Tiểu Sử Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM
Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 03 tháng 01 năm 1901 tại làng Đại
Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, con của Cụ Nhiếp Chánh Đại Thần
Ngô Đình Khả và cụ bà Phạm Thị Thân. Tổng Thống là người con thứ Ba
trong gia đình có 6 trai và 3 gái.
Sáu trai là:
NGÔ ĐÌNH KHÔI
NGÔ ĐÌNH THỤC
NGÔ ĐÌNH DIỆM
NGÔ ĐÌNH NHU
NGÔ ĐÌNH CẨN
NGÔ ĐÌNH LUYỆN
Ba gái là:
NGÔ ĐÌNH THỊ GIAO
NGÔ ĐÌNH THỊ HIỆP
NGÔ ĐÌNH THỊ HOÀNG
Cụ cố Ngô Đình Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó,
tại Việt nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông
và Tây, như cụ cố Ngô Đình Khả. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau
đó vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang Đại chủng
viện Penang để học Triết học và Thần học bằng tiếng Pháp và tiếng La
Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng vì không có ơn gọi để
trở thành linh mục, Cụ đã xin trở về cuộc sống thế tục.
Cụ Cố Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương
trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách
mạng nổi danh thời đó như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ
Ngoại Hầu Cường Để. Thành tích đáng kể nhất của cụ cố Ngô Đình Khả là
nổ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên
giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính
Cụ là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân
Pháp đã phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong. Sau
đó Cụ đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.
Gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm rất trọng lễ giáo. Hằng
năm vào dịp Tết Nguyên Đán, mọi người trong gia đình tụ họp đông đủ ở
Phủ Cam - Huế. Việc chúc thọ và chăm sóc cụ bà Ngô Đình
Khả, được giao cho người con trai áp út Ngô Đình Cẩn, săn sóc chu đáo
ngày đêm.
Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái.
Trưởng nam là Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi, chết năm 1945 vì bị
Việt Minh bắt giữ và xử tử. Cùng bị bắt giữ trong đợt này còn có ông
Phạm Quỳnh, và con trai ông Ngô Đình Khôi là Ngô Đình Huân, cựu Thanh
tra Lao động trong chính phủ bảo hộ của Pháp. Sau khi bị xử tử, xác
của ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh được chôn chung trong một hố.
Sau ngày ông Ngô Đình Khôi qua đời, Tổng giám mục Ngô Đình
Thục, trở nên người anh cả "quyền huynh thế phụ". Đức cha được kính nể
và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Ngô Đình Diệm. Ông Quách Tòng Đức cho
biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám mục Ngô Đình Thục cứ vài tuần thì về
Sài gòn cư ngụ trong Dinh. Còn ông Ngô Đình Luyện là con út trong gia
đình, nhận làm đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười hoạ mới về nước nghỉ
phép, hay để dự các phiên họp của Hội Đồng Tối Cao Tiền Tệ, mà ông là
một thành viên.
Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thừa Tùng, bà Ngô Đình
Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, và bà
Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu của Nghị sĩ Trần Trung Dung.
Cứ theo phần lớn tài liệu viết về TT Ngô Đình Diệm, sau ngày lên nắm
chính quyền ở Nam Việt Nam, thì ông sinh vào ngày mồng 3 tháng 1 năm
1901 tại Phước Quả, Thừa Thiên (sát Thành Phố Huế).
Nhưng theo kết quả sưu khảo của Nguyên Vũ tại các thư viện
của Pháp, thì có một tài liệu của Nha Giám Đốc Các Sở An Ninh Pháp Tại
Đông-Dương (Direction des Services Français de Sécurité en Indochine)
tóm-tắt tiểu-sử của ông Ngô Đình Diệm, thực-hiện vào tháng 7 năm 1954,
ghi rõ là ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 27 tháng 7 năm 1897 tại Đại
Phương, Quảng Bình.
Lúc thiếu thời, ông Diệm đuợc theo học dưới sự dạy dỗ rèn
cặp của một vị cha tinh thần, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác,
đức độ và lòng yêu nước. Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, quan Thượng
Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại
việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc
châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích, ngưỡng
mộ nên đã có câu truyền khẩu:
“Đày vua không Khả. Đào mả không Bài”.
Ngoài sự hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của
thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền
giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun
đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực,
thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo, đã đào tạo ông Diệm thành một con
người đầy lòng bác ái, vị tha và công chính.
Về đường học vấn, lúc nhỏ ông theo học tại trường Pellerin Huế.
Năm 1913, lúc 12 tuổi, ông thi vào trường Quốc Học Huế, dạy theo
chương trình tổng hợp bằng Việt Ngữ và Pháp Ngữ.
Đến năm 1917, lúc 16 tuổi, ông đỗ hạng thứ nhì trong kỳ thi tốt nghiệp
Trung Học. Vì số tuổi quá trẻ mà lại đạt thành tích xuất sắc, nên
chính quyền thực dân Pháp đề nghị cấp học bổng cho sang Pháp du học,
nhưng ông đã từ chối.
Năm 1918. Lúc mới 17 tuổi, ông đã được mời làm giáo sư Trường Quốc Tử
Giám, một trường dành riêng cho con cháu các quan trong triều đình.
Đến năm 1919 (18 tuổi), ông đủ tuổi để vào học trường Hậu Bổ, một
trường tương tự như Học Viện Quốc Gia Hành Chánh sau này. Trong suốt
ba năm học, ông luôn luôn là một sinh viên xuất sắc trong các ngành
hành chánh, chính trị, luật pháp. Do đó ông đã tốt nghiệp thủ khoa.
Năm 1923, lúc 22 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tri Huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri Phủ Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.
Năm 1930 với thành tích tận tụy phục vụ đồng bào, ông được đề cử làm
Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết, khi vừa tròn 29 tuổi.
Năm 1932, Hoàng Tử Vĩnh Thụy sau thời gian du học tại Pháp trở về
nước, lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu Bảo Đại. Để thực hiện một cuộc cải tổ
sâu rộng. Nhà vua đã mời ông Ngô Đình Diệm, lúc đó mới 31 tuổi, đang
làm Tuần Vũ tỉnh Phan Thiết, đảm nhận chức vụ Thượng Thư Bộ Lại, một
chức vụ đứng đầu Nội Các, tương đương Thủ Tướng ngày nay, và kiêm
nhiệm chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Hỗn Hợp PHÁP-VIỆT vào ngày 2 tháng 5
năm 1933. Lúc đó ông Diệm vừa tròn 33 tuổi.
Với chức vụ quan trọng này, ông Diệm đề nghị thi hành các kế hoạch
canh tân xứ sở, như bãi bỏ hai chức Thống Sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung
Kỳ, đồng thời sát nhập hai kỳ Trung Bắc lại và bổ nhiệm một Thống Sứ
cho cả hai miền, như cho phép Viện Dân Biểu được lo những vấn đề quốc
sự giống như Quốc Hội. Nhưng, đề nghị của ông Diệm không được Toàn
Quyền Pasquier chấp thuận.
Ngày 12 tháng 7 năm 1933, ông Diệm đệ đơn lên Hoàng Đế Bảo Đại xin từ
chức. Việc từ quan của chí sĩ Ngô Đình Diệm đã làm chấn động Triều
Đình Huế và Chính Phủ Pháp thời đó.
Sau khi dứt khoát từ bỏ quan trường, ông Diệm lui về nhà
làm dân thường. Sau này khi được Hoàng Đế Bảo Đại chấp thuận, ông
Diệm về dạy học tại trường Providence Huế.
Trong khi lui về dạy học, ông Diệm âm thầm nghiên cứu các sách vở và
thường xuyên liên lạc với các nhà ái quốc như Cụ Kỳ Ngoại Hầu Cương
Để, Cụ Phan Bội Châu và những nhà ái quốc cách mạng chống Pháp, hiện
đang hoạt động tại Nhật Bản và trong nước, để mưu cầu dành Độc Lập Tự
Do cho đất nước.
Đến năm 1939-1945, Toàn Quyền Đông Dương là Thủy Sư Đô Đốc
Jean Decoux ra lệnh cho Khâm sứ Trung Kỳ là Émille Grandjean, bắt ông
Diệm đưa đi an trí tại Xieng Khoang, Lào. Nhưng nhờ có ông Nguyễn Bá
Mưu làm Thông Phán tại Tòa Khâm Sứ biết được, đã vội vàng mật báo cho
ông Diệm biết. Ông Diệm muốn trốn đi Phan Thiết, nhưng luôn bị
Pháp truy lùng ráo riết, may nhờ có ông Trần Văn Dĩnh đang làm Hiến
Binh cho Nhật, đã đưa được ông Diệm vào Sài gòn lánh nạn. (Sau này khi
ông Diệm chấp chánh, đã cử ông Dĩnh làm Tổng Lãnh Sự tại Miến Điện,
Tuỳ Viên Toà Đại Sứ rồi Xử Lý Thường Vụ Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Thịnh
Đốn).
Lánh nạn ở Sài gòn một thời gian, ông Diệm trở lại Huế để thăm mẹ già,
và ông đã bị Việt Minh chặn bắt tại Tuy Hòa. Chúng giải ông ra Hà
Nội . Ông bị Hồ Chí Minh đưa đi an trí tại Thái Nguyên. Nhưng sau đó
nhờ giới Công Giáo do Linh mục Lê Hữu Từ lên tiếng phản đối quyết
liệt, buộc lòng Hồ Chí Minh phải trả tự do cho ông lại còn mời ông giữ
chức Bộ Trưởng Nội Vụ. Nhưng ông Diệm cương quyết khước từ.
Tháng 8 năm 1950 ông Diệm cùng người anh là Giám Mục Ngô Đình Thục rời
Saigon đi La Mã dự lễ Năm Thánh. Trên đường đi ông Diệm ghé qua Đông
Kinh, thủ đô Nhật Bản. Tại đây ông có tiếp xúc với một số người Mỹ,
trong đó có Giáo sư Wesley Fishel. Ông Fishel khuyên ông Diệm nên sang
thăm Hoa Kỳ. Cũng trong dịp này ông Diệm đã ghé thăm các nước Bỉ,
Thụy Sĩ, Pháp và sau đó ông sang Hoa Kỳ theo gợi ý của giáo sư Wesley
Fishel.
Tới Hoa Kỳ, ông Diệm tạm trú trong nhà Dòng Mary Knoll, ở
Lakewood thuộc tiểu bang New Jersey và ở Ossining
tiểu Bang New York. Thời gian ở Hoa Kỳ, ông Diệm chú tâm trau giồi Anh
Ngữ và được mời đến các trường Đại Học ở miền Đông và miền Trung Tây
Hoa Kỳ để diễn thuyết về các vấn đề Việt Nam, Á Châu và hiểm họa Cộng
Sản.
Tại Hoa Kỳ, ông Diệm được gặp Đức Hồng Y Francis Spellman,
Tổng Giám Mục Nữu Ước, vì Đức Hồng Y Francis Spellman là bạn thân của
Giám mục Ngô Đình Thục từ lúc 2 người
cùng học tại La Mã. Ông còn giao tiếp với một số nhân vật trong chính
giới Mỹ như các ông Mike Mansfield, Clement J. Zablock, J. McCormack,
Dân biểu Walter Judd, William Douglas...
Vị Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, đã đưa ông
Diệm đi ăn trưa với TNS Kennedy. Trong khi Đức Hồng Y Spellman cũng
quen biết với đại sứ Joseph Kennedy (đại sứ Mỹ tại Anh Quốc).
Theo ông Robert Amory (phó giám đốc CIA) cho biết, ông đã từng nghe
đến tên tuổi ông Diệm, qua thẩm phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas
trong một buổi tiệc.
Trong buổi họp tiếp theo, ông Robert Amory đem chuyện ông
Diệm ra nói với giám đốc Allen Dulles và phó giám đốc Frank Wisner.
Lúc này CIA có vẻ chọn lựa bác sĩ Phan Quang Đán làm người thay thế
vua Bảo Đại. (Theo William Gibbons, "The US Government and Vietnam
War", trang 261).
Sau đó, ông Diệm được Hoa Kỳ ủng hộ, khi ông về Việt Nam làm Thủ Tướng
trong chính phủ Bảo Đại, sau Hiệp định Genève, rồi làm Tổng thống Đệ
nhất Cộng Hòa Việt Nam.
Người có ảnh hưởng rất lớn trong việc đưa ông Diệm về chấp chính là
Hồng Y Francis Spellman. Tác gỉa John Cooney (1985) đã viết: "Tuy
rằng không có mấy người biết điều này, nhưng
chính
Hồng Y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên
sự nghiệp chính trị, của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New
York trước đây, vừa trở thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam
là ông Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông
ta muốn có trong một người lãnh đạo: Công giáo nồng nhiệt và chống
Cộng đến cùng."
[1]
Các ông William, Douglas và Kennedy rất tán thưởng đường lối và quan
điểm của ông Diệm và đồng ý là Việt Nam, phải Độc Lập với nước Pháp
,và cần phải cải cách xã hội. Đến tháng 6 năm 1954, tình hình quốc nội
rối ren, Hoàng Đế Bảo Đại chính thức mời ông Diệm về nước, giữ chức vụ
Thủ Tướng toàn quyền về Dân Sự và Quân Sự. Ông Diệm về nước ngày 24
tháng 6 năm 1954, và chấp chánh quyền hành.