; }

Wednesday, August 26, 2026

NAM KỲ SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE (1954-1955): CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ PHỨC TẠP TẠI MIỀN NAM

1. Nam Kỳ năm 1955: Quyền lực phân mảnh và quá trình tái định hình chính trị sau Hiệp định Genève

Năm 1955 là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất của lịch sử Nam Kỳ hiện đại.
Chỉ một năm sau Hiệp định Genève (1954), miền Nam Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển tiếp đầy biến động khi chính quyền trung ương tìm cách thiết lập quyền kiểm soát trên một vùng lãnh thổ, trong bối cảnh đã tồn tại nhiều trung tâm quyền lực độc lập suốt gần một thập niên chiến tranh.
Nếu bố cục bản đồ hành chính khi ấy, dù toàn bộ Nam Kỳ thuộc quyền quản lý của Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng đầu (đến tháng 10 năm 1955 trở thành Việt Nam Cộng hòa). Tuy nhiên, Nam Kỳ khi ấy lại là một không gian đa cực quyền lực (multi-polar political order) - bạn đọc xem bản đồ hành chính trong ảnh, được dựng lại dựa theo tài liệu của H. Summers - nơi nhiều chủ thể chính trị cùng tồn tại, cạnh tranh và kiểm soát lãnh thổ.
Điểm đặc biệt của Nam Kỳ năm 1955 là phần lớn các lực lượng này không chỉ sở hữu quân đội mà còn xây dựng được hệ thống hành chính, kinh tế và xã hội riêng. Các bộ máy này hoạt động như những "nhà nước trong lòng nhà nước" (state within a state), khiến quyền lực của chính quyền trung ương chỉ là một trong nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại.
2. Tình hình Nam Kỳ sau Hiệp định Genève
Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và quy định việc tập kết quân đội về hai miền. Phần lớn lực lượng Việt Minh rút ra miền Bắc, nhưng một bộ phận cán bộ chính trị và cơ sở bí mật vẫn ở lại Nam Kỳ. Đồng thời, chính quyền mới tại Sài Gòn phải tiếp quản một vùng đất vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, nơi các thiết chế hành chính còn yếu và nhiều lực lượng vũ trang chưa chịu giải giáp.
Trên danh nghĩa, chính phủ trung ương kiểm soát toàn bộ miền Nam. Nhưng trên thực tế, quyền lực chỉ thực sự vững chắc tại Sài Gòn, Chợ Lớn và một số đô thị lớn. Ở nhiều vùng nông thôn, đặc biệt tại Tây Ninh và đồng bằng sông Cửu Long, các giáo phái và thủ lĩnh quân sự địa phương mới là lực lượng quyết định trật tự xã hội.
Nam Kỳ lúc này gồm năm tầng quyền lực cùng tồn tại:
- Chính quyền trung ương,
- Các giáo phái vũ trang,
- Các thủ lĩnh quân sự địa phương,
- Hệ thống hành chính tỉnh huyện,
- Mạng lưới cơ sở bí mật của lực lượng cộng sản.
Chính sự chồng lấn này khiến việc quản lý lãnh thổ trở nên hết sức phức tạp. Đối với nhiều học giả và cố vấn phương Tây thời kỳ đó, Nam Kỳ năm 1955 là hình ảnh của một "quốc gia chưa hoàn chỉnh" (unfinished state).
Một nhà nước hiện đại thường phải nắm ba quyền lực cơ bản:
- Độc quyền sử dụng vũ lực.
- Độc quyền thu thuế.
- Độc quyền quản lý hành chính và tư pháp.
Tuy nhiên, cả ba yếu tố này đều chưa được chính quyền miền Nam kiểm soát hoàn toàn.
Nhiều khoản thuế tại địa phương không chảy về ngân sách quốc gia mà được các giáo phái hoặc lực lượng địa phương thu trực tiếp. Nhiều đơn vị quân sự không chịu sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng VNCH mà trung thành với các thủ lĩnh riêng. Ngay cả việc giải quyết tranh chấp dân sự hay giữ gìn trật tự ở nhiều vùng cũng do các giáo phái đảm nhiệm.
Điều này khiến quyền lực nhà nước không trải đều trên lãnh thổ mà chỉ hiện diện mạnh ở các đô thị và các tuyến giao thông quan trọng.
3. Các giáo phái tại Nam Kỳ như những thực thể bán quốc gia
Một sai lầm phổ biến là xem Cao Đài hay Hòa Hảo đơn thuần là các tổ chức tôn giáo. Thực tế, đến năm 1955, cả hai tổ chức này đều đã phát triển thành những thực thể chính trị – quân sự với đầy đủ các yếu tố của một chính quyền địa phương.
Trong vùng ảnh hưởng của mình, họ có quân đội, cảnh sát, hệ thống thu thuế, trường học, bệnh viện, kho lương thực, mạng lưới hậu cần và thậm chí cả cơ chế giải quyết tranh chấp. Người dân ở nhiều khu vực tiếp xúc với chính quyền giáo phái nhiều hơn chính quyền Sài Gòn. Lòng trung thành của họ vì thế thường gắn với cộng đồng địa phương hoặc tổ chức tôn giáo hơn là với quốc gia.
4. "Quốc gia tôn giáo" Cao Đài
Đạo Cao Đài phát triển mạnh mẽ nhất ở khu vực Tây Ninh. Tòa Thánh Cao Đài không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của toàn bộ vùng ảnh hưởng.
Lực lượng Cao Đài từng sở hữu hàng chục nghìn binh sĩ cùng hệ thống doanh trại, kho vũ khí và cơ sở hậu cần hoàn chỉnh.
Trong nhiều năm, Tây Ninh vận hành gần như một vùng tự trị với hệ thống quản lý riêng. Sau năm 1954, một số lãnh đạo Cao Đài chấp nhận hợp tác với chính quyền Sài Gòn, trong khi những nhóm khác vẫn duy trì mức độ độc lập đáng kể.
Chính vì vậy, việc giải thể quân đội Cao Đài trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Ngô Đình Diệm nhằm xây dựng một nhà nước thống nhất.
5. Quyền lực dựa trên mạng lưới xã hội của Hòa Hảo
Khác với Cao Đài, Hòa Hảo không tập trung quyền lực vào một trung tâm duy nhất.
Sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ qua đời năm 1947, phong trào chia thành nhiều nhóm do các thủ lĩnh quân sự lãnh đạo. Mỗi nhóm kiểm soát một khu vực riêng với các tuyến sông, chợ, kho lúa và mạng lưới làng xã.
Đây là kiểu quyền lực dựa trên quan hệ cộng đồng, tín ngưỡng, họ hàng và uy tín cá nhân. Vì vậy, chính quyền VNCH muốn kiểm soát vùng Hòa Hảo không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà còn phải thay thế toàn bộ mạng lưới xã hội đã tồn tại nhiều năm.
6. Thủ lĩnh địa phương Ba Cụt
Ba Cụt (Lê Quang Vinh) là một trong những nhân vật tiêu biểu của lực lượng Hòa Hảo nhưng hoạt động tương đối độc lập.
Ba Cụt không xây dựng một bộ máy hành chính quy mô lớn mà dựa vào khả năng tác chiến, uy tín cá nhân và việc kiểm soát các tuyến giao thông đường thủy.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, việc kiểm soát sông ngòi đồng nghĩa với kiểm soát thương mại, thuế khóa và vận chuyển lương thực. Chính điều đó tạo nên sức mạnh kinh tế cho các thủ lĩnh địa phương. Những khu vực như Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên đều chịu ảnh hưởng đáng kể của lực lượng này.
7. "Nhà nước mafia" Bình Xuyên
Nếu Cao Đài dựa vào tôn giáo và Hòa Hảo dựa vào cộng đồng nông dân thì Bình Xuyên xây dựng quyền lực chủ yếu trên nền tảng kinh tế.
Xuất thân từ các nhóm giang hồ vùng sông nước, Bình Xuyên dưới thời Bảy Viễn dần kiểm soát phần lớn hoạt động kinh tế ngầm của Sài Gòn – Chợ Lớn. Nguồn thu của nhóm cát cứ này đến từ sòng bạc, khu giải trí, bến cảng, vận tải và nhiều loại hình kinh doanh khác.
Điểm đặc biệt là trong một thời gian, Bình Xuyên còn được chính quyền Quốc gia Việt Nam giao quản lý lực lượng cảnh sát tại Sài Gòn – Chợ Lớn. Đây là trường hợp hiếm thấy trong lịch sử hiện đại khi một tổ chức bán quân sự vừa sở hữu quân đội riêng, vừa quản lý lực lượng công an, vừa điều hành mạng lưới kinh doanh quy mô lớn.
Đến năm 1955, Bình Xuyên trở thành đối thủ quân sự trực tiếp của chính quyền Ngô Đình Diệm. Cuộc giao tranh tại Sài Gòn vào tháng 4–5 năm 1955 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở đầu quá trình xóa bỏ các trung tâm quyền lực độc lập.
8. Lực lượng Việt Minh còn ở lại
Sau Hiệp định Genève, dù phần lớn lực lượng Việt Minh tập kết ra Bắc, nhiều cán bộ cấp xã, huyện và các cơ sở chính trị được lệnh ở lại để duy trì mạng lưới hoạt động bí mật.
Trong giai đoạn 1955–1959, họ chưa tiến hành chiến tranh quy mô lớn nhưng vẫn xây dựng cơ sở quần chúng, giữ liên lạc với miền Bắc và theo dõi tình hình chính trị tại địa phương.
Điều này khiến chính quyền Sài Gòn khi đó phải đối mặt đồng thời với hai thách thức: các lực lượng vũ trang công khai như Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và hệ thống tổ chức bí mật của lực lượng cộng sản.
9. Đời sống xã hội Nam Kỳ dưới nhiều tầng quyền lực
Sự phân mảnh quyền lực tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Ở nhiều địa phương, người dân có thể cùng lúc chịu sự quản lý của nhiều hệ thống khác nhau.
Ban ngày là chính quyền quận huyện, ban đêm có thể là lực lượng giáo phái hoặc các tổ chức khác. Có nơi người dân nộp thuế cho chính quyền trung ương nhưng vẫn phải đóng góp cho lực lượng địa phương để bảo đảm an toàn.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với tình trạng vô chính phủ. Trong nhiều vùng, các giáo phái vẫn duy trì được trật tự, bảo vệ sản xuất, tổ chức từ thiện, xây dựng trường học và cơ sở y tế. Chính nhờ mạng lưới xã hội sâu rộng đó mà họ nhận được sự ủng hộ của một bộ phận cư dân.
Bên cạnh những biến động chính trị, Nam Kỳ còn phải đối mặt với hậu quả của nhiều năm chiến tranh. Hạ tầng giao thông xuống cấp, sản xuất nông nghiệp chưa phục hồi hoàn toàn, trong khi làn sóng hàng trăm nghìn người di cư từ miền Bắc vào Nam sau năm 1954 tiếp tục làm thay đổi cơ cấu dân cư và phân bố đất đai.
10. Chính sách tập trung quyền lực của Ngô Đình Diệm
Đối với chính quyền Sài Gòn, sự tồn tại của nhiều đội quân tư nhân là trở ngại lớn nhất đối với việc xây dựng một nhà nước hiện đại.
Từ đầu năm 1955, chính quyền triển khai chương trình thống nhất quân đội, yêu cầu các giáo phái giải thể lực lượng riêng hoặc sáp nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Một số đơn vị chấp nhận hợp tác, nhưng nhiều nhóm lựa chọn đối đầu bằng quân sự.
Cuộc chiến với Bình Xuyên chỉ là bước mở đầu. Sau đó, chính quyền tiếp tục mở các chiến dịch nhằm làm suy yếu các lực lượng Cao Đài và Hòa Hảo còn chống đối. Đến cuối năm 1955 và trong năm 1956, phần lớn các vùng lãnh thổ từng nằm dưới quyền kiểm soát độc lập của các giáo phái đã được đưa vào hệ thống hành chính của chính quyền trung ương.
Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu lịch sử; những hành động của chính quyền VNCH không đơn thuần là những chiến dịch quân sự mà là quá trình xây dựng nhà nước (state-building). Mục tiêu cốt lõi là chuyển toàn bộ các chức năng công quyền – từ thu thuế, tuyển quân, xét xử, quản lý đất đai đến duy trì an ninh – về một bộ máy thống nhất đặt dưới quyền trung ương.
11. Các ảnh hưởng bên ngoài đến Nam Kỳ
Năm 1955 cũng đánh dấu sự thay đổi trong cán cân ảnh hưởng quốc tế tại miền Nam.
Sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, vai trò của Pháp suy giảm nhanh chóng. Trong khi đó, Hoa Kỳ tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự và cố vấn nhằm giúp chính quyền Ngô Đình Diệm củng cố bộ máy nhà nước và xây dựng lực lượng quân đội thống nhất.
Ở phía bên kia, miền Bắc tập trung củng cố chính quyền mới, đồng thời duy trì mạng lưới cơ sở bí mật tại miền Nam để chuẩn bị cho những diễn biến lâu dài của cuộc đấu tranh chính trị và quân sự sau này.
12. Ý nghĩa lịch sử trên tấm bản đồ Nam Kỳ 1955
Các mảng màu trên bản đồ Nam Kỳ năm 1955 chủ yếu phản ánh vùng ảnh hưởng chính trị – quân sự tương đối của từng lực lượng. Nhiều khu vực có quyền lực chồng lấn, thay đổi theo thời điểm, theo tuyến giao thông hoặc theo khả năng hiện diện của từng tổ chức.
Năm 1955 là thời điểm kết thúc dần mô hình quyền lực đa trung tâm hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và mở đầu cho quá trình xây dựng một nhà nước tập quyền ở miền Nam.
Cuộc cạnh tranh giữa chính quyền trung ương Sài Gòn với Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và các lực lượng địa phương không chỉ là xung đột quân sự, mà còn là sự va chạm giữa hai mô hình tổ chức quyền lực: một bên là các thiết chế địa phương dựa trên tôn giáo, cộng đồng hoặc thủ lĩnh quân sự; bên kia là nỗ lực xây dựng một quốc gia hiện đại với quyền lực tập trung và bộ máy hành chính thống nhất.
Nam Kỳ năm 1955 là một trường hợp điển hình về quá trình chuyển đổi từ một không gian hậu chiến đa cực sang một mô hình nhà nước tập quyền. Những diễn biến trong giai đoạn này không chỉ quyết định cục diện chính trị của Việt Nam Cộng hòa trong các năm tiếp theo mà còn tạo nền tảng cho những xung đột sâu sắc của Chiến tranh Việt Nam sau này.

Nguồn: FB Cổng văn hóa

Tuesday, July 28, 2026

TẠI SAO CÓ CHIẾN TRANH VIỆT NAM ?

Bút Sử

        

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – (The Truman Doctrine)

 

Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự Khủng Bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Có những người luôn phê bình tổng thống Johnson về điểm yếu của ông trong chính sách đương đầu với cộng sản miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, ông đã không chủ trương muốn chiến thắng. Nhưng kiểm lại tài liệu lịch sử thì thấy rằng ông Johnson đã không hẳn là vậy. Nguyên do của sự lưng chừng không dứt khoát đi ra từ những vấn đề phức tạp liên quan mà chúng tôi sẽ trình bày trong một tiêu đề khác. Cũng như tại sao Johnson đã không tái ứng cử.

 

We have learned at a terrible and brutal cost that retreat does not bring safety and weakness does not bring peace. It is this lesson that has brought us to Vietnam – Chúng ta học ở một cái giá khủng khiếp và tàn bạo rằng sự rút quân không mang lại an toàn và sự yếu đuối không mang lại nền hòa bình. Nó là bài học này mà đã đưa chúng ta tới Việt Nam.

 

Câu nói trên của tổng thống Lyndon Johnson trong một buổi họp báo tại Toà Bạch Ốc vào năm 1965 khi chuẩn bị tăng cường quân sự để đạt mục đích chiến thắng trong cuộc chiến hết sức cam go.

 

Tại Sao Có Chiến Tranh Việt Nam?

 

 

 

Một chút ít hậu cảnh khi nói về chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa Việt Minh với Pháp từ 1946-1954 kết thúc tại Điện Biên Phủ. Nguyên do có cuộc chiến này cũng vì sự xuất hiện của Hồ Chí Minh sau thế chiến thứ 2 kết thúc. Làn sóng đỏ bắt nguồn từ Hồ tại Á Châu là mối đe doạ cho khối tự do mà chính tổng thống Richard Nixon đã phải nhấn mạnh. Ông Nixon cho rằng nhiều người còn lầm tưởng đó là cuộc chiến có tinh thực dân của Pháp, nhưng thật ra đó là cuộc chiến tranh chống cộng sản (It is not colonialism, it is communism, No More Vietnams, trang 36).

 

Trong phim tài liệu “Why Vietnam” do John Ford thực hiện, ghi nhận hiện tượng coi như dị thường rằng có 3 nhóm người chống nhau tại 3 khu vực: nhóm Việt không cộng sản chống Việt cộng sản, và trong 2 nhóm đó có số người chống Pháp.

 

 

Sau khi thua trận Điện Biên Phủ (vũ khí của Tàu Nga cung cấp hùng hậu cho Việt Minh) Pháp rời Việt Nam. Lúc này cờ đỏ bay càng nhiều hơn trong mọi nẻo đường miền Bắc. Hiệp Định Geneva do Tạ Quang Bửu, đại diện cộng sản Bắc Việt, ký với Pháp chia đôi lãnh thổ Việt Nam tại vĩ tuyến 17, miềm Bắc thuộc cộng sản, miền Nam có chính phủ theo thể chế tự do.  Nếu cộng sản miền Bắc chấp hành những gì ghi trong hiệp định thì dù chia đôi nhưng dân chúng hai bên vẫn sống trong hoà bình yên ổn. Trường hợp Nam Hàn chẳng hạn, quân đội Hoa Kỳ vẫn đóng đó hàng chục năm, nhưng không ai cho rằng đó là hành động xâm lăng mà với mục đích giống như tại miền Nam Việt Nam là ngăn chặn làn sóng đỏ từ Bắc Hàn. Hơn nữa, quân đội Hoa Kỳ còn đó và trong hơn 3 thập niên qua, Nam Hàn đã và đang phát triển kinh tế vựot bực so với các quốc gia tiến bộ khác.

 

 

Riêng việc chia đôi Việt Nam thì phải hiểu đó là kế họach của Nga Tàu đưa ra cho tay sai Hồ Chí Minh thực hiện. Thực tế  thì nó là một thiết bị cho sự thắng lợi về phe cộng sản. Hình bên chúng ta thấy Chu Ân Lai lộ vẻ vui mừng thỏa mãn sau khi Pháp-Việt cộng sản ký xong Hiệp Định Geneva. Bắc Kinh cho rằng cái công thắng Pháp tại Điện Biên Phủ là do phe Trung Cộng làm thành; mà thật vậy, từ cố vấn chỉ huy, nhân sự tiếp trợ, đến vũ khí đạn dược đa phần do Trung Cộng cung cấp. Có thể nói từ thời điểm đó về sau Hà Nội bị một cái tròng nặng hơn vào cổ khó gỡ. Việc Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm bằng lòng chấp nhận Hòang Sa-Trường Sa là của Trung Cộng vào 1958 cho thấy rõ tư thế của phe Hồ bị lệ thuộc như thế nào.

 

 

Hơn một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam vì họ đã kinh nghiệm một thời gian khá dài trong sự cai trị độc tài khắc nghiệt của tập đoàn Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trong đoàn người xuôi Nam tỵ nạn có nhiều thành phần cộng sản được gài vào mà sau này chính sách báo cộng sản đã công nhận ít nhất 60 ngàn cán bộ.

 

Cộng sản miền Bắc gia tăng đàn áp trên mảnh đất miền Nam. Chính phủ miền Nam bắt buộc phải tạo thế phản công và  đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ. Cộng sản càng gia tăng lực lượng xâm lăng miền Nam thì Hoa Kỳ nhận thấy phải làm rộng thêm phạm vi công tác tiếp tay. Chính sách của Hoa Kỳ, nhấn mạnh hơn dưới thời tổng thống Harry Truman (The Truman Doctrine), lúc nào vẫn giúp các quốc gia trên thế giới, những nơi dân chủ và tự do của con người bị đe dọa.

 

 

 

 

Việc biên giới tại vĩ tuyến 17 trên thực tế đã không có giới hạn rõ ràng để ngăn ngừa làn sóng xâm lăng từ miền Bắc. Trong khi xô đẩy cán bộ vào Nam thực thi những công tác khủng bố người dân trong làng mạc miền Nam thì Hồ Chí Minh ngoài Bắc đóng vai một "hiền nhân đức độ"

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự khủng bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Miền Nam theo thể chế bầu chọn Tổng Thống và các chức vụ đại diện dân, trong khi tại miền Bắc rõ ràng chế độ cộng sản cho thấy họ không bao giờ nghĩ tới việc bầu cử tự do một cách công khai minh bạch. Năm 1954, tổng thống Eisenhower cũng đã giúp chính phủ miền Nam phát triển và giữ thế vững mạnh để có thể chống đỡ nếu có sự chống phá xảy ra. Năm 1955, Hoa Kỳ và các nước Úc, Pháp, Tân Tây Lan, Pakistan, Phillippines, Thailand và Anh đã ký cam kết bảo vệ an ninh trong vùng chống lại cộng sản. Hiệp ước này gọi là  SEATO (South East Asia Security Treaty Organization).

 

 

Trong khi miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đang kiến thiết xây dựng kinh tế, phát triển các bộ phận khác như giáo dục, nông nghiệp, thì miền Bắc người ta thấy dân ra sức lao động xây dựng những trung tâm huấn luyện hành động và tuyên truyền để chuyển gài cán bộ vào miền Nam. Chương trình của họ gồm cả hành động khủng bố và lật đổ để làm xáo trộn chính phủ miền Nam. Người ta còn nhớ mỗi lần sinh nhật 19 tháng 5 của ông Hồ, ông ta hay lên đài kêu gọi dân chúng nỗ lực thêm trong công tác khủng bố và đưọc vậy thì ông Hồ trọng thưởng những cá nhân đó trong ngày sinh nhật của ông ta.

 

 

 

 

 

 

 

    

Với cách đánh du kích của quân miền Bắc, hành động rất dã man, không thương xót mạng đồng bào của họ, mục đích là tàn phá, thì Hà Nội gọi đó là “cuộc chiến tranh giải phóng”. Việc này không bao giờ đúng đối với hàng ngàn những người chống cộng lúc đó. Lãnh đạo, giáo chức và gia đình họ cùng trẻ con họ bị cộng sản vào nhà ban đêm dẫn đi, có khi xác tìm thấy đâu đó hay mất tích!

 

Vào 1959, tổng thống Dwight Eisenhower nhận ra hiểm họa tại Việt Nam. Ông đã quyết định giúp miền Nam bảo vệ vùng đất tự do chống lại làn sóng đỏ từ Bắc lan vào. Eisenhower đã tuyên bố bổn phận công dân Hoa Kỳ làm gì và cái giá phải trả để bảo vệ tự do tại ngay đất Mỹ phải qua nhiều hình thức khác nhau, kể cả phải hy sinh mạng người tại Đức,Việt Nam, Trung Đông…

 

 

Đến 1960 thì tại miền Nam có thể nói chiến trận mọi nơi. Càng lúc càng thấy rõ vị thế nước Mỹ phải làm gì và họ đang đương đầu với ai. Trong diễn văn vào 1965, tổng thống Johnson đã nhấn mạnh cho công dân Mỹ biết là:

 

In this war, it is guided by North vietnam and it is furnished by communist China. Its goal is to conquer the South and to extend asia to millions of commuinsts … Trong cuộc chiến này, nó được chỉ đạo bởi miền Bắc Việt Nam và được trang bị bởi Trung Cộng. Mục đích của cuộc chiến là để thống trị miền Nam và để bành trướng Á Châu có thêm hằng triệu người cộng sản.

 

 

Không ai thấy rõ âm mưu này hơn những người dân miền Nam. Chính phủ miền Nam, vào 1961, cấp bách gọi Washington DC trình bày về hiện trạng. Hoa Kỳ gởi qua quân cụ, súng ống, và kỹ thuật viên. Họ huấn luyện người Việt cách dùng để đạt hiệu quả. Những cố vấn người Mỹ này là chuyên gia, rất giỏi, và năng động. Họ học cả tiếng Việt để giảng huấn. Ngay trong thời điểm này, những người Mỹ tại Việt Nam chỉ là những cố vấn, không có một căn cứ quân sự nào được thành lập. Nhiều trạm y tế công cộng do người Mỹ dựng lên để giúp tìm bệnh và cho thuốc, cũng như nhiều trường hợp khác trong tinh thần nhân đạo.

 

 

Chiến Tranh Du Kích (The Guerrilla Warfare, The Latest Technique of the Global Communist Plan)

 

Đương đầu với những trận đánh du kích mọi nơi, mọi tỉnh trong miền Nam là một điều vô cùng khó khăn cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

 

 

Việt Cộng lẫn vào dân để sống và hăm doạ dân nếu không làm theo kế hoạch của họ. Tại miền Bắc, thanh niên bị cưỡng ép vào quân đội, nếu không thì tai hoạ cho gia đình, bằng cách này hay cách khác họ sẽ bị hại, có trường hợp nhà nước cộng sản cắt "hộ khẩu" để không được quyền mua bán gì cả. Có người vì đói quá phải gia nhập quân đội để gia đình bớt đi phần ăn. Những anh bộ đội mặt mày còn non nớt, chưa hiểu rõ nguyên nhân của cuộc chiến, hoặc hiểu theo lối tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” khi mà trước 1965 Hoa Kỳ chưa đặt một cơ cấu quân sự nào cả.

 

Không gì hơn là chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường thêm những phái đoàn cố vấn. Họ đã chứng kiến cảnh chiến tranh không rõ hàng ngũ (no frontlines) bởi vì phe cộng sản là du kích, ẩn hiện mọi nơi, có khi họ bắt dân làm theo họ, và phe quân đội miền Nam phải có cách tìm ra sự thật là vấn đề không phải dễ, nhất là về tâm lý thì cộng sản tuyên truyền "quân đội miền Nam tấn công dân chúng". Người Việt với nhau đã khó như thế thì với người Mỹ càng khó khăn hơn.

 

 

Hình ảnh trong phim tài liệu ta thấy cảnh Việt Cộng tải thương và tử thi thì đó là dấu hiệu cho biết là Việt Cộng còn hiện diện không xa trong địa phận đó. Đây là trạng huống đau đớn mà những người lính Việt Nam Cộng Hoà phải để trong đầu, phải chuẩn bị chiến đấu với địch trong bất cứ lúc nào.

 

Cộng Sản Tấn Công Tàu Maddox

 

 

 

báo Thanh Niên đăng tin Kỷ Niệm 40 năm Bắc Việt tấn công tàu Maddox Báo Thanh Niên, 30/7/2004, kỷ niệm 40 năm ngày cộng sản Bắc Việt tấn công Maddox.

Một bằng chứng không thể chối cãi.

 

Vào tháng 8, 1964, cộng sản miền Bắc mở rộng phạm vi của sự phức tạp. Với sự tăng cường lực lượng vào Nam càng ngày càng nhiều, cùng vũ khí đạn dược do Nga Tàu cung cấp, không gì hơn là làm ra cuộc chiến tranh thật sự gài Mỹ vào trong thế phải nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến. Vì có thế cộng sản miền Bắc mới có cớ tuyên truyền mạnh “Mỹ xâm lăng” và dùng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”.Chiêu bài này chỉ cho dân miền Bắc vì ngoài ấy mọi thông tin bị bít kín, ngoại trừ tin của Đảng.

 

Trong tháng 7, 1964, để làm giảm làn sóng ồ ạt đưa vũ khí, người vào Nam, cố vấn của tổng thống Johnson thảo ra nghị quyết có tính trừng phạt cộng sản miền Bắc nếu họ cứ tiếp tục xâm lăng thì miền Nam sẽ tấn công ra Bắc. Nghị quyết chưa được đem ra quốc hội bàn thảo, và việc này, tổng thống Johnson không vội vàng xúc tiến chỉ chờ xem những đợt xua quân xâm lăng có giảm thiểu hay không.

 

Ngày 2 tháng 8, 1964, Bắc Việt tấn công tàu khu trục Maddox của Hoa Kỳ tại hải phận quốc tế gần vùng biển Thanh Hoá. Cộng sản viện lý do tàu Maddox vi phạm hải phận Việt Nam vào tối 31 tháng 7. Ba chiếc phóng lôi (torpedo) tấn công với tốc độ nhanh vào gần Maddox. Những tiếng súng cảnh báo từ Maddox bắn ra nhưng phóng lôi vẫn tiến tới, hải quân Mỹ phải dùng súng 5in bắn ra triệt hạ một tàu và làm hư hại một tàu khác. Cộng sản bắn 2 ngư lôi vào Maddox nhưng không trúng, cách tàu 200 yards. Liền đó, tàu được tiếp viện không vận, cuộc xung đột ngưng. Bên Mỹ không thiệt hại gì cả.

 

Hai ngày sau, 4 tháng 8, tàu khu trục thứ hai tên C. Turner Joy đến tiếp trợ. Người trực radar trên tàu Maddox phát hiện 5 chiếc phóng lôi của cộng sản đang tiến tới. Lúc này  2 chiếc tàu Mỹ biết họ bị tấn công liền gọi không vận yễm trợ và ra lệnh sẵn sàng ứng chiến. Kết quả 2 tàu cộng sản bị bắn chìm và 2 bị hư hại.

 

Chủ trương của Hoa Kỳ lúc này là không tỏ thái độ muốn chiến tranh với miền Bắc (restraint). Sau vụ tàu bị tấn công 2 lần, Hoa Kỳ đo lường được mức độ gây hấn của cộng sản. Các vị chỉ huy quân sự và cố vấn cho rằng cộng sản xem sự hạn chế của Hoa Kỳ đồng nghĩa với thế yếu ớt thiếu nghị lực nên quyết định tấn công. Tổng thống Johnson quyết định trả đủa, và sau đó nghị quyết đã được đem ra bàn thảo và được quốc hội thông qua. Đây cũng là lần đầu tiên những người Mỹ với súng ống, máy bay xả xuống khu căn cứ hải quân của địch tiêu diệt 25 chiếc phóng lôi. Tài liệu sau này cho thấy rõ miền Bắc muốn Mỹ nhúng tay càng nhanh càng tốt  vào cuộc chiến để chính thức phóng ra một cách mạnh mẽ chiêu bài “Mỹ xâm lăng” đệm thêm vào chiêu bài cũ là “giải phóng miền Nam” mà xem ra không có hiệu quả về mặt tuyên truyền.

 

Trong lúc quân đội miền Nam và đồng minh Hoa Kỳ giao chiến với cộng sản miền Bắc thì tổng thống Johnson vẫn trong tinh thần không muốn chiến tranh lan rộng. Hoa Kỳ nhiều lần yêu cầu cộng sản miền Bắc ngồi vào bàn hội nghị để bàn việc ngưng chiến tiến tới một giải pháp tốt đẹp 2 bên, nhưng phe cộng sản không bao giờ chấp nhận. Trái lại, có lần một chiếc tàu chỡ vũ khí tiến vào Nam bị chận bắt, trong đó rất nhiều vũ khí đạn dược do Trung Cộng chế tạo. Có khi phải dội bom để ép cộng sản vào bàn hội nghị cũng vẫn không thành công.

 

Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Dean Rush, đã cố gắng vận dụng để đem Hà Nội vào bàn hội nghị. Ngay cả Liên Hiệp Quốc, Anh, Ấn Độ làm cùng một mục đích, nhưng Hà Nội và Bắc Kinh vẫn thái độ từ chối. Tổng thống Johnson đề nghị vào bàn họp vô điều kiện cũng vẫn bị Hà Nội và Bắc Kinh từ chối và còn cho đó là trò đánh lừa của Mỹ. 17 nước, không là đồng minh của Hoa Kỳ, cũng đề nghị một giải pháp hoà bình vô điều kiện vẫn không thay đổi thái độ của Hà Nội và Bắc Kinh.

 

Thế giới thấy rõ cộng sản đang muốn thống trị miền Nam. Hà Nội quyết định không chọn giải pháp tiến tới hoà bình, còn Bắc Kinh thì trắng trợn hơn, họ tuyên bố chủ thuyết và mục đích của cộng sản Trung Hoa không thể thay đổi, sự tiến tới một Đông Nam Á cộng sản, và sau đó là đại đồng thế giới.

 

Johnson: We do not seek the destruction of any government or make any territory. We always insist the people of South Vietnam shall have the right of choice, the right to shape their own destiny in  free elections in the South, or throughout all Vietnam  under international supervision. They should not have any government imposed upon them by force and terror so long as we can prevent it. We do not want an expanding  struggle with consequences that no one can perceive. We will not surrender and we will not retreat – Chúng tôi không chủ trương phá hoại bất cứ chính phủ nào hay tìm vùng ảnh hưởng. Chúng tôi luôn khẳng định người dân miền Nam nên có quyền tự chọn hình thức cho vận mệnh của họ qua những cuộc bầu cử tự do, hoặc là cho cả toàn dân Việt Nam dưới sự kiểm soát của quốc tế. Họ không nên có một chính phủ nào áp đặt cho họ bằng bạo lực và khủng bố trong lúc chúng ta đang còn có thể ngăn ngừa chuyện đó. Chúng tôi không muốn một cuộc tranh đấu kéo dài với hậu quả mà không ai biết trước. Chúng tôi sẽ không đầu hàng và chúng tôi sẽ không rút quân.

 

 

 

 

 

 

 

Trong cuộc chiến chống lại dân chúng, những loại chất nổ mạnh không chỉ nhắm vào những người đàn ông mang vũ khí, nhưng Toà Đại Sứ tại Saigon chính nó cũng trở thành một trận điạ lớn. Những tên khủng bố Việt cộng đã chọn nơi này để đặt bom. Họ đã có tính toán kỹ lưỡng và tiếp tục chiến dịch tạo khủng bố chống lại người Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và công dân Việt tại miền Nam.

 

Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ càng được tăng cường để đối kháng lại địch quân càng ngày càng có chiến lược tinh vi hơn, gồm cả giương đông kích tây, nhất là những trận du kích khó đóan biết, những vụ gài mìn trên đường lộ để làm tắt nghẽn lưu thông, đặt bom phá cầu, khủng bố những nhà kinh doanh bằng cách vào nhà ban đêm để thu tiền (đóng hụi chết cho cộng sản), chặt đầu trưởng ấp ban đêm rồi treo tòn ten trên bìa rừng cây cao su dọc quốc lộ 1 Saigon Tây Ninh, một hình thức khủng bố cho dân sợ.v.v..

 

 Tổng thống Johnson nói: Nếu tự do còn tồn tại trong từng nhà người Mỹ tại Hoa Kỳ thì tự do trước đó đã được gìn giữ duy trì tại nơi như Việt Nam. Ông cũng cho rằng hầu hết dân vùng Á Châu không thể tự mình bảo vệ chống lại cộng sản, một lọai người mang chủ nghĩa không tưởng đang lan tràn sanh sản nhanh chóng mà ông ví họ như lòai chuột trong đám cỏ có nọc độc.

 

Đội quân chiến đấu Hoa Kỳ đã đến. Sứ mệnh của họ rất đơn giản – chiến đấu cho tự do tại Việt Nam. Họ biết rằng cái gọi là “chiến tranh giải phóng” chỉ là một hình thức xâm lược và nó sẽ bị đánh bại. Người Mỹ cũng đã thấy rõ rằng cộng sản miền Bắc đã chọn con đường xâm lăng vào Nam và làm hằng triệu dân miền Nam chịu tổn thất, đau khổ.

 

As long as there are men who hate and destroy, we must have the courage to resist …we did not choose to be the guardians at the gates, but there is no one else, said JohnsonNgày nào còn những người chỉ biết thù ghét và tàn phá, chúng ta phải có can đảm để chống lại. Chúng ta không chọn để trở thành người bảo vệ tại các cổng, nhưng mà không còn ai cả ngòai chúng ta.

 

 

Bút Sử

 

Sources:

 

Why Vietnam, John Ford, 1973

We Will Stand in Vietnam, 1965

The Vietnam War, Bernard C. Nalty, 1998

Friday, June 26, 2026

SUY NGHĨ VỀ “HÒA GIẢI” VÀ “GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”

Trần Trung Đạo

(Nhân câu nói của Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao trong dịp thăm Việt Nam “trái tim tôi thuộc về nước Mỹ, dòng máu thuộc về Việt Nam” và báo chí CSVN đáp lại bằng một số khẩu hiệu quen thuộc như “hòa giải”, “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” v.v… Mời đọc bài viết dưới đây phân tích lý do tại sao sau 51 năm các khẩu hiệu đó vẫn chỉ là những khẩu hiệu tuyên truyền.”)

---------------
Mỗi người Việt Nam dù đi xa bao nhiêu đều mang theo trong lòng một quê hương. Truyền thống của dân tộc Việt Nam là "nhiễu điều phủ lấy giá gương", là "lá lành đùm lá rách", là "một giọt máu đào hơn ao nước lã" chứ không phải độc tài hay thù hận. Dân tộc Việt Nam, bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, là một thực thể thống nhất và không một thế lực nào, một ý thức hệ ngoại lai vong bản nào có thể làm phân ly chia cách.
Thế nhưng, sau 51 năm, ý nghĩa của khái niệm dân tộc vô cùng thiêng liêng quý giá đó vẫn chưa là thực tế. Dân tộc Việt Nam đến nay vẫn còn một đoàn người nối đuôi nhau nhận sự ban phát từ chức tước bổng lộc đến chén cơm manh áo từ tay giới lãnh đạo đảng không khác gì thời vua chúa phong kiến. Sinh mệnh của họ và tương lai của con cháu họ vẫn còn trong tay một nhóm người rất nhỏ nhen, ích kỷ và lạc hậu.
Giống như trường hợp một con người bình thường phải vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt để tiến thân, một dân tộc chỉ có thể đuổi kịp đà tiến của nhân loại nếu dân tộc đó vượt qua được những bất hạnh của chính mình và vận động được sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Do Thái chỉ vỏn vẹn hơn 6 triệu dân, sống trong một diện tích 20 ngàn cây số vuông, và bị các quốc gia thù địch bao vây ngay từ ngày lập quốc, nhưng họ đã tồn tại và vươn lên nhờ sự vận dụng sức mạnh dân tộc rộng lớn khắp thế giới.
Vì điều kiện lịch sử, chất xám Việt Nam cũng trải rộng khắp năm châu, tinh hoa Việt Nam có mặt trong mọi ngành khoa học kỹ thuật của nhân loại và đang dấn bước vào chính trường của các quốc gia họ định cư. Thế nhưng cho đến nay, tuyệt đại đa số trong số 300 ngàn trí thức Việt Nam hải ngoại, như nhiều nguồn ước lượng, vẫn không hợp tác với đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam. Họ chẳng phải thuộc thành phần “bám theo chân đế quốc” hay “chống Cộng tới cùng” gì đâu, mà là những người thật sự quan tâm cho tương lai dân tộc.
Ngọn núi cách ngăn giữa họ và quê hương chính là cơ chế chính trị tại Việt Nam.
Việc bất hợp tác của họ với nhà nước Việt Nam không phải phát xuất từ những cách ngăn quá khứ, mà là vì những dị biệt khi nhìn về tương lai dân tộc.
Mối lo mất quyền lực đã làm cho giới lãnh đạo đảng hoài nghi trước mọi đóng góp của trí thức hải ngoại dù là những đề án hoàn toàn không liên hệ gì đến chính trị. Không một người Việt Nam có lương tâm nào mà không khỏi đau lòng khi nhìn lại đất nước sau 51 năm chấm dứt chiến tranh nhưng lòng người vẫn còn ngăn cách, anh em nhìn nhau thù hằn xa lạ. Một ông thủ tướng đi thăm nước ngoài mà bị chính dân nước mình biểu tình phản đối, phải đi vào cửa trước và đi ra cửa sau thì có gì để đáng hãnh diện.
Về hòa giải, lịch sử nhân loại đã để lại nhiều bài học quý giá về hòa giải.
Hãy tưởng tượng nếu tổng thống Abraham Lincoln thay vì nói “không ác tâm nhắm vào ai, với lòng nhân ái dành cho mọi người” (With malice toward none, with charity for all) trong phần kết luận diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ hai vào những ngày cuối của nội chiến Mỹ, mà kêu gọi “máu kêu trả máu đầu kêu trả đầu” thì nước Mỹ liệu có là một cường quốc hàng đầu thế giới và có diện tích trải rộng trên 9 triệu cây số vuông như ngày nay không?
Câu trả lời hẳn nhiên là không.
Hãy tưởng tượng khi Nelson Mandela, người bị tù suốt 27 năm ngoài hoang đảo và đã có thời gian nghiêng về phương pháp đấu tranh bằng võ lực, không chủ trương hòa giải mà nhất định trả thù cho bằng được thiểu số da trắng đã một thời đã áp đặt những đối xử bất công, phân biệt chủng tộc lên trên số phận của đa số người da đen thì nước Cộng hòa Nam Phi ngày nay liệu có còn là một trong những quốc gia ổn định và phát triển nhất Châu Phi?
Câu trả lời hẳn nhiên là không.
Hai nhà lãnh đạo quốc gia, tuy sinh ra và lớn lên trong những thời điểm lịch sử và hoàn cảnh bản thân khác nhau, nhưng đều sở hữu giống nhau ba đặc tính mà một lãnh tụ sáng suốt nào cũng cần phải có: kiên nhẫn, khôn ngoan và biết nhìn xa trông rộng.
Đất nước Việt Nam thời buổi này không có may mắn đó. Một trong những điều bất hạnh dễ nhận ra nhất là các nhà lãnh đạo Việt Nam không những thiếu ba đặc tính kiên nhẫn, khôn ngoan và nhìn xa thấy rộng đó, nhưng đáng buồn hơn họ lại mang trong người ba căn bịnh trái ngược với các đặc tính vừa nêu.
Thay vì kiên nhẫn trong từng bước đổi thay của đất nước bằng tinh thần hòa giải bao dung dân tộc, họ đã bắt nhân dân thắt lưng buộc bụng để “tiến nhanh, tiến mạnh” lên chế độ xã hội mà chính họ cũng chỉ mới được nghe qua hay đọc đâu đó trong các tài liệu tuyên truyền của đảng; thay vì áp dụng một cách khôn ngoan các chính sách đối ngoại thận trọng với những người từng là bạn cũng như rộng lượng ngay cả với những kẻ vốn là thù, họ đã chứng tỏ vô cùng thiếu khôn ngoan, kiêu căng vô lối trong bang giao quốc tế, để rồi dẫn đất nước vào vòng cô lập trong nghèo nàn lạc hậu suốt mấy mươi năm; thay vì nối lại nhịp cầu dân tộc mà trước đây các dã tâm thực dân đế quốc đã làm ngăn cách tình đồng bào ruột thịt, hay lót những viên gạch rắn chắc trên con đường dẫn đến tương lai hạnh phúc cho con cháu khi còn có quyền lực trong tay thì họ chỉ biết đợi đến cuối đời để ngậm ngùi nhìn lại.
Thủ tướng Konrad Adenauer, chính trị gia thân Mỹ hàng đầu tại Châu Âu sau Thế Chiến Thứ Hai, mặc dù lo tái thiết Tây Đức hoang tàn đổ nát bằng tiền của Mỹ, nhưng cũng không quên kín đáo tiếp xúc với Stalin để cứu những tù binh Đức bị tù trên lãnh thổ Liên Xô dù trước đây chế độ Đức Quốc Xã đã từng bỏ tù ông ta.
Tương tự, những gì Nelson Mandela đã cống hiến cho đất nước ông không phải vì nhờ ông đã quên quá khứ hay gác quá khứ qua một bên, nhưng nhờ ông đã sống rất trọn vẹn trong quá khứ, đã chiêm nghiệm và chuyển hóa những những vinh quang và chịu đựng, thành công và thất bại, hy vọng và tuyệt vọng của quá khứ thành nhựa nguyên, nhựa luyện cho những hàng cây xanh tốt tươi và hy vọng ở tương lai. Nelson Mandela là tổng thống da đen đầu tiên của Cộng hòa Nam Phi, nhưng không ít phụ tá của ông, chuyên viên cao cấp trong chính phủ là những người da trắng. Họ không phải chỉ được dựng lên để làm cảnh như Mặt trận Giải phóng Miền Nam, Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình tại Việt Nam trước đây, mà là những người có thực quyền. Ngoài ra, một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Nelson Mandela là thành lập ủy ban Sự thật và Hòa giải để điều tra các tội ác của chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi và thực thi chính sách hòa giải của ông.
Hòa giải chỉ có giá trị vĩnh cửu nếu hòa giải đó dựa trên sự thật và sự thật chỉ là viên ngọc quý khi nào nó được dùng để soi sáng công lý, xoa dịu khổ đau, chứ không phải để đào sâu thêm thù hận.
Các lãnh đạo đảng nói về hòa giải chắc là nhiều hơn cả Abraham Lincoln, Nelson Mandela và Konrad Adenauer cộng lại. Nhưng trong suốt 51 năm cai trị đất nước bằng nhà tù và súng đạn, họ chưa làm được một điều gì căn bản để thể hiện tinh thần đó.
Tệ hại hơn nữa, họ đã sử dụng hòa giải như là chiếc bẫy để lừa gạt những người dễ tin hay quá thật tâm đi tìm một con đường sống cho dân tộc. Đừng nói gì đến các chính sách đất nước đa màu (Rainbow Nation) nhìn xa thấy rộng như Nelson Mandela, hay hành động can đảm cứu người như của Konrad Adenauer, chỉ đơn giản sửa sang, tu bổ các ngôi mộ của những người lính miền Nam ở nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngoại ô Sài Gòn, giúp đỡ các thương phế binh miền Nam đang lây lất trên đường phố, họ cũng không làm.
Có nhiều lý do đã làm cho giới lãnh đạo đảng không thực tâm hòa giải và một trong những lý do đó là vì họ sợ sự thật.
Nhiều người cho rằng nhân dân Việt Nam quá sợ đảng Cộng sản, nhưng đừng quên giới lãnh đạo đảng cũng luôn bị ám ảnh bởi sự thật. Trong hơn năm chục năm qua, họ đã làm tất cả những gì có thể làm được để che giấu sự thật. Một tấm bia nhỏ để tưởng nhớ những đồng bào bỏ thây trên biển cả cũng làm họ run sợ. Một bức tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa tuy gãy đổ cũng làm họ ăn ngủ không yên. Các lãnh đạo đảng hẳn đang trách nhau tại sao năm mươi năm trước họ đã không san bằng nghĩa trang quân đội Biên Hòa cho rồi, để đến hôm nay, khi con dao chuyên chính vô sản không còn bén nữa, và trước mắt của cả thế giới khi vừa bước chân vào ngưỡng cửa WTO, họ không thể ra tay được.
Sinh viên Việt Nam nào cũng được dạy đảng là tổ chức anh minh, sáng suốt và lãnh đạo thành công mọi cuộc cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ trước đây cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nếu các em chịu khó vào trang mạng của đảng Cộng sản Việt Nam để đọc mục đích của đảng là gì, các em sẽ nhận thức ngay được tính mâu thuẫn đối kháng giữa nhu cầu của đất nước Việt Nam và quyền lợi của đảng.
Như một sinh viên, em muốn gì cho đất nước? Phải chăng đó là một Việt Nam hội nhập vào dòng thác cách mạng dân chủ, khoa học kỹ thuật, văn minh hiện đại của nhân loại bằng sức mạnh tổng hợp và đa diện của người Việt, không chỉ người Việt trong nước, mà cho dù họ đang định cư bất cứ nơi nào trên thế giới? Vâng, nhưng điều đó sẽ không thể thành sự thật khi đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến hôm nay vẫn bám vào hệ thống giáo điều lạc hậu, cơ chế độc tài mà hầu hết các quốc gia, từ dân chủ Tây phương cho đến các nước chậm tiến ở núi rừng Châu Phi khinh rẻ. Thế giới đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba rồi mà ngay trong trang mạng chính thức của đảng vẫn còn viết được những câu đầy tính lừa bịp như thế này: “Lý luận tập trung dân chủ là một bộ phận quan trọng của học thuyết Mác-Lênin về Đảng Cộng sản, là cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho các chính đảng của giai cấp công nhân thực hiện phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung thống nhất trong Đảng.”
Giả thiết cho dù đảng Cộng sản đã đóng vai trò lãnh đạo trong chiến tranh đi nữa, sau 51 năm đưa đất nước vào con đường tụt hậu so với đà tiến văn minh của nhân loại hôm nay thì liệu họ có xứng đáng tiếp tục lãnh đạo đất nước hay phải bước xuống trả lại quyền quyết định tương lai đất nước cho nhân dân Việt Nam?
Giả thiết cho dù chuyện công hay tội của đảng Cộng sản trong chiến tranh có thể còn là vấn đề đang tranh luận, thì trong 51 năm cầm quyền với những tộc ác không thể nào chối cãi khiến hàng triệu gia đình ly tán, hàng trăm ngàn đồng bào chết thảm thương trong rừng sâu nước độc, ngoài biển khơi, trong trại tập trung, thì nhân dân Việt Nam có nên để đảng Cộng sản tiếp tục đè đầu cỡi cổ nữa hay không?
Từ khi viên đại bác đầu tiên do thực dân bắn vào cửa biển Đà Nẵng năm 1847 cho đến năm 1954, máu của hàng triệu người Việt yêu nước đã đổ xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Dân tộc Việt Nam nhớ ơn họ và các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ cúi đầu mỗi khi nghĩ về họ. Mặc dù trong hàng ngũ đảng Cộng sản có những người bắt đầu hành trình bằng lòng yêu nước, đảng Cộng sản, ngay từ ngày thành lập cho đến nay chưa bao giờ là một đảng yêu nước.
Lịch sử sớm hay muộn rồi sẽ sang trang. Tôi tin sẽ có một ngày các cháu sinh viên học sinh Việt Nam ngồi đọc lại những chương buồn của lịch sử dân tộc với Nhân văn-Giai phẩm, với Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, với Tết Mậu Thân ở Huế, với Cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, với “Trại cải tạo” khắp ba miền, với Kinh tế mới, với Thảm cảnh biển Đông, và hẳn họ sẽ rơi nước mắt cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của ông bà mình.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo IV) 

Nguồn: FB Trần Trung Đạo

Monday, May 11, 2026

"QUỐC HIỆU VIỆT NAM"

Đây là tên nước 'ước mơ' của Hoàng đế Gia Long nhưng không được Thanh triều công nhận.

Tên nước Đại Nam do Vua Minh Mạng đặt đã bị Pháp xóa để lập ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trong Liên bang Đông Dương.
Sau khi Nhật Bản trao trả 'độc lập', vua Bảo Đại và chính phủ mới Trần Trọng Kim đã nhanh chóng tuyên bố quốc hiệu là Việt Nam.
Đây cũng là cái tên mà Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu đặt cho các đảng phục quốc, cách mạng.
Quốc hiệu Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố với thế giới sau đã thành tên nước cho cả Nam và Bắc đến 1975 và ngày nay.
Đế quốc Việt Nam năm Bảo Đại 20 chọn cờ vàng ba sọc đỏ với một sọc đứt quãng theo quẻ Ly của Kinh Dịch làm quốc kỳ.
Nhà Nho học Trần Trọng Kim dẫn sử để nói đó là màu cờ vàng của Triệu Thị Trinh khi khởi nghĩa chống quân Ngô.
Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục
Dù có một số nỗ lực dùng tiếng Nhật thời Nhật Bản chiếm Đông Dương, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Việt và một số văn bản Hán ngữ đến năm 1945.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, đóng vai trò chính trong việc ra quyết định dùng tiếng Việt hệ quốc ngữ thay tiếng Pháp.
Ông soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt và đưa bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Đây là cơ sở cho chương trình trung học trên toàn Việt Nam ở cả hai miền dưới hai chế độ đối nghịch.
Các sách giáo khoa chịu ảnh hưởng của giai đoạn Hoàng Xuân Hãn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu từ 1936 đến 1947.
Đó là thời gian ông xuất bản tiểu sử Lý Thường Kiệt và La Sơn phu tử, soạn từ vựng danh từ khoa học Toán Lý Hóa cho người Việt Nam.
Đòi lại miền Nam để thống nhất lãnh thổ
Theo sử gia Lê Mạnh Hùng, ngày 16/06, Vua Bảo Đại ra tuyên bố thống nhất tương lai của ba kỳ về một.
Chính phủ Trần Trọng Kim cũng ngay lập tức đàm phán với Nhật để đòi lại ba thành phố trực trị của người Pháp trước đó là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Cuộc gặp của Trần Trọng Kim với gặp Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật tại Đông Dương trong tháng 7 đã đem lại kết quả quan trọng.
Tân chính phủ Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo ba đô thị lớn: Trần Văn Lai làm Thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh làm Thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm Thị trưởng Tourane (Đà Nẵng).
Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai đã cho đổi tên phố từ tên Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc Việt Nam.
Sang tháng 8/1945, Nhật Bản đồng ý trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim và ông Nguyễn Văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ.
Không có quân đội riêng, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ dựa vào tình thế và quyết tâm của các trí thức để đàm phán với Nhật Bản.
Nhưng về mặt chính trị, tâm lý dân tộc và hành chính, nhận lại Nam Kỳ là thành tựu có tính biểu tượng quan trọng.
Hành động này không chỉ xóa nỗi nhục bại trận - cuộc chiến mất nước của Đại Nam bắt đầu từ Nam Kỳ - mà còn duy trì giấc mơ thống nhất ba miền các bậc tiền bối nuôi dưỡng.
Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập
Dù không có thực quyền và không được các đại cường công nhận - bởi là chính quyền có quan hệ mật thiết với Đế quốc Nhật - Trần Trọng Kim, đã lập ra Hội đồng dự thảo Hiến pháp.
Hội đồng gồm các trí thức, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.
Hiến pháp công nhận tự do lập nghiệp đoàn, các hội nghề nghiệp.
Tổng hội Công chức ra đời để làm lực lượng chính trị ủng hộ cho tân chính phủ.
Các hội đoàn thanh niên sau là cơ sở cho các phong trào vũ trang chống Pháp của cả phe cộng sản và cộng hòa.
Trong Tuyên chiếu 03/05/1945, vua Bảo Đại đã viết:
"Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp.
Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân."
Đặc biệt, theo lời nhà vua, "Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả."
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp này đã không hoàn tất được vì các công việc cấp bách hơn như cứu đói cho miền Bắc.
Theo sử gia Trần Gia Phụng, chính phủ Trần Trọng Kim tuy được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, đã hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.
Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng
Các hạn chế của chính phủ Trần Trọng Kim đã được nói đến nhiều, gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản.
Nội các này đã tan rã trong làn sóng cách mạng nổi lên và mục tiêu giành giật vùng ảnh hưởng của các đại cường.
Ý thức được những vấn đề đó, các trí thức trong chính phủ này đã chọn con đường trao lại quyền lực không đổ máu cho một chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.
Được biết vua Bảo Đại đã [ không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08].
Tại Hà Nội, tuần hành của Tổng hội Công chức ngày 19/08 biến thành biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo.
Dù vậy, Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh b.ắ.n vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp.
Là chính phủ chuyên viên đầu tiên của Việt Nam thời hiện đại, nội các Trần Trọng Kim đã rút lui trong hòa bình để trao quyền lại cho thế hệ các chính khách và nhà làm cách mạng chuyên nghiệp.
Về thể chế, Đế quốc Việt Nam rút lui đã khép lại thời kỳ quân chủ.