỗi nhục bại trận - cuộc chiến mất nước của Đại Nam bắt đầu từ Nam Kỳ - mà còn duy trì giấc mơ thống nhất ba miền các bậc tiền bối nuôi dưỡng.
Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập
Dù không có thực quyền và không được các đại cường công nhận - bởi là chính quyền có quan hệ mật thiết với Đế quốc Nhật - Trần Trọng Kim, đã lập ra Hội đồng dự thảo Hiến pháp.
Hội đồng gồm các trí thức, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.
Hiến pháp công nhận tự do lập nghiệp đoàn, các hội nghề nghiệp.
Tổng hội Công chức ra đời để làm lực lượng chính trị ủng hộ cho tân chính phủ.
Các hội đoàn thanh niên sau là cơ sở cho các phong trào vũ trang chống Pháp của cả phe cộng sản và cộng hòa.
Trong Tuyên chiếu 03/05/1945, vua Bảo Đại đã viết:
"Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp.
Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân."
Đặc biệt, theo lời nhà vua, "Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả."
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp này đã không hoàn tất được vì các công việc cấp bách hơn như cứu đói cho miền Bắc.
Theo sử gia Trần Gia Phụng, chính phủ Trần Trọng Kim tuy được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, đã hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.
Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng
Các hạn chế của chính phủ Trần Trọng Kim đã được nói đến nhiều, gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản.
Nội các này đã tan rã trong làn sóng cách mạng nổi lên và mục tiêu giành giật vùng ảnh hưởng của các đại cường.
Ý thức được những vấn đề đó, các trí thức trong chính phủ này đã chọn con đường trao lại quyền lực không đổ máu cho một chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.
Được biết vua Bảo Đại đã [ không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08].
Tại Hà Nội, tuần hành của Tổng hội Công chức ngày 19/08 biến thành biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo.
Dù vậy, Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh b.ắ.n vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp.
Là chính phủ chuyên viên đầu tiên của Việt Nam thời hiện đại, nội các Trần Trọng Kim đã rút lui trong hòa bình để trao quyền lại cho thế hệ các chính khách và nhà làm cách mạng chuyên nghiệp.
Về thể chế, Đế quốc Việt Nam rút lui đã khép lại thời kỳ quân chủ.

Saturday, April 11, 2026

NHỮNG DIỄN TIẾN QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRƯỚC NGÀY 30-4-1975

 

Tác Giả: Vương Hồng Anh
* Những Cảm Tử Quân trên đường rút quân
Theo kế hoạch rút quân, ngoại trừ Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù được di chuyển trên đường lộ với sự bảo vệ an ninh lộ trình của Đại Đội Trinh Sát Dù, các Tiểu Đoàn Dù đều phải băng rừng mở đường di chuyển. Bốn giờ sáng ngày 21/4/1975, tại ấp Quí Cả, gần địa giới hai tỉnh Long Khánh và Phước Tuy, đoàn xe chở Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù và Đại Đội Trinh Sát Dù bị 2 Tiểu Đoàn cộng quân phục kích. Pháo Đội C và một Trung Đội của Đại Đội Trinh Sát Dù bảo vệ Pháo Đội này đã bị tổn thất, đa số quân sĩ đều bị thương vong trước các đợt tấn công biển người của cộng quân. Trên lộ trình triệt thoái, Đại Đội đi đầu của Tiểu Đoàn 9 Dù đã đụng độ nặng với cộng quân tại thung lũng Yarai, dưới chân núi Cam Tiên. Đại Đội này đã bị những “chốt” của cộng quân từ trên cao bắn xuống. Cuộc giao tranh kéo dài nhiều giờ. Để diệt các chốt của cộng quân, các toán cảm tử Dù được thành lập ngay tại trận địa với những quân nhân tình nguyên. Những cảm tử quân này mặc áo giáp, đeo súng phóng hoả tiển cá nhân M 72, lựu đạn, bò đến các “chốt” cộng quân ở trên núi cao. Có nhiều toán vừa bò lên núi, đã bị cả chục trái lựu đạn của địch từ trên cao ném xuống.
Họ phải lách thật nhanh, nằm xuống, trước khi lựu đạn địch quân nổ, hoặc chụp lấy và mém trả lại. Trong trường hợp bắn M-72 nếu không có kết quả, họ phải thay đổi ngay vị trí để tránh sự bắn trả của cộng quân.
Có những người lính Dù đã làm cho mọi người khâm phục về sự dũng cảm phi thường của họ. Chiếc bunker cuối cùng của cộng quân trên núi Cam Tiên vô cùng kiên cố. Đó là hầm chỉ huy của một đơn vị cộng sản bắc việt. Hai cảm tư quân Dù đã bắn M72 vào bunker này nhưng vẫn không hạ được mục tiêu. Một đồng đội của họ từ lưng chừng núi đứng lên, để M 72 trên vai, bắn thẳng vào mục tiêu. Từng loạt đạn của cộng quân bắn trả tới tấp. Nhưng người xạ thủ gan dạ này vẫn đứng thẳng không chịu cúi xuống tiếp tục bắn: chiếc bunker chỉ huy và các ổ súng nặng của cộng quân bị hủy diệt. Thanh toán xong mục tiêu này, các đơn vị Dù tiếp tục cuộc hành trình gian khó tiến về Bà Rịa. (Phần này biên soạn theo tài liệu của Thiếu Tá Phạm Huấn, 1 nhà báo quân đội, và lời kể của một số nhân chứng).
* Tái phối trí tại phòng tuyến mới: Trảng Bom - Long Thành - Phước Tuy
Ngày 22 tháng 4/1975, cuộc rút quân hoàn tất. Sư Đoàn 18 Bộ Binh sau khi về đến Long Lễ trong ngày 21/4/1975, đã được được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho di chuyển nghỉ dưởng quân hai ngày tại Long Bình, sau đó các Trung Đoàn và đơn vị thuộc dụng được điều động đi tăng cường phòng thủ tuyến mặt Đông thủ đô Sài Gòn, kéo dài từ Tổng kho Long Bình đến Kho đạn Thành Tuy Hạ, tiếp cận với lực lượng của các quân trường như Trường Bộ Binh, Trường Thiết Giáp;
Lữ Đoàn 1 Dù được bố trí giữ Phước Tuy, bảo vệ Quốc lộ 15 từ LongThành về Bà Rịa, và là lực lượng tiếp ứng cứu Vũng Tàu khi thành phố này bị tấn công.
Với kế hoạch phối trí mới của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III để bảo vệ Sài Gòn, kể từ sáng 22/4/1975, phòng tuyến án ngữ phía Bắc và phía Đông của Quân Đoàn III và Quân Khu 3 được thành hình với liên tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy. Lực lượng chính tại phòng tuyến này có Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù, Lữ Đoàn 3 Thiết kỵ (do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy) và Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến. Trước đó, Lữ Đoàn 147 và 258 Thủy Quân Lục Chiến đã được tăng phái cho Quân Đoàn III và là lực lượng bảo vệ phía Bắc của phi trường Biên Hoà
Về lực lượng phòng thủ vòng đai xa của Sài Gòn, tính đến ngày 22 tháng 4/1975, có 3 Sư Đoàn Bộ Binh: Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy; Sư Đoàn 25 Bộ Binh do Tướng Lý Tòng Bá chỉ huy, phụ tại phòng tuyến Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Sư Đoàn 5 Bộ Binh do Tướng Lê Nguyên Vỹ chỉ huy, phụ trách phòng tuyến Bình Dương.
_____________________
6. VÒNG ĐAI SÀI GÒN – TRẬN CHIẾN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 4-75
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG 4 NĂM 1975
* Toàn cảnh về tình hình chiến sự tại miền Đông Nam Phần từ 24-4 đến 27-4-1975
Từ ngày 24-4-1975, tình hình chiến sự tại vùng trách nhiệm của Quân Đoàn III ngày càng sôi động kể từ khi Sư Đoàn 18 Bộ Binh, lực lượng Nhảy Dù, các binh đoàn tăng phái triệt thoái khỏi Xuân Lộc. Trước những diễn biến dồn dập, sáng ngày 26 tháng 4/1975, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp để bàn kế hoạch tái phối trí lực lượng tại Quân Khu 3 và khu vực quanh Sài Gòn. Theo đó, cụm tuyến phòng ngự sẽ gồm có: tuyến vòng đai Thủ đô, tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy.
Trong khi cuộc họp hành quân đang diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, thì tin tức tình báo ghi nhận cộng quân đang tung quân cố cắt đứt trục giao thông Sài Gòn – Vũng Tàu ở đoạn Long Thành, cùng lúc đó, Thông Tin thám sát của các toán tình báo kỹ thuật cũng ghi nhận một đơn vị Pháo của cộng quân đã di chuyển về hướng Bà Rịa.
Tại tỉnh Phước Tuy, từ ngày 24 tháng 4/1975, phòng tuyến Bà Rịa (Tỉnh lỵ) do Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù và Chi Đoàn 2/15 Thiết Vận Xa đảm trách. Quân số Sư Đoàn 3 Bộ Binh chỉ còn hơn 1 ngàn kể cả thành phần quân nhân tập hợp từ Sư Đoàn 1 Bộ Binh nhập lại. Với chừng ấy quân số, chỉ đủ để thành lập 2 Tiểu Đoàn, 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 2 và 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 56. Về lực lượng 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 1 Dù, quân số của mỗi Tiểu Đoàn chỉ còn khoảng từ 357 đến hơn 400 quân sĩ. Nếu tính cả các đơn vị Địa Phương Quân, quân số phòng thủ vòng đai chưa đến 3 ngàn quân, chưa bằng quân số của 2 Trung Đoàn, trong khi đó tại khu vực này đã có 2 Sư Đoàn cộng quân, 1 Trung Đoàn pháo và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp.
Theo phân nhiệm, Lữ Đoàn 1 Dù chịu trách nhiệm trấn giữ vòng đai ngoài của Thị xã Bà Rịa (Tỉnh lỵ tỉnh Phước Tuy) và Quốc lộ 15. Sư Đoàn 3 Bộ Binh phụ trách một số khu vực gần Bà Rịa. Bộ Chỉ Huy Hành quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đóng trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy. Các đơn vị của Sư Đoàn 3 Bộ Binh có đủ súng cá nhân cho binh sĩ nhưng thiếu súng cộng đồng, máy truyền tin và thiếu cả sự yểm trợ của Pháo Binh. Khi còn hoạt động tại chiến trường Quảng Nam (Quân Khu 1), cũng như các Sư Đoàn Bộ Binh khác, Sư Đoàn 3 Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly và 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 ly (mỗi Tiểu Đoàn có khoảng 18 khẩu đại bác).
Sau hai ngày tạm im tiếng súng, vào 6 giờ chiều ngày 26/4/1975, mặt trận Phước Tuy bắt đầu sôi động trở lại. cộng quân pháo kích vào Thị xã Bà Rịa, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy, tư dinh Tỉnh Trưởng, Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp. Trận mưa pháo kích kéo dài 3 tiếng. Toàn bộ hệ thống điện trong Thị xã Bà Rịa đều bị hư hại. Khoảng 10 giờ đêm, cộng quân tổ chức tấn công theo 3 mũi vào Tỉnh lỵ, 2 mũi do Bộ Binh và Thiết Giáp cộng sản bắc việt phối hợp đánh vào Trung tâm Tiếp vận Tiểu Khu và Tư dinh Tỉnh Trưởng, 1 mũi vào khu vực dọc theo xa lộ mới ở phía Nam Thị xã Bà Rịa. Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Mặt trận Bà Rịa, điều động 1 Tiểu Đoàn Dù và đặt đơn vị này thuộc quyền chỉ huy của Đại Tá Tỉnh Trưởng – Tiểu Khu Trưởng Phước Tuy để tổ chức các cuộc phản công đánh đuổi cộng quân ra khỏi trung tâm Thị xã. Tiểu Đoàn Dù đã bắn cháy 5 chiến xa cộng quân ngay trong đêm 26/4/1975.
Rạng sáng ngày 27/4/1975, lực lượng Nhảy Dù đã quét cộng quân ra khỏi Tỉnh lỵ. Để ngăn chận các đợt tấn công kế tiếp của cộng quân, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Dù tăng thêm quân phòng thủ bên ngoài Thị xã. Khoảng 8 giờ sáng, cộng quân điều động hai Trung Đoàn Bộ Binh và khoảng 30 chiến xa từ hai hướng mở đợt tấn công thứ hai vào Thị xã Bà Rịa. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đã chống trả quyết liệt và cả hai bên đều bị thiệt hại nặng.
Theo hồi ký của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh mặt trận Bà Rịa, vào 2 giờ chiều ngày 27/4/1975, Lữ Đoàn 1 Dù được lệnh rút khỏi Bà Rịa và về phòng thủ tuyến Cỏ May (nằm trên đường Bà Rịa – Vũng Tàu). Cùng trong buổi chiều ngày 27/4/1975, một đơn vị Công Binh Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến để giật sập cầu Cỏ May hầu ngăn chận cộng quân tràn qua.
Tại Long Thành, tối 26 tháng 4/1975, cộng quân tấn công vào trường Thiết Giáp, chiếm quận lỵ Long Thành và cắt đứt Quốc lộ 15 nối liền Vũng Tàu và Sài Gòn. Cũng trong ngày 26 tháng 4/1975, một Tiểu Đoàn đặc công cộng quân đánh chiếm cầu xe lửa về hướng Tây Nam thành phố Biên Hoà trong khi đại bác của các đơn vị Pháo Binh cộng quân bắn phá vào căn cứ Không Quân Biên Hoà. Ngày 27 và 28/4/1975, cộng quân tiếp tục pháo kích vào các vị trí của quân trú phòng tại Long Thành và khu vực phụ cận.
Cũng trong hai ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân điều động Bộ Binh và Thiết Giáp tiến đến gần liên tỉnh lộ 25 và nhắm quận lỵ Nhơn Trạch, một đơn vị cộng sản bắc việt đánh chiếm các đồn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân dọc trên đường tiến quân.
Tại Trảng Bom do một đơn vị của Sư Đoàn 18 Bộ Binh phụ trách đã bị cộng quân pháo liên tục trong các ngày 26, 27:
Tại vòng đai Sài Gòn, tuyến phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phải co cụm lại: vùng Tây Bắc còn lại tỉnh Biên Hoà, phía Đông còn Long Thành, phía Bắc còn Lai Khê, phía Đông Nam còn Hóc Môn. Trong đêm 26 tháng 4/1975, cộng quân đồng loạt tấn công khu Tân Cảng, cầu Biên Hoà và đài phát tuyến Phú Lâm. Một Tiểu Đoàn Dù đang bảo vệ dinh Độc Lập đã được điều động đến Tân Cảng và nhanh chóng quét sạch địch quân khỏi khu vực này. Tại Củ Chi, sau khi triệt thoái từ Tây Ninh, lực lượng bộ chiến Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã cố gắng lập tuyến chận địch tại Củ Chi. Tại vòng đai Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt khu Thủ đô, đã tổng điều động toàn bộ lực lượng cơ hữu và tăng phái để lập các cụm điểm chận địch tại các yết hầu trọng yếu vào Sài Gòn.
Sáng ngày 27 tháng 4/1975, tình hình Thủ đô Sài Gòn đã trở nên sôi động khi cộng quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt, tiếp đó một đơn vị đặc công cộng sản bắc việt đã tấn công cầu xa lộ Tân Cảng và cầu xa lộ Biên Hoà. Lực lượng xung kích của Biệt Khu Thủ Đô đã được điều động khẩn cấp để giải toả áp lực địch. Đến chiều ngày 27/4/1975, lực lượng tiếp ứng Việt Nam Cộng Hoà đã giải toả áp lực địch tại các khu vực này, cộng quân phải rút lui sau khi bị tổn thất nặng.
Tại Bình Dương, liên tiếp trong các ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân tấn công mạnh vào phòng tuyến của một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh gần quận lỵ Phú Giáo, 2 phi cơ phản lực của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà luân phiên thực hiện các đợt oanh tạc vào những vị trí tập trung của cộng quân để ngăn cản sức tiến quân của địch. Trong nỗ lực chận đứng các cuộc tấn công của đối phương vào căn cứ Lai Khê, bản doanh của bộ Tư Lệnh và một số đơn vị của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn, đã cho lập các cụm điểm án ngữ quanh vòng đai căn cứ này. Cũng cần ghi nhận rằng từ khi quận Chơn Thành bị bỏ ngõ vào giữa tháng 4/1975, căn cứ Chơn Thành trở thành tiền đồn của tỉnh Bình Dương. Trong một chuyến thị sát tình hình chiến trường, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã khuyên Tướng Vỹ nên di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê về Phú Lợi, chỉ nên để lại 1 Trung Đoàn phòng ngự căn cứ. Tuy nhiên Tướng Vỹ đã không đồng ý. Ông nói với tướng Toàn: Nếu bộ Tư Lệnh Sư Đoàn di chuyển về Phú Lợi, anh em binh sĩ sẽ nói mình là "di tản chiến thuật”... Tôi quyết ở lại sống chết với căn cứ này…
_______________________________________
7. KẾ HOẠCH CỦA NGŨ GIÁC ĐÀI CỨU NGUY VIỆT NAM CỘNG HOÀ NĂM 1975
* Bộ Quốc Phòng Mỹ đề nghị những biện pháp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà
Như VB đã trình bày, vào tuần lễ cuối cùng của tháng 3/1975, Tổng Thống Ford đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình…
Đại Tướng Weyand là một vị Tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV). Đại Tướng Weyandrd đã thăm và tìm hiểu tình hình Việt Nam từ ngày 28/3/1975 đến ngày 4/4/1975. Trở về Mỹ, ông đã làm một phúc trình đặc biệt lên Tổng Thống Ford về tình hình Việt Nam và những đề nghị khẩn cấp để cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà. Sau đây là phần phúc trình của Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân, đại diện Bộ Quốc Phòng Mỹ, về những biện pháp khẩn cấp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà trong tháng 4/1955.
– Những gì xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong tháng tới hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện, hay không được thực hiện, bởi bắc việt, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, và Hoa Kỳ trong hai tới ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.
– Ngoại trừ lực lượng cộng quân bắc việt bị chận đứng tại trận địa hay Hà Nội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã nào khác, cộng sản bắc việt sẽ đánh bại Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà trên bình diện quân sự. Không có dấu chỉ cho thấy bắc việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói là hai, trong số năm Sư Đoàn cộng quân bắc việt hiện đang có mặt tại Quân Khu 2 sẽ đủ để tấn công lực lượng Việt Nam Cộng Hoà tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn II. Nếu một trong số năm Sư Đoàn của cộng quân bắc việt hiện đã có mặt tại Quân Khu 2 được đưa xuống Quân Khu 3 đặc biệt là nếu được tăng cường với Pháo Binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Quân Khu 3 sẽ bị nghiêng ngửa. Các lực lượng của Việt Nam Cộng Hoà tại vùng Đồng Bằng (Miền Tây Nam phần), đủ khả năng đương đầu với lực lượng cộng quân hiện đã có mặt trong Quân Khu 4, và vùng này sẽ không đứng vững nổi nếu Quân Khu 3 tan rã sau các cuộc thất bại tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2.
– Hình ảnh phác hoạ trên may ra có thể biến cải đang khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà điều quân tại Vùng 3 Chiến Thuật với các đơn vị sống sót từ Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và tái trang bị. Chúng ta có thể chẩn đoán là bắc việt có thể tiến quân và xung trận các Sư Đoàn hiện diện tại Nam Việt Nam nhanh hơn là Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà có thể thiết lập các Sư Đoàn tân trang.
– Còn phần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, phải thực hiện những công tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí quân sự tại Quân Khu 3, nhưng cũng để, và có lẽ quan trọng hơn, khiến cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài lãnh đạo của các nhân vật tối cao của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà. Trong lãnh vực tinh thần, miền Nam Việt Nam, ít ra tại Quân Khu 3, kể cả Sài Gòn, rất gần kề miệng dốc đưa tới thất bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.
* Vai Trò và Các Lựa Chọn Hành Động của Hoa Kỳ
Về phần vai trò và các lựa chọn hành động của Hoa Kỳ trong tình hình nguy kịch của Việt Nam Cộng Hoà, bản phúc trình của Đại Tướng Weyand viết như sau:
– Điều gì Hoa Kỳ làm, hay không làm, trong những ngày tới có lẽ là yếu tố định đoạt cho những biến cố xảy ra trong mấy tuần tới; điều này cũng đúng đối với điều gì Sài Gòn hay Hà Nội làm hay không làm. Một mình Hoa Kỳ không thể cứu vãn Nam Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ có thể, cho dù có vô tình đi nữa, xô đẩy Nam Việt Nam xuống hố chôn.
– Đề nghị cụ thể của tôi có thể được phân thành hai loại. Có những hành động ngắn hạn, một phần về mặt thể lý nhưng chính yếu về mặt tâm lý, cần để nâng tinh thần Nam Việt Nam và, nếu có thể, ép buộc đình trệ hành động. Điều này chỉ mua được thời giờ, nhưng trong tình thế hiện tại thời giờ là điều tối cần. Thứ đến, có những hành động dài hạn, tuy mang tính chất vật chất nhưng cũng có khía cạnh tâm lý mạnh mẽ, cần thiết nếu muốn Nam Việt Nam có tí hy vọng tồn tại trước sự tàn phá của bắc việt hay thương thảo một hiệp ước khác hơn là đầu hàng.
Điều kiện tiên quyết và cấp bách là Việt Nam cảm thấy Hoa Kỳ ủng hộ. Cảm quan này quan trọng về mọi mặt. Cảm quan Hoa Kỳ giảm thiểu ủng hộ Nam Việt Nam khuyến khích bắc việt tiếp tục tấn công. Chính cảm quan này đã khiến Việt Nam Cộng Hoà bắt đầu triệt thoái khỏi các vị trí lẻ tẻ và lộ liễu tại các tỉnh phía bắc. Cảm quan này được cấu tạo bởi các hành động sau đây: Ngay sau khi ký kết Hiệp Định Ba Lê, 1.6 tỷ mỹ kim được đệ trình để cung ứng cho nhu cầu của Nam Việt Nam cho tài khoá 1974; 1.126 tỷ mỹ kim được xuất ra —thanh thoả 70% nhu cầu. Tiếp sau đó 500 triệu mỹ kim còn lại bị từ khước không được tháo khoán. Đối với tài khoá năm nay, 1.6 tỷ được đệ trình để duy trì khả năng tự vệ của Nam Việt Nam; 700 triệu được chấp thuận, thanh thoả 44 nhu cầu. Những hành động này đã giúp khai sinh khủng hoảng tin tưởng khiến Chính Phủ Nam Việt Nam dùng tới biện pháp triệt thoái chiến lược.
– Điều then chốt cho sự tồn tại sống còn của quốc gia Việt Nam nằm trong khả năng của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ổn định tình thế, và đem các nguồn lực quân sự chống đối lại sức tấn công của bắc việt. Khả năng ổn định tình thế này tùy thuộc, một phần lớn, vào khả năng thuyết phục hạ tầng giới quân nhân và dân sự là chưa đến nỗi mất tất cả, và còn có thể chận đứng bắc việt. Tuy đó là trách vụ chính của Chính Phủ Việt Nam, các hành động về phía Hoa Kỳ mang tính chất quyết liệt trong việc tái tạo niềm tin.
Hành động mà Hoa Kỳ có thể làm để gây nên ấn tượng tức khắc cho Việt Nam, Bắc lẫn Nam, —là dùng không lực Hoa Kỳ để chận đứng thế tấn công hiện tại của cộng quân bắc việt. Cho dù chỉ giới hạn trên phần đất Nam Việt Nam và chỉ thực hiện trong một thời gian giới hạn, những tấn công này sẽ gây tổn thất lớn lao cho lực lượng viễn chinh bắc việt về mặt nhân sự và quân cụ, và sẽ tạo một chấn động về mặt tâm lý đối với các chiến binh xâm lăng. Những tấn công không tập này cũng sẽ khiến giới lãnh đạo Hà Nội phải đắn đo suy nghĩ, thái độ mà hiện giờ họ không có, đến hậu quả tai hại có thể xảy đến nếu họ làm ngơ lời cam kết chính thức họ đã hứa với Hoa Kỳ.
Giới lãnh đạo quân sự Việt Nam Cộng Hoà thuộc mọi cấp bậc đều luôn lập đi lập lại tầm mức quan trọng của sử dụng B-52 phản công chống lại một lực lượng địch to lớn hơn và quan điểm này hợp lý về mặt quân sự. Tôi ý thức đến các khó khăn về mặt pháp lý và chính trị gây nên bởi việc thi hành biện pháp không tập này.
Một việc quan trọng mà Hoa Kỳ cần phải làm là xác định một cách rõ ràng Hoa Ky quyết tâm ủng hộ Nam Việt Nam. Việc này phải bao gồm lời minh định tích cực của Tổng Thống và các giới chức cao cấp Mỹ. Tinh thần suy sụp của dân chúng Việt Nam đã hứng khởi lên rõ rệt khi phái đoàn Hoa Kỳ do Tổng Thống phái đi với nhiệm vụ điều tra tình hình đặt chân tới Sài Gòn. Có thêm những hành động tương tự như vậy sẽ minh chứng mối quan tâm của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào các lời xác định của Ngành Hành Pháp, cần thêm nỗ lực tạo một mối quan tâm chung tại mọi lãnh vực trên đất Hoa Kỳ. Sự ủng hộ từ các thành viên của Quốc Hội; xác định lập trường ủng hộ từ các nhân vật có trọng trách trong và ngoài chính phủ; và sự thông cảm trong giới báo chí Hoa Kỳ sẽ cải biến cảm quan về phía Hoa Kỳ liên quan đến tình hình tại Việt Nam.
___________________________
8. SỰ YỂM TRỢ CUỐI CÙNG CỦA HOA KỲ CHO QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN KỂ LẠI CHIẾN SỰ 1975:
* Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Mỹ, đến Sài Gòn quan sát tình hình chiến sự
Ngày 26 tháng 3/1975, sau khi lực lượng Việt Nam Cộng Hoà triệt thoái khỏi Kontum, Pleiku, Phú Bổn (Quân Khu 2), các Sư Đoàn chủ lực của cộng sản bắc việt gây áp lực nặng quanh vòng đai Đà Nẵng, các quận phía Tây tỉnh Quảng Nam, và các tỉnh duyên hải của Quân Khu 2 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà). Cũng trong ngày này, chính phủ Hoa Kỳ đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình. Đại Tướng Weyand là một vị tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV).
Trước khi Đại Tướng Weyand đến Việt Nam, vào cuối tháng 2/1975, ông Eric Von Marbod, Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, đã đến Việt Nam. Lúc đó, cộng sản bắc việt chưa khởi động cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột. Trong thời gian viếng thăm Việt Nam, ông Marbod đã gặp và trao đổi ý kiến với Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, về tình hình chiến sự.
Trong cuộc tiếp xúc với vị Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ đặc biệt cung cấp vũ khí nào mà Không Quân Việt Nam có thể sử dụng được. Đó là loại bom 15 ngàn cân Anh có tên là bom bạch cúc (Daisy Cutter) mà Không Quân Hoa Kỳ thường dùng thả bằng phi cơ C-130 để khai quang dọn bãi đáp trong các khu vực rừng già. Thế nhưng, gần đến cuối cuộc chiến, Hoa Kỳ mới đáp ứng yêu cầu của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sau chuyến viếng thăm của Đại Tướng Weyand.
Như VB đã trình bày trong bài tổng lược về hoạt động của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà vào giai đoạn cuối cuộc chiến, 27 quả bom này được dự trù vận chuyển đến Việt Nam cùng với chuyên viên Hoa Kỳ trong vòng một tuần. Vào giữa tháng 4/1975, ba trái chuyển đến trước và sau đó ba trái nữa chuyển đến chỉ hai ngày trước khi cuộc chiến kết thúc. Một chuyên viên Mỹ đi theo chuyến này để hướng dẫn cho chuyên viên Việt Nam cách gắn ngòi nổ và cách gắn bom lên phi cơ. Thế nhưng chuyên viên Mỹ này không đến kịp. Trước tình hình khẩn cấp và vì mức độ nguy hiểm nếu tồn trữ thứ bom này tại Tân Sơn Nhứt hay tại Long Bình nên Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phải chọn một phi công kinh nghiệm để bay thả thử trái đầu tiên.
Trở lại với cuộc viếng thăm của Đại Tướng Weyand, theo lời của Đại Tướng Cao Văn Viên trình bày trong cuốn hồi ký do Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ xuất bản (dịch giả Duy Nguyên chuyển sang Việt ngữ và đồng ý cho VB sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến Việt Nam), diễn tiến các cuộc tiếp xúc của vị Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà được ghi nhận như sau.
* Các cuộc tiếp xúc giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên
Trong thời gian Đại Tướng Weyand thăm Việt Nam, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã không có buổi thuyết trình chính thức nào dành cho Đại Tướng Weyand, nhưng giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên đã có những cuộc tiếp xúc bàn luận về tình hình và trao đổi ý kiến về tình hình chiến cuộc. Trong các lần tiếp xúc, Đại Tướng Cao Văn Viên đã cho Đại Tướng Weyand biết những khó khăn mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đang gặp phải và chỉ yêu cầu một điều duy nhất: Xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 để đánh vào những nơi tập trung quân và các căn cứ lộ thiên mà cộng quân vừa thiết lập. Tướng Viên nói rằng nếu có được B-52 thì sự tự tin và tinh thần chiến đấu của quân sĩ sẽ được phục hồi nhanh chóng.
Trước yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Weyand giải thích cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà biết là “bất cứ hình thức can thiệp mới nào của Mỹ tại Việt Mam cũng đều phải được sự chấp thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ”, do đó yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên rất ít hy vọng được chấp thuận.
* Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Weyand
Phái đoàn của Đại Tướng Weyand sau đó cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ đến thăm chính thức Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập. Trong khi trao đổi ý kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, phái đoàn Hoa Kỳ đưa ra các điểm chính sau đây:
- Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà nên giải thích cho dân chúng biết tình hình để người dân không còn lo sợ bởi những tin đồn thất thiệt do địch cố tình tung ra. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà nên xuất hiện nhiều hơn trên truyền hình cho dân chúng biết mặt.
- Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cần được trao thêm nhiều quyền hạn hơn trước.
- Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nên tìm một chiến thắng, dù thật nhỏ, để tạo điều kiện cho Chính phủ Hoa Kỳ xin Quốc hội duyệt thêm 300 triệu đô quân viện bổ sung. Theo nhận xét của Đại Tướng Weyand, Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt tại vùng Mũi Két là một mục tiêu tốt để Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tạo một chiến thắng “thật ngoạn mục”.
– Vấn đề di tản dân tị nạn nên được giải quyết sớm. Nhất là phải chú tâm đến các thân nhân gia đình binh sĩ. Thành phần này cần sớm được đưa ra khỏi vùng nào có nguy cơ sẽ xảy ra chiến trận.
Tất cả những vấn đề liên quan chính phủ và dân chúng đều được thảo luận giữa Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ. Theo lời kể của Đại Tướng Cao Văn Viên, vấn đề cho Bộ Tổng Tham Mưu có thêm quyền hạn không được bàn đến nữa vì đây là một vấn đề rất tế nhị và chỉ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới làm được điều đó nếu ông muốn.
Về đề nghị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tạo một chiến thắng, Đại Tướng Cao Văn Viên hoàn toàn đồng ý nhưng ông nhận định rằng muốn làm cũng không làm được vì bộ Tổng Tham Mưu không còn lực lượng nào trong tay để tiêu diệt Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt, trong tình hình này, phải chờ một cơ hội thuận tiện mới có thể làm được.
* Nỗ Lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Trong cuộc họp, Đại Tướng Cao Văn Viên nhắc lại yêu cầu của ông là xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 oanh tạc các nơi địch tập trung quân. Theo Đại Tướng Viên, chỉ bằng cách đó mới có hiệu quả, mới làm cho tinh thần quân dân Việt Nam lên cao được. Tướng Viên cũng đã trình bày cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ những nỗ lực của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong hoàn cảnh không được sự yểm trợ hoả lực của B-52. Suốt trong vài tháng cuối của cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chỉ thị cho Không Quân dùng phi cơ C-130 vận tải để thi hành nhiệm vụ yểm trợ chiến thuật, tăng cường hoả lực.
Khi được sử dụng để thi hành nhiệm vụ chiến thuật, mỗi C-130 mang theo tám bánh thùng dùng đựng JP-4 chứa đầy dầu phế thải. Phi cơ bay trên độ cao từ 15 đến 20 ngàn feet. Mỗi lần phi cơ bay qua và bom nổ, binh sĩ dưới đất lấy làm vui mừng. Được hướng dẫn bằng vô tuyến từ dưới đất nên rất chính xác, mỗi đợt thả chỉ cách nhau 150 đến 450 mét.
Mỗi C-130 có thể chở đến 8 bành bom loại thùng GP 81-82 (tương đương với 250-500 cân anh) hay ba bành loại GP-117 (tương đương với 750 cân Anh. Binh sĩ đặt tên cho các phi vụ này là “tiểu B-52” hay B-52 Việt Nam. Lần đầu tiên khi loại bom này được thả tại Tây Ninh, dân chúng tưởng đó là B-52 của Mỹ thả. Vậy là tin đồn Không Quân Mỹ can thiệp yểm trợ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã được loan đi thật nhanh.
Về việc di tản thân nhân gia đình binh sĩ rời những nơi có chiến trận, Đại Tướng Viên cho rằng việc làm này thường có tác dụng ngược. Tướng Viên nêu ra nhận xét: nếu không có thân nhân tại đó, tinh thần chiến đấu của binh sĩ sẽ giảm sút. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nhắc đến một số kinh nghiệm trong quá khứ, nhất là kinh nghiệm của trận Mậu Thân 1968 và tại các tiền đồn xa xôi, vợ con binh sĩ là những người giúp tải đạn, tải thương và thậm chí sử dụng cả đại liên rất hữu hiệu.
Những đề nghị của Đại Tướng Viên được phái đoàn Hoa Kỳ ghi nhận, và khi Tướng Weyand rời Việt Nam thì cộng quân đang bao vây phòng tuyến Phan Rang và tấn công vào mặt trận Long Khánh. Trong tình hình chiến sự sôi động, nhiều giới chức của Việt Nam Cộng Hoà hy vọng ở sự can thiệp của Không Quân Hoa Kỳ để chận đứng cuộc tấn công lớn của cộng quân, dù biết rằng đó là một hy vọng vô cùng mong manh…
Vương Hồng Anh