; }

Saturday, April 11, 2026

NHỮNG DIỄN TIẾN QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRƯỚC NGÀY 30-4-1975

 

Tác Giả: Vương Hồng Anh
* Những Cảm Tử Quân trên đường rút quân
Theo kế hoạch rút quân, ngoại trừ Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù được di chuyển trên đường lộ với sự bảo vệ an ninh lộ trình của Đại Đội Trinh Sát Dù, các Tiểu Đoàn Dù đều phải băng rừng mở đường di chuyển. Bốn giờ sáng ngày 21/4/1975, tại ấp Quí Cả, gần địa giới hai tỉnh Long Khánh và Phước Tuy, đoàn xe chở Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù và Đại Đội Trinh Sát Dù bị 2 Tiểu Đoàn cộng quân phục kích. Pháo Đội C và một Trung Đội của Đại Đội Trinh Sát Dù bảo vệ Pháo Đội này đã bị tổn thất, đa số quân sĩ đều bị thương vong trước các đợt tấn công biển người của cộng quân. Trên lộ trình triệt thoái, Đại Đội đi đầu của Tiểu Đoàn 9 Dù đã đụng độ nặng với cộng quân tại thung lũng Yarai, dưới chân núi Cam Tiên. Đại Đội này đã bị những “chốt” của cộng quân từ trên cao bắn xuống. Cuộc giao tranh kéo dài nhiều giờ. Để diệt các chốt của cộng quân, các toán cảm tử Dù được thành lập ngay tại trận địa với những quân nhân tình nguyên. Những cảm tử quân này mặc áo giáp, đeo súng phóng hoả tiển cá nhân M 72, lựu đạn, bò đến các “chốt” cộng quân ở trên núi cao. Có nhiều toán vừa bò lên núi, đã bị cả chục trái lựu đạn của địch từ trên cao ném xuống.
Họ phải lách thật nhanh, nằm xuống, trước khi lựu đạn địch quân nổ, hoặc chụp lấy và mém trả lại. Trong trường hợp bắn M-72 nếu không có kết quả, họ phải thay đổi ngay vị trí để tránh sự bắn trả của cộng quân.
Có những người lính Dù đã làm cho mọi người khâm phục về sự dũng cảm phi thường của họ. Chiếc bunker cuối cùng của cộng quân trên núi Cam Tiên vô cùng kiên cố. Đó là hầm chỉ huy của một đơn vị cộng sản bắc việt. Hai cảm tư quân Dù đã bắn M72 vào bunker này nhưng vẫn không hạ được mục tiêu. Một đồng đội của họ từ lưng chừng núi đứng lên, để M 72 trên vai, bắn thẳng vào mục tiêu. Từng loạt đạn của cộng quân bắn trả tới tấp. Nhưng người xạ thủ gan dạ này vẫn đứng thẳng không chịu cúi xuống tiếp tục bắn: chiếc bunker chỉ huy và các ổ súng nặng của cộng quân bị hủy diệt. Thanh toán xong mục tiêu này, các đơn vị Dù tiếp tục cuộc hành trình gian khó tiến về Bà Rịa. (Phần này biên soạn theo tài liệu của Thiếu Tá Phạm Huấn, 1 nhà báo quân đội, và lời kể của một số nhân chứng).
* Tái phối trí tại phòng tuyến mới: Trảng Bom - Long Thành - Phước Tuy
Ngày 22 tháng 4/1975, cuộc rút quân hoàn tất. Sư Đoàn 18 Bộ Binh sau khi về đến Long Lễ trong ngày 21/4/1975, đã được được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho di chuyển nghỉ dưởng quân hai ngày tại Long Bình, sau đó các Trung Đoàn và đơn vị thuộc dụng được điều động đi tăng cường phòng thủ tuyến mặt Đông thủ đô Sài Gòn, kéo dài từ Tổng kho Long Bình đến Kho đạn Thành Tuy Hạ, tiếp cận với lực lượng của các quân trường như Trường Bộ Binh, Trường Thiết Giáp;
Lữ Đoàn 1 Dù được bố trí giữ Phước Tuy, bảo vệ Quốc lộ 15 từ LongThành về Bà Rịa, và là lực lượng tiếp ứng cứu Vũng Tàu khi thành phố này bị tấn công.
Với kế hoạch phối trí mới của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III để bảo vệ Sài Gòn, kể từ sáng 22/4/1975, phòng tuyến án ngữ phía Bắc và phía Đông của Quân Đoàn III và Quân Khu 3 được thành hình với liên tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy. Lực lượng chính tại phòng tuyến này có Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù, Lữ Đoàn 3 Thiết kỵ (do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy) và Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến. Trước đó, Lữ Đoàn 147 và 258 Thủy Quân Lục Chiến đã được tăng phái cho Quân Đoàn III và là lực lượng bảo vệ phía Bắc của phi trường Biên Hoà
Về lực lượng phòng thủ vòng đai xa của Sài Gòn, tính đến ngày 22 tháng 4/1975, có 3 Sư Đoàn Bộ Binh: Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy; Sư Đoàn 25 Bộ Binh do Tướng Lý Tòng Bá chỉ huy, phụ tại phòng tuyến Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Sư Đoàn 5 Bộ Binh do Tướng Lê Nguyên Vỹ chỉ huy, phụ trách phòng tuyến Bình Dương.
_____________________
6. VÒNG ĐAI SÀI GÒN – TRẬN CHIẾN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 4-75
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG 4 NĂM 1975
* Toàn cảnh về tình hình chiến sự tại miền Đông Nam Phần từ 24-4 đến 27-4-1975
Từ ngày 24-4-1975, tình hình chiến sự tại vùng trách nhiệm của Quân Đoàn III ngày càng sôi động kể từ khi Sư Đoàn 18 Bộ Binh, lực lượng Nhảy Dù, các binh đoàn tăng phái triệt thoái khỏi Xuân Lộc. Trước những diễn biến dồn dập, sáng ngày 26 tháng 4/1975, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp để bàn kế hoạch tái phối trí lực lượng tại Quân Khu 3 và khu vực quanh Sài Gòn. Theo đó, cụm tuyến phòng ngự sẽ gồm có: tuyến vòng đai Thủ đô, tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy.
Trong khi cuộc họp hành quân đang diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, thì tin tức tình báo ghi nhận cộng quân đang tung quân cố cắt đứt trục giao thông Sài Gòn – Vũng Tàu ở đoạn Long Thành, cùng lúc đó, Thông Tin thám sát của các toán tình báo kỹ thuật cũng ghi nhận một đơn vị Pháo của cộng quân đã di chuyển về hướng Bà Rịa.
Tại tỉnh Phước Tuy, từ ngày 24 tháng 4/1975, phòng tuyến Bà Rịa (Tỉnh lỵ) do Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù và Chi Đoàn 2/15 Thiết Vận Xa đảm trách. Quân số Sư Đoàn 3 Bộ Binh chỉ còn hơn 1 ngàn kể cả thành phần quân nhân tập hợp từ Sư Đoàn 1 Bộ Binh nhập lại. Với chừng ấy quân số, chỉ đủ để thành lập 2 Tiểu Đoàn, 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 2 và 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 56. Về lực lượng 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 1 Dù, quân số của mỗi Tiểu Đoàn chỉ còn khoảng từ 357 đến hơn 400 quân sĩ. Nếu tính cả các đơn vị Địa Phương Quân, quân số phòng thủ vòng đai chưa đến 3 ngàn quân, chưa bằng quân số của 2 Trung Đoàn, trong khi đó tại khu vực này đã có 2 Sư Đoàn cộng quân, 1 Trung Đoàn pháo và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp.
Theo phân nhiệm, Lữ Đoàn 1 Dù chịu trách nhiệm trấn giữ vòng đai ngoài của Thị xã Bà Rịa (Tỉnh lỵ tỉnh Phước Tuy) và Quốc lộ 15. Sư Đoàn 3 Bộ Binh phụ trách một số khu vực gần Bà Rịa. Bộ Chỉ Huy Hành quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đóng trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy. Các đơn vị của Sư Đoàn 3 Bộ Binh có đủ súng cá nhân cho binh sĩ nhưng thiếu súng cộng đồng, máy truyền tin và thiếu cả sự yểm trợ của Pháo Binh. Khi còn hoạt động tại chiến trường Quảng Nam (Quân Khu 1), cũng như các Sư Đoàn Bộ Binh khác, Sư Đoàn 3 Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly và 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 ly (mỗi Tiểu Đoàn có khoảng 18 khẩu đại bác).
Sau hai ngày tạm im tiếng súng, vào 6 giờ chiều ngày 26/4/1975, mặt trận Phước Tuy bắt đầu sôi động trở lại. cộng quân pháo kích vào Thị xã Bà Rịa, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy, tư dinh Tỉnh Trưởng, Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp. Trận mưa pháo kích kéo dài 3 tiếng. Toàn bộ hệ thống điện trong Thị xã Bà Rịa đều bị hư hại. Khoảng 10 giờ đêm, cộng quân tổ chức tấn công theo 3 mũi vào Tỉnh lỵ, 2 mũi do Bộ Binh và Thiết Giáp cộng sản bắc việt phối hợp đánh vào Trung tâm Tiếp vận Tiểu Khu và Tư dinh Tỉnh Trưởng, 1 mũi vào khu vực dọc theo xa lộ mới ở phía Nam Thị xã Bà Rịa. Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Mặt trận Bà Rịa, điều động 1 Tiểu Đoàn Dù và đặt đơn vị này thuộc quyền chỉ huy của Đại Tá Tỉnh Trưởng – Tiểu Khu Trưởng Phước Tuy để tổ chức các cuộc phản công đánh đuổi cộng quân ra khỏi trung tâm Thị xã. Tiểu Đoàn Dù đã bắn cháy 5 chiến xa cộng quân ngay trong đêm 26/4/1975.
Rạng sáng ngày 27/4/1975, lực lượng Nhảy Dù đã quét cộng quân ra khỏi Tỉnh lỵ. Để ngăn chận các đợt tấn công kế tiếp của cộng quân, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Dù tăng thêm quân phòng thủ bên ngoài Thị xã. Khoảng 8 giờ sáng, cộng quân điều động hai Trung Đoàn Bộ Binh và khoảng 30 chiến xa từ hai hướng mở đợt tấn công thứ hai vào Thị xã Bà Rịa. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đã chống trả quyết liệt và cả hai bên đều bị thiệt hại nặng.
Theo hồi ký của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh mặt trận Bà Rịa, vào 2 giờ chiều ngày 27/4/1975, Lữ Đoàn 1 Dù được lệnh rút khỏi Bà Rịa và về phòng thủ tuyến Cỏ May (nằm trên đường Bà Rịa – Vũng Tàu). Cùng trong buổi chiều ngày 27/4/1975, một đơn vị Công Binh Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến để giật sập cầu Cỏ May hầu ngăn chận cộng quân tràn qua.
Tại Long Thành, tối 26 tháng 4/1975, cộng quân tấn công vào trường Thiết Giáp, chiếm quận lỵ Long Thành và cắt đứt Quốc lộ 15 nối liền Vũng Tàu và Sài Gòn. Cũng trong ngày 26 tháng 4/1975, một Tiểu Đoàn đặc công cộng quân đánh chiếm cầu xe lửa về hướng Tây Nam thành phố Biên Hoà trong khi đại bác của các đơn vị Pháo Binh cộng quân bắn phá vào căn cứ Không Quân Biên Hoà. Ngày 27 và 28/4/1975, cộng quân tiếp tục pháo kích vào các vị trí của quân trú phòng tại Long Thành và khu vực phụ cận.
Cũng trong hai ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân điều động Bộ Binh và Thiết Giáp tiến đến gần liên tỉnh lộ 25 và nhắm quận lỵ Nhơn Trạch, một đơn vị cộng sản bắc việt đánh chiếm các đồn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân dọc trên đường tiến quân.
Tại Trảng Bom do một đơn vị của Sư Đoàn 18 Bộ Binh phụ trách đã bị cộng quân pháo liên tục trong các ngày 26, 27:
Tại vòng đai Sài Gòn, tuyến phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phải co cụm lại: vùng Tây Bắc còn lại tỉnh Biên Hoà, phía Đông còn Long Thành, phía Bắc còn Lai Khê, phía Đông Nam còn Hóc Môn. Trong đêm 26 tháng 4/1975, cộng quân đồng loạt tấn công khu Tân Cảng, cầu Biên Hoà và đài phát tuyến Phú Lâm. Một Tiểu Đoàn Dù đang bảo vệ dinh Độc Lập đã được điều động đến Tân Cảng và nhanh chóng quét sạch địch quân khỏi khu vực này. Tại Củ Chi, sau khi triệt thoái từ Tây Ninh, lực lượng bộ chiến Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã cố gắng lập tuyến chận địch tại Củ Chi. Tại vòng đai Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt khu Thủ đô, đã tổng điều động toàn bộ lực lượng cơ hữu và tăng phái để lập các cụm điểm chận địch tại các yết hầu trọng yếu vào Sài Gòn.
Sáng ngày 27 tháng 4/1975, tình hình Thủ đô Sài Gòn đã trở nên sôi động khi cộng quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt, tiếp đó một đơn vị đặc công cộng sản bắc việt đã tấn công cầu xa lộ Tân Cảng và cầu xa lộ Biên Hoà. Lực lượng xung kích của Biệt Khu Thủ Đô đã được điều động khẩn cấp để giải toả áp lực địch. Đến chiều ngày 27/4/1975, lực lượng tiếp ứng Việt Nam Cộng Hoà đã giải toả áp lực địch tại các khu vực này, cộng quân phải rút lui sau khi bị tổn thất nặng.
Tại Bình Dương, liên tiếp trong các ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân tấn công mạnh vào phòng tuyến của một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh gần quận lỵ Phú Giáo, 2 phi cơ phản lực của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà luân phiên thực hiện các đợt oanh tạc vào những vị trí tập trung của cộng quân để ngăn cản sức tiến quân của địch. Trong nỗ lực chận đứng các cuộc tấn công của đối phương vào căn cứ Lai Khê, bản doanh của bộ Tư Lệnh và một số đơn vị của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn, đã cho lập các cụm điểm án ngữ quanh vòng đai căn cứ này. Cũng cần ghi nhận rằng từ khi quận Chơn Thành bị bỏ ngõ vào giữa tháng 4/1975, căn cứ Chơn Thành trở thành tiền đồn của tỉnh Bình Dương. Trong một chuyến thị sát tình hình chiến trường, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã khuyên Tướng Vỹ nên di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê về Phú Lợi, chỉ nên để lại 1 Trung Đoàn phòng ngự căn cứ. Tuy nhiên Tướng Vỹ đã không đồng ý. Ông nói với tướng Toàn: Nếu bộ Tư Lệnh Sư Đoàn di chuyển về Phú Lợi, anh em binh sĩ sẽ nói mình là "di tản chiến thuật”... Tôi quyết ở lại sống chết với căn cứ này…
_______________________________________
7. KẾ HOẠCH CỦA NGŨ GIÁC ĐÀI CỨU NGUY VIỆT NAM CỘNG HOÀ NĂM 1975
* Bộ Quốc Phòng Mỹ đề nghị những biện pháp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà
Như VB đã trình bày, vào tuần lễ cuối cùng của tháng 3/1975, Tổng Thống Ford đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình…
Đại Tướng Weyand là một vị Tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV). Đại Tướng Weyandrd đã thăm và tìm hiểu tình hình Việt Nam từ ngày 28/3/1975 đến ngày 4/4/1975. Trở về Mỹ, ông đã làm một phúc trình đặc biệt lên Tổng Thống Ford về tình hình Việt Nam và những đề nghị khẩn cấp để cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà. Sau đây là phần phúc trình của Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân, đại diện Bộ Quốc Phòng Mỹ, về những biện pháp khẩn cấp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà trong tháng 4/1955.
– Những gì xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong tháng tới hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện, hay không được thực hiện, bởi bắc việt, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, và Hoa Kỳ trong hai tới ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.
– Ngoại trừ lực lượng cộng quân bắc việt bị chận đứng tại trận địa hay Hà Nội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã nào khác, cộng sản bắc việt sẽ đánh bại Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà trên bình diện quân sự. Không có dấu chỉ cho thấy bắc việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói là hai, trong số năm Sư Đoàn cộng quân bắc việt hiện đang có mặt tại Quân Khu 2 sẽ đủ để tấn công lực lượng Việt Nam Cộng Hoà tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn II. Nếu một trong số năm Sư Đoàn của cộng quân bắc việt hiện đã có mặt tại Quân Khu 2 được đưa xuống Quân Khu 3 đặc biệt là nếu được tăng cường với Pháo Binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Quân Khu 3 sẽ bị nghiêng ngửa. Các lực lượng của Việt Nam Cộng Hoà tại vùng Đồng Bằng (Miền Tây Nam phần), đủ khả năng đương đầu với lực lượng cộng quân hiện đã có mặt trong Quân Khu 4, và vùng này sẽ không đứng vững nổi nếu Quân Khu 3 tan rã sau các cuộc thất bại tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2.
– Hình ảnh phác hoạ trên may ra có thể biến cải đang khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà điều quân tại Vùng 3 Chiến Thuật với các đơn vị sống sót từ Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và tái trang bị. Chúng ta có thể chẩn đoán là bắc việt có thể tiến quân và xung trận các Sư Đoàn hiện diện tại Nam Việt Nam nhanh hơn là Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà có thể thiết lập các Sư Đoàn tân trang.
– Còn phần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, phải thực hiện những công tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí quân sự tại Quân Khu 3, nhưng cũng để, và có lẽ quan trọng hơn, khiến cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài lãnh đạo của các nhân vật tối cao của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà. Trong lãnh vực tinh thần, miền Nam Việt Nam, ít ra tại Quân Khu 3, kể cả Sài Gòn, rất gần kề miệng dốc đưa tới thất bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.
* Vai Trò và Các Lựa Chọn Hành Động của Hoa Kỳ
Về phần vai trò và các lựa chọn hành động của Hoa Kỳ trong tình hình nguy kịch của Việt Nam Cộng Hoà, bản phúc trình của Đại Tướng Weyand viết như sau:
– Điều gì Hoa Kỳ làm, hay không làm, trong những ngày tới có lẽ là yếu tố định đoạt cho những biến cố xảy ra trong mấy tuần tới; điều này cũng đúng đối với điều gì Sài Gòn hay Hà Nội làm hay không làm. Một mình Hoa Kỳ không thể cứu vãn Nam Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ có thể, cho dù có vô tình đi nữa, xô đẩy Nam Việt Nam xuống hố chôn.
– Đề nghị cụ thể của tôi có thể được phân thành hai loại. Có những hành động ngắn hạn, một phần về mặt thể lý nhưng chính yếu về mặt tâm lý, cần để nâng tinh thần Nam Việt Nam và, nếu có thể, ép buộc đình trệ hành động. Điều này chỉ mua được thời giờ, nhưng trong tình thế hiện tại thời giờ là điều tối cần. Thứ đến, có những hành động dài hạn, tuy mang tính chất vật chất nhưng cũng có khía cạnh tâm lý mạnh mẽ, cần thiết nếu muốn Nam Việt Nam có tí hy vọng tồn tại trước sự tàn phá của bắc việt hay thương thảo một hiệp ước khác hơn là đầu hàng.
Điều kiện tiên quyết và cấp bách là Việt Nam cảm thấy Hoa Kỳ ủng hộ. Cảm quan này quan trọng về mọi mặt. Cảm quan Hoa Kỳ giảm thiểu ủng hộ Nam Việt Nam khuyến khích bắc việt tiếp tục tấn công. Chính cảm quan này đã khiến Việt Nam Cộng Hoà bắt đầu triệt thoái khỏi các vị trí lẻ tẻ và lộ liễu tại các tỉnh phía bắc. Cảm quan này được cấu tạo bởi các hành động sau đây: Ngay sau khi ký kết Hiệp Định Ba Lê, 1.6 tỷ mỹ kim được đệ trình để cung ứng cho nhu cầu của Nam Việt Nam cho tài khoá 1974; 1.126 tỷ mỹ kim được xuất ra —thanh thoả 70% nhu cầu. Tiếp sau đó 500 triệu mỹ kim còn lại bị từ khước không được tháo khoán. Đối với tài khoá năm nay, 1.6 tỷ được đệ trình để duy trì khả năng tự vệ của Nam Việt Nam; 700 triệu được chấp thuận, thanh thoả 44 nhu cầu. Những hành động này đã giúp khai sinh khủng hoảng tin tưởng khiến Chính Phủ Nam Việt Nam dùng tới biện pháp triệt thoái chiến lược.
– Điều then chốt cho sự tồn tại sống còn của quốc gia Việt Nam nằm trong khả năng của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ổn định tình thế, và đem các nguồn lực quân sự chống đối lại sức tấn công của bắc việt. Khả năng ổn định tình thế này tùy thuộc, một phần lớn, vào khả năng thuyết phục hạ tầng giới quân nhân và dân sự là chưa đến nỗi mất tất cả, và còn có thể chận đứng bắc việt. Tuy đó là trách vụ chính của Chính Phủ Việt Nam, các hành động về phía Hoa Kỳ mang tính chất quyết liệt trong việc tái tạo niềm tin.
Hành động mà Hoa Kỳ có thể làm để gây nên ấn tượng tức khắc cho Việt Nam, Bắc lẫn Nam, —là dùng không lực Hoa Kỳ để chận đứng thế tấn công hiện tại của cộng quân bắc việt. Cho dù chỉ giới hạn trên phần đất Nam Việt Nam và chỉ thực hiện trong một thời gian giới hạn, những tấn công này sẽ gây tổn thất lớn lao cho lực lượng viễn chinh bắc việt về mặt nhân sự và quân cụ, và sẽ tạo một chấn động về mặt tâm lý đối với các chiến binh xâm lăng. Những tấn công không tập này cũng sẽ khiến giới lãnh đạo Hà Nội phải đắn đo suy nghĩ, thái độ mà hiện giờ họ không có, đến hậu quả tai hại có thể xảy đến nếu họ làm ngơ lời cam kết chính thức họ đã hứa với Hoa Kỳ.
Giới lãnh đạo quân sự Việt Nam Cộng Hoà thuộc mọi cấp bậc đều luôn lập đi lập lại tầm mức quan trọng của sử dụng B-52 phản công chống lại một lực lượng địch to lớn hơn và quan điểm này hợp lý về mặt quân sự. Tôi ý thức đến các khó khăn về mặt pháp lý và chính trị gây nên bởi việc thi hành biện pháp không tập này.
Một việc quan trọng mà Hoa Kỳ cần phải làm là xác định một cách rõ ràng Hoa Ky quyết tâm ủng hộ Nam Việt Nam. Việc này phải bao gồm lời minh định tích cực của Tổng Thống và các giới chức cao cấp Mỹ. Tinh thần suy sụp của dân chúng Việt Nam đã hứng khởi lên rõ rệt khi phái đoàn Hoa Kỳ do Tổng Thống phái đi với nhiệm vụ điều tra tình hình đặt chân tới Sài Gòn. Có thêm những hành động tương tự như vậy sẽ minh chứng mối quan tâm của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào các lời xác định của Ngành Hành Pháp, cần thêm nỗ lực tạo một mối quan tâm chung tại mọi lãnh vực trên đất Hoa Kỳ. Sự ủng hộ từ các thành viên của Quốc Hội; xác định lập trường ủng hộ từ các nhân vật có trọng trách trong và ngoài chính phủ; và sự thông cảm trong giới báo chí Hoa Kỳ sẽ cải biến cảm quan về phía Hoa Kỳ liên quan đến tình hình tại Việt Nam.
___________________________
8. SỰ YỂM TRỢ CUỐI CÙNG CỦA HOA KỲ CHO QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN KỂ LẠI CHIẾN SỰ 1975:
* Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Mỹ, đến Sài Gòn quan sát tình hình chiến sự
Ngày 26 tháng 3/1975, sau khi lực lượng Việt Nam Cộng Hoà triệt thoái khỏi Kontum, Pleiku, Phú Bổn (Quân Khu 2), các Sư Đoàn chủ lực của cộng sản bắc việt gây áp lực nặng quanh vòng đai Đà Nẵng, các quận phía Tây tỉnh Quảng Nam, và các tỉnh duyên hải của Quân Khu 2 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà). Cũng trong ngày này, chính phủ Hoa Kỳ đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình. Đại Tướng Weyand là một vị tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV).
Trước khi Đại Tướng Weyand đến Việt Nam, vào cuối tháng 2/1975, ông Eric Von Marbod, Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, đã đến Việt Nam. Lúc đó, cộng sản bắc việt chưa khởi động cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột. Trong thời gian viếng thăm Việt Nam, ông Marbod đã gặp và trao đổi ý kiến với Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, về tình hình chiến sự.
Trong cuộc tiếp xúc với vị Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ đặc biệt cung cấp vũ khí nào mà Không Quân Việt Nam có thể sử dụng được. Đó là loại bom 15 ngàn cân Anh có tên là bom bạch cúc (Daisy Cutter) mà Không Quân Hoa Kỳ thường dùng thả bằng phi cơ C-130 để khai quang dọn bãi đáp trong các khu vực rừng già. Thế nhưng, gần đến cuối cuộc chiến, Hoa Kỳ mới đáp ứng yêu cầu của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sau chuyến viếng thăm của Đại Tướng Weyand.
Như VB đã trình bày trong bài tổng lược về hoạt động của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà vào giai đoạn cuối cuộc chiến, 27 quả bom này được dự trù vận chuyển đến Việt Nam cùng với chuyên viên Hoa Kỳ trong vòng một tuần. Vào giữa tháng 4/1975, ba trái chuyển đến trước và sau đó ba trái nữa chuyển đến chỉ hai ngày trước khi cuộc chiến kết thúc. Một chuyên viên Mỹ đi theo chuyến này để hướng dẫn cho chuyên viên Việt Nam cách gắn ngòi nổ và cách gắn bom lên phi cơ. Thế nhưng chuyên viên Mỹ này không đến kịp. Trước tình hình khẩn cấp và vì mức độ nguy hiểm nếu tồn trữ thứ bom này tại Tân Sơn Nhứt hay tại Long Bình nên Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phải chọn một phi công kinh nghiệm để bay thả thử trái đầu tiên.
Trở lại với cuộc viếng thăm của Đại Tướng Weyand, theo lời của Đại Tướng Cao Văn Viên trình bày trong cuốn hồi ký do Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ xuất bản (dịch giả Duy Nguyên chuyển sang Việt ngữ và đồng ý cho VB sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến Việt Nam), diễn tiến các cuộc tiếp xúc của vị Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà được ghi nhận như sau.
* Các cuộc tiếp xúc giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên
Trong thời gian Đại Tướng Weyand thăm Việt Nam, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã không có buổi thuyết trình chính thức nào dành cho Đại Tướng Weyand, nhưng giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên đã có những cuộc tiếp xúc bàn luận về tình hình và trao đổi ý kiến về tình hình chiến cuộc. Trong các lần tiếp xúc, Đại Tướng Cao Văn Viên đã cho Đại Tướng Weyand biết những khó khăn mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đang gặp phải và chỉ yêu cầu một điều duy nhất: Xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 để đánh vào những nơi tập trung quân và các căn cứ lộ thiên mà cộng quân vừa thiết lập. Tướng Viên nói rằng nếu có được B-52 thì sự tự tin và tinh thần chiến đấu của quân sĩ sẽ được phục hồi nhanh chóng.
Trước yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Weyand giải thích cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà biết là “bất cứ hình thức can thiệp mới nào của Mỹ tại Việt Mam cũng đều phải được sự chấp thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ”, do đó yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên rất ít hy vọng được chấp thuận.
* Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Weyand
Phái đoàn của Đại Tướng Weyand sau đó cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ đến thăm chính thức Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập. Trong khi trao đổi ý kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, phái đoàn Hoa Kỳ đưa ra các điểm chính sau đây:
- Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà nên giải thích cho dân chúng biết tình hình để người dân không còn lo sợ bởi những tin đồn thất thiệt do địch cố tình tung ra. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà nên xuất hiện nhiều hơn trên truyền hình cho dân chúng biết mặt.
- Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cần được trao thêm nhiều quyền hạn hơn trước.
- Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nên tìm một chiến thắng, dù thật nhỏ, để tạo điều kiện cho Chính phủ Hoa Kỳ xin Quốc hội duyệt thêm 300 triệu đô quân viện bổ sung. Theo nhận xét của Đại Tướng Weyand, Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt tại vùng Mũi Két là một mục tiêu tốt để Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tạo một chiến thắng “thật ngoạn mục”.
– Vấn đề di tản dân tị nạn nên được giải quyết sớm. Nhất là phải chú tâm đến các thân nhân gia đình binh sĩ. Thành phần này cần sớm được đưa ra khỏi vùng nào có nguy cơ sẽ xảy ra chiến trận.
Tất cả những vấn đề liên quan chính phủ và dân chúng đều được thảo luận giữa Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ. Theo lời kể của Đại Tướng Cao Văn Viên, vấn đề cho Bộ Tổng Tham Mưu có thêm quyền hạn không được bàn đến nữa vì đây là một vấn đề rất tế nhị và chỉ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới làm được điều đó nếu ông muốn.
Về đề nghị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tạo một chiến thắng, Đại Tướng Cao Văn Viên hoàn toàn đồng ý nhưng ông nhận định rằng muốn làm cũng không làm được vì bộ Tổng Tham Mưu không còn lực lượng nào trong tay để tiêu diệt Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt, trong tình hình này, phải chờ một cơ hội thuận tiện mới có thể làm được.
* Nỗ Lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Trong cuộc họp, Đại Tướng Cao Văn Viên nhắc lại yêu cầu của ông là xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 oanh tạc các nơi địch tập trung quân. Theo Đại Tướng Viên, chỉ bằng cách đó mới có hiệu quả, mới làm cho tinh thần quân dân Việt Nam lên cao được. Tướng Viên cũng đã trình bày cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ những nỗ lực của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong hoàn cảnh không được sự yểm trợ hoả lực của B-52. Suốt trong vài tháng cuối của cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chỉ thị cho Không Quân dùng phi cơ C-130 vận tải để thi hành nhiệm vụ yểm trợ chiến thuật, tăng cường hoả lực.
Khi được sử dụng để thi hành nhiệm vụ chiến thuật, mỗi C-130 mang theo tám bánh thùng dùng đựng JP-4 chứa đầy dầu phế thải. Phi cơ bay trên độ cao từ 15 đến 20 ngàn feet. Mỗi lần phi cơ bay qua và bom nổ, binh sĩ dưới đất lấy làm vui mừng. Được hướng dẫn bằng vô tuyến từ dưới đất nên rất chính xác, mỗi đợt thả chỉ cách nhau 150 đến 450 mét.
Mỗi C-130 có thể chở đến 8 bành bom loại thùng GP 81-82 (tương đương với 250-500 cân anh) hay ba bành loại GP-117 (tương đương với 750 cân Anh. Binh sĩ đặt tên cho các phi vụ này là “tiểu B-52” hay B-52 Việt Nam. Lần đầu tiên khi loại bom này được thả tại Tây Ninh, dân chúng tưởng đó là B-52 của Mỹ thả. Vậy là tin đồn Không Quân Mỹ can thiệp yểm trợ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã được loan đi thật nhanh.
Về việc di tản thân nhân gia đình binh sĩ rời những nơi có chiến trận, Đại Tướng Viên cho rằng việc làm này thường có tác dụng ngược. Tướng Viên nêu ra nhận xét: nếu không có thân nhân tại đó, tinh thần chiến đấu của binh sĩ sẽ giảm sút. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nhắc đến một số kinh nghiệm trong quá khứ, nhất là kinh nghiệm của trận Mậu Thân 1968 và tại các tiền đồn xa xôi, vợ con binh sĩ là những người giúp tải đạn, tải thương và thậm chí sử dụng cả đại liên rất hữu hiệu.
Những đề nghị của Đại Tướng Viên được phái đoàn Hoa Kỳ ghi nhận, và khi Tướng Weyand rời Việt Nam thì cộng quân đang bao vây phòng tuyến Phan Rang và tấn công vào mặt trận Long Khánh. Trong tình hình chiến sự sôi động, nhiều giới chức của Việt Nam Cộng Hoà hy vọng ở sự can thiệp của Không Quân Hoa Kỳ để chận đứng cuộc tấn công lớn của cộng quân, dù biết rằng đó là một hy vọng vô cùng mong manh…
Vương Hồng Anh

Thursday, March 19, 2026

NẾU KHÔNG CÓ PHÁP ĐÔ HỘ THÌ SAO!

Tại sao thực dân Pháp chọn chữ Quốc Ngữ mà không chọn Tiếng Pháp đặng đồng hóa dân tộc Việt Nam chúng ta?

●Nguyễn Gia Việt
1.Lịch sử đau thương lắm!
Thành Sài Gòn thất thủ ngày 17 tháng 2 năm 1859. Đại đồn Kỳ Hòa bị tấn công năm 1860-1861
Pháp bằng võ lực chiếm được tỉnh Gia Định năm 1862. Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa
Quan Phan Thanh Giản trên 70 tuổi lụm cụm nghe lịnh vua đi Phú Lang Sa chuộc đất không thành công
"Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc Âu Châu phải giựt mình
Kêu rú đồng bang mau thức dậy
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin"
A. Schreiner sau đó viết như sau:
“Những người An Nam đi thương thuyết họ đã quên một hệ quả cốt yếu của chiến tranh là kẻ chiến bại không được phép đòi hỏi lợi lộc.”
Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm tiếp ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên
Pháp chiếm hết lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867
Hòa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ. Nam Kỳ chánh thức trở thành thuộc địa của Pháp
Theo Hòa Uớc Nhâm Tuất 5/6/1862 và Hòa ước Giáp Tuất 15/3/1874 Pháp hoàn toàn kiểm soát lục tỉnh Nam Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp
Nước Pháp tốn chiến phí để đánh chiếm Nam Kỳ là 700 triệu quan vàng
Năm 1876 Pháp chia Nam Kỳ lục tỉnh ra 21 hạt tham biện (arrondissement)
Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) ký ngày 6/6/1884 xác lập chế độ bảo hộ của Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ
2.Vì sao chiến thắng mà người Pháp không lựa Tiếng Pháp làm ngôn ngữ chánh thức của Nam Kỳ và Việt Nam để rồi đã chọn chữ quốc ngữ.?
Các thuộc địa Pháp ở Châu Phi, Nam Úc đều xài Tiếng Pháp, duy nhứt người Việt Nam lại bị buộc xài chữ Quốc Ngữ là Tiếng Việt phiên âm chữ La Tinh
Vì sao?
-Thứ nhứt là:
Vì lịch sử chánh trị , văn hóa, tư tưởng giữa Việt Nam và Trung Hoa như mớ bùi nhùi, dai dẳng và lâu đời. Người Pháp và các cố đạo muốn cắt cái bụp cho rồi , không muốn Việt Nam còn dính gì Tàu nữa
Khoản 2 của Hòa ước Giáp Tuất 1874, có đoạn:
“Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc thừa nhận quyền lực của vua nước An Nam và quyền độc lập hoàn toàn đối với bất kỳ một thế lực ngoại bang nào,…”
Cái ấn Tàu "ban cho" nhà Nguyễn mang dòng chữ Hán “Việt Nam quốc vương” bằng bạc mạ vàng, nặng 5,9 kg, tay nắm tạc hình con lạc đà ở tư thế ngồi bị người Pháp yêu cầu Huế nộp cho Pháp đặng xóa Tàu ra khỏi lịch sử chánh trị Việt
Theo sách “Chánh sách của Pháp ở Đông Dương”. Tác giả Silvestre viết lại cuộc nghị đàm này như sau:
"Patenôtre đòi triều đình Huế phải giao nộp cho Pháp chiếc ấn phong vương (để khỏi còn dấu vết ảnh hưởng Trung Quốc).
Đại thần Nguyễn Văn Tường và cả phái bộ Việt Nam cực lực phản đối. Giằng co mãi, cuối cùng đi đến thỏa thuận là sẽ nấu chảy để tiêu hủy chiếc ấn chứ không giữ lại và cũng không giao nộp
Thế là ngày 6/6/1884, tại Tòa Nhà Trú Sứ của Pháp ở bờ Nam sông Hương một chiếc lò nấu đồng được đặt bên chiếc bàn có văn bản hòa ước viết sẵn. Khi lò được châm lửa, Patenôtre vẫn còn nói nên ngưng việc thiêu hủy để giao chiếc ấn cho ông ta, nhưng ông ta vẫn chỉ nhận được cái lắc đầu dứt khoát của Nguyễn Văn Tường, và chiếc ấn được quăng vào lửa, phút chốc biến thành một thỏi xù xì không ra hình dạng gì nữa"
-Thứ nhì là:
Trong lịch sử Việt, tới khi Pháp xâm lăng mà dân tộc chúng ta còn loay hoay giữa chữ Hán và chữ Nôm
Việt Nam là một dân tộc kỳ khôi nhứt thế giới. Xưa Việt tộc có độc lập, có văn hiến, có lịch sử, có triều đình, có Hoàng Đế thinh thang, có đủ thứ hết nhưng lại không có chữ viết riêng, thành ra đành đoạn phải xài chữ Hán Việt
Hán Việt cũng kỳ khôi, mượn nguyên bộ Hán tự của người Tàu làm chữ viết nhưng phiên âm đọc ra kiểu Việt
Chữ Hán Việt trong vốn ngôn ngữ Việt khá nhiều, mà toàn âm Hán Việt. Tiếng Việt và người Việt hoàn toàn chế ngự lớp từ “Hán Việt” đó bắt nó phải phục tùng mình một cách hiệu quả
Thí dụ: Nói buồi và dương vật là trùng âm Hán Việt, nói "cái thòng lòng lửi thửi" hoặc "của quí" thì trùng ai?
Ngày xưa thơ văn, nhạc, cải lương của Nam Kỳ hay và dân thích vì nó có âm Hán Việt, các soạn giả xài rất nhiều. Ông nhạc sĩ Hoài Linh của bên nhạc vàng nổi tiếng xài Hán Việt trong nhạc, có bài nhạc của ông nghe rất hay, tưởng dễ thuộc nhưng lại rất khó thuộc, có ca sĩ hát tủ bài này mấy chục năm cứ lộn ca từ
Ví như bài “Về đâu mái tóc người thương” có đoạn:
“Đời lắm phong trần tay trắng tay
Trời đông ngại gió lùa vai gầy”
Câu này:
“Bên nhau sao tình xa vạn lý cách biệt mấy sơn khê”
Bài “Hai kỷ niệm một chuyến đi” có đoạn :
“Hôm nay bạn đi gót chân theo nhịp dạ hành
Tuổi đời vừa xanh như nụ hoa nở thêm cánh
Đã phân ly một lần tiễn anh thêm một lần
Áo đẹp màu chinh nhân “
Lấy ví dụ một cái nữa, hột đậu phộng để nói người Bắc rất lậm Tàu
Nam Kỳ kêu "đậu phộng", Bắc Kỳ kêu "củ lạc". Tàu viết "đậu phộng" là lạc hoa sinh (落花生)
Bắc Kỳ thì giữ âm đầu gọi là lạc còn Tàu thì giữ hai từ sau gọi là "hoa sinh", âm Bắc Kinh là huāshēng, âm Quảng Đông là phá xáng
Nam Kỳ kêu "đậu phụng" rồi trại qua "đậu phộng" vì hột nó như con mắt chim phụng
Tức là người Việt xưa viết (bút đàm) thì người Tàu hiểu, còn đọc Hán Việt thì người Tàu khỏi biết cái gì
Các ông quan Việt xưa đi sang Trung Hoa không thể nói trực tiếp với người Tàu được, họ phải thông qua bút đàm hoặc nhờ một người phiên dịch
Người Việt học Hán Việt như học ngoại ngữ vậy
Chúng ta có văn hiến ảnh hưởng của Trung Hoa, điều này cũng không có chi ngại ngần hay lên án. Là vì trên thế giới này các nền văn minh cũng không nhiều, Tây có Hy Lạp , Roma và các nước ảnh hưởng nó, Á có Trung Hoa và Ấn Độ và những nước bị ảnh hưởng
Nhưng vì tinh thần độc lập, ông bà xưa chế ra chữ Nôm
Ông bà ta mới làm ra chữ Nôm, chữ Nôm là chữ mượn chữ Hán để ghi âm tiếng Việt cổ, gọi là chữ “giả tá”
Chữ Nam hay chữ Nôm (字喃), còn gọi là Quốc Âm (國音). Chữ Nôm rắc rối hơn chữ Hán nữa
Muốn học chữ Nôm phải rành chữ Hán, thành ra học Nôm như học ngoại ngữ thứ hai
Vào thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ khi viết các bản điều trần ông lại nhắc tới chữ Nôm
Nguyễn Trường Tộ gọi thứ văn tự mà ông đề xuất là “Quốc Âm Hán tự” 國音漢字, nghĩa đen là “chữ Hán đọc theo Quốc Âm”
Nguyễn Trường viết:
"Nếu một người nói ra một câu, lại phải nhờ một người khác dịch ra, tức là một người nước khác rồi. Một nước Nam ta mà có hai thứ âm thoại, hai thứ văn tự, chẳng hóa ra một nước mà ngăn ra hai thứ người sao?
...Chữ mình học đã không phải chính âm của nước Tàu, mà cũng không phải là âm thoại của ta; khi học chữ phải dùng tâm trí để nhớ lấy các tiếng lạ, còn âm vận thì chỉ người có học biết lấy mà thôi, chứ người bất học nghe đến chẳng khác gì như nghe giọng quạ kêu, chim hót"
Nguyễn Trường Tộ ủng hộ cho chữ Nôm khi nói về sự thay đổi, ông muốn cải tiến chữ Nôm, nhưng cải tiến thế nào thì không có cách
Ngộ một điều là Nguyễn Trường Tộ là người Công Giáo, có quan hệ thân thiết với các giáo sĩ Tây Phương, nhà thờ, nhưng lại không đá động gì tới chữ Quốc Ngữ La Tinh mà giới giáo sĩ đang xử dụng
Ông đề nghị vua Tự Đức xài chữ Nôm chứ không đề nghị chữ Quốc Ngữ
Ông gián tiếp phản đối dùng chữ Quốc Ngữ, ủng hộ dùng chữ Hán – Nôm làm văn tự chánh thống
Có lẽ "tầm nhìn" của Nguyễn Trường Tộ không dám vượt qua khuôn khổ Nho gia, ông vẫn bị cái "Nho" kiểu Tàu giữ rịt chặt cứng trong suy nghĩ ?
Dân tộc Việt có cái xui là dù có tiếng nói rất đặc biệt nhưng tới khi đã có triều đình rồi mà vẫn chưa có chữ viết riêng, chữ Nôm không hoàn thiện
Hàn Quốc đã có bảng chữ cái, Nhựt Bổn cũng có chữ viết riêng dù không hoàn chỉnh. Có lẽ chữ tượng hình kiểu Trung Hoa không tài nào nhấn nhá thể hiện cách nói của người Việt
-Thứ ba là:
Chữ Quốc Ngữ của các cố đạo, của nhà thờ Ki Tô vào Việt Nam truyền đạo
Chữ Quốc Ngữ đã manh nha từ những năm đầu thế kỉ XVII khi các cố đạo Tây Dương vào Việt Nam truyền đạo và bị mớ rối nùi chữ Hán, chữ Nho làm bực mình. Vậy là chữ Quốc Ngữ manh nha hình thành
Các giáo sĩ Dòng Tên rất có công trong việc soạn thảo chữ Quốc Ngữ
Một thừa sai trẻ tuổi người Bồ là Francsisco de Pina đến giảng đạo ở Hội An năm 1623 đã học tiếng Việt, giảng đạo bằng tiếng Việt. Vị thừa sai này đã mở đầu cho thời viết Tiếng Việt bằng chữ cái Latin
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes làm một cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Rome, 1651) đặt nền tảng cho chữ Quốc Ngữ
-Thứ tư là:
Vì sao người Pháp chọn quốc ngữ?
Rốt cuộc thì không phải là các giáo sĩ Tây phương đã buộc người Việt dùng chữ Quốc Ngữ mà do chánh quyền thuộc địa Pháp đã xài chánh trị, cai trị mà ép dân tộc Việt xài chữ Quốc Ngữ
Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Pháp lập Liên bang Đông Dương. Liên bang Đông Dương có 4 xứ, gồm thuộc địa Nam Kỳ (Cochinchine) và ba xứ bảo hộ là Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Cambodge
Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời, có triều đình cai trị. Có đủ thứ của một quốc gia. Người Pháp không thể coi tộc Việt như các bộ tộc Châu Phi hay các bộ lạc ngoài các đảo
Tức người Pháp trong mức độ nào đó phải có một sự dè chừng, tôn trọng dân tộc Việt
Cái ngữ âm của dân tộc Việt cũng khá rối rắm, nhưng các cố đạo đã tìm được cái chữ phù hợp với nó rồi
Và quan trọng là người Pháp dựa vào các cố đạo để trị an, định hình sự cai trị. Thành ra với chữ Quốc Ngữ đã có sẵn, các cố đạo đã tác động vào việc chữ Quốc Ngữ chánh thức được áp dụng đại trà
Sau 1862 Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp
Nghị định 82 ký ngày 6. 4. 1878 Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì toàn Nam Kỳ phải chuyển hẳn sang chữ Quốc Ngữ
“Kể từ mùng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc Ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”
Tức là thủ tiêu chữ Hán và phải học chữ Quốc Ngữ
Chế độ khoa cử theo kiểu Nho bị bãi bỏ hoàn toàn ở Miền Đông Nam Kỳ sau khoa thi năm 1861 và ở Miền Tây Nam Kỳ sau khoa thi năm 1864
Người Pháp bắt cơ quan công quyền làng xã tổng, quận, tỉnh phải xài chữ Quốc Ngữ, khuyến khích các thầy đồ dạy thêm chữ Quốc Ngữ với mức thưởng 200 franc/năm
Các hương chức làng xã viết chữ Quốc Ngữ được giảm hoặc miễn thuế thân, thưởng tiền cho những làng nào viết được công văn bằng chữ Quốc Ngữ
Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là người có công khuyếch trương quốc ngữ ra đại chúng, ông đem nó qua văn chương
Năm 1886 in “Chuyện đời xưa”
Petrus Ký viết thế này:"Người ta dùng sách này mà học tiếng thì lấy làm có ích. Vì trong ấy cách nói chính là cách nói Annam ròng"
Tuy nhiên chữ Quốc Ngữ vẫn bị chống đối dữ dội, nhứt là giới tôn giáo, là bên Phật giáo và phe Nho gia
Pétrus Trương Vĩnh Ký là một trong ba nhà học giả nổi tiếng đi tiên phuông về chữ Quốc Ngữ Việt Nam mình
Đọc cuốn “Sài Gòn năm xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta sẽ thấy ông Sển khâm phục ba ông học giả xuất sắc này là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của
Vương Hồng Sển viết:
“Ba ông minh triết bảo thân, gần bùn chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hớn, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng
Nghĩ cho tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà kia, nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ngòi bút, một nghiên mực, sự nghiệp văn chương trường cửu của ba ông tiền bối này mới thật quý và thơm”
Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký bị chống đối dữ dội
Nhân vật lịch sử Tôn Thọ Tường (1825 - 1877) là một điển hình. Cuộc bút chiến giữa phe Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường nổ ra với 24 bài thơ xướng họa ra đã góp vào nền văn học Nam Kỳ những bài thơ tuyệt phẩm thực chất đó là cuộc chiên giữa chữ Quốc Ngữ, giữa người ủng hộ Pháp xài chữ Quốc Ngữ và phe thủ cựu
Tôn Thọ Tường có tài, một mình ông bút chiến với phe thủ cựu ông Phan Văn Trị trong đó có cả ông Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt
Phe cựu Phan Văn Trị:
"Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng"
Phe mới Tôn Thọ Tường trả lời:
"Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng"
Học giả Vương Hồng Sển viết:"Hai ông Trương Vĩnh Ký và Tôn Thọ Tường mà có người đòi hạ bệ, thì mình là cái thá gì?"
Người Nam Kỳ lúc đầu cũng chống, nhà giàu không cho con cháu đi học chữ Quốc Ngữ , không cho ra trường học, họ ép và mướn trẻ chăn châu, ở đợ đi học thế con mình. Tuy nhiên chỉ vài năm sau thì hết vì họ hiểu rằng học chữ Quốc Ngữ là quyền lợi của chính họ
"Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nho
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ"
Chữ Quốc Ngữ còn bị chống đối, nếu áp Tiếng Pháp vô còn bị chống đối cỡ nào? Mà có nhiều tiếng nói chống đối ở phe thân Pháp nữa
Nhà văn hóa Đông Hồ viết:“Những người phản đối việc học quốc ngữ là định muốn lấy chữ Pháp thay vào làm quốc văn Nam Việt”
Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ tức ngày 28.12.1918 vua Khải Định chánh thức ra dụ bãi bỏ khoa cử Nho học và học Quốc Ngữ, vậy là năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế
Thấy chữ Quốc Ngữ là thích hợp nên các nhà nho Duy Tân và Ðông Kinh Nghĩa Thục hiệp sức kêu gọi người dân tham gia học
Chữ Quốc Ngữ được người Pháp kêu là “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự La tinh”, người Nam Kỳ bấy giờ kêu là “Quốc Âm chữ Lang sa”, hay “ tiếng An Nam chữ Lang sa”...
Petrus Ký không gọi chữ Quốc Ngữ, ông kêu là”Tiếng An Nam ròng”. Một số nhà nghiên cứu kêu là Việt Ngữ
Chúng ta đã có chữ viết, chữ quốc ngữ La Tinh tuy là "vay mượn" Tây , nhưng nó thể hiện đúng nhứt về cấu trúc cách nói, ngữ âm của dân tộc Việt, chỉ có 24 chữ ráp lại , thêm dấu là xong, thể hiện đúng hình và thanh của dân tộc Việt
Chữ quốc ngữ ghi được âm nhấn nhá của người Việt bằng những dấu như dấu nặng, dấu hỏi, dấu ngã, dấu ngang, dấu sắc, dấu huyền...
Chữ quốc ngữ Việt Nam đã hoàn chỉnh từ khi Pháp áp dụng hệ thống giáo dục tú tài 1 ,tú tài 2 toàn Nam Kỳ và sau đó tòan Việt Nam
Hầu như người Việt Nam nào cũng biết viết, biết đọc, đó là cái cơ bản nhứt của chữ quốc ngữ
Chúng ta có 24 chữ cái “a,bê,xê,đê….” đúng tiêu chuẩn La Tinh. Chữ viết Việt tộc cơ bản hoàn chỉnh, không cần đào bới, cải cách, cải tiến gì nữa
Ngày xưa muốn thông thạo chữ Hán thì phải thuộc lòng trung bình hơn 8000 ký tự tượng hình. Loại thông thái là thuộc hơn 91.251 chữ . Trong khi quốc ngữ chỉ có 24 chữ và ghép lại. Con nít VN học hết lớp 1 đọc báo rần rần
Dân tộc Việt vậy là đã hoàn chỉnh, Việt Ngữ-Quốc Ngữ đã hoàn chỉnh, không còn cần cái gì nữa
Gia Định báo ấn bản đầu tiên vào ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn là tờ báo đầu tiên của VN. Trương Vĩnh Ký làm tổng tài, tờ báo có thêm mục biên khảo, thơ văn, lịch sử…
Gia Định báo góp phần cổ võ việc học chữ Quốc Ngữ, bày ra các loại văn xuôi
Những trường trung học ở Nam Kỳ dạy chữ Quốc Ngữ đồng loạt
Dân Nam Kỳ đậu bằng Thành Chung (Diplôme) nhiều vô kể, xứ sở của những ông Đốc Phủ Sứ, của những ông bác sĩ, bác vật, kỹ sư Pháp về
Người Nam Kỳ làm chánh trị, có quân đội riêng đối đầu với VM vào những năm 1945, rồi làm nền tạo ra Việt Nam Cộng Hòa
Các bạn biết là, những người Tây học thời đó nói tiếng Pháp sành sỏi, nhưng trình độ Nho học của họ cũng rất đáng nể. Họ xử sự “nhơn lễ nghĩa trí tín”, sống có tư cách, thẳng thuốm
Kết luận:
Người Pháp chọn vì quốc ngữ có sẵn, nó tiện lợi vì dựa vào âm tiết của dân tộc Việt, vì các cố đạo đã có sẵn trường lớp, cũng là cách mới nhưng dựa vào âm tiết của chính dân tộc Việt
Lịch sử VN ghi rằng thực dân Pháp chiếm Việt Nam là bốc lột và khai thác thuộc địa. Điều này hoàn toàn đúng
Tuy nhiên để “khai thác” thì họ phải “khai hóa” trước đã, khai hóa văn minh để khai thác kinh tế
Người Pháp phải đầu tư từ giáo dục tới văn hóa, cơ sở hạ tầng, xây dựng thành phố, đường xá, đường xe lửa, bến cảng, xẻ kinh ngang dọc để khai hoang đất, xổ phèn và thoát lũ…
Trong vòng 80 năm Pháp đổ tiền, đổ công sức không biết bao nhiêu để có được một Nam Kỳ văn minh sau này
Tới năm 1936 người Pháp đã đào 1360 km kinh chính, 2500 km kinh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu quan ở lục tỉnh làm ruộng đất sanh sôi ra, sản lượng lúa vượt bậc để xuất khẩu ra toàn thế giới
Là một người Nam Kỳ chánh gốc , có tham gia vô bộ máy của Pháp, ông Hồ Biểu Chánh viết trong những dòng đầu cuốn tiểu thuyết ‘Tơ hồng vương vần” về chuyện Pháp-Việt, có thể nói ông thân Pháp, song về lý lẽ mà luận thì nói không hề sai
Xin chép ra như sau:
(Trích)
“ Mới chiếm trị đất Nam Việt, nước Pháp phải bận lo nhiều nỗi
  • Lo chia 6 tỉnh cũ ra làm 20 hạt mới, rồi đặt quan Tham biện ở mỗi hạt đặng sắp đặt cơ quan hành chánh cho phù hạp với cách cai trị mới mà không đụng chạm đến phong hoá cổ truyền
  • Lo xây dựng an ninh cho nhơn dân được lạc nghiệp an cư, từ thành thị vô tới đồng bái
  • Lo tổ chức đường giao thông cho tiện bề mậu dịch.
Tuy phải gấp rút xây nền hành chánh, người Pháp cũng không bỏ dẹp vấn đề thâu phục nhơn tâm.
Những người sống trong nấy năm cuối cùng của thế kỷ 19, là khoảng từ năm 1895 tới năm 1900, ai cũng nhận Pháp mới chiếm trị Nam Việt có 30 năm mà đã khởi công xây dựng một nền văn hoá mới để hướng dẫn tâm hồn Việt Nam quay về phía Âu Tây.
Mới lúc ấy mà đã:
a) Có mấy người Việt thông minh được chọn lựa đem qua Pháp mà giáo hoá. Ấy là các cụ Diệp văn Cường, Trương Minh Ký, Bùi quang Nhơn, Bùi quang Chiêu, Nguyễn trọng Quảng.
b) Cho xuất bản Gia Định Báo với Thông Loại khóa trình, lại còn cho in nhiều loại sách để phổ thông chữ quốc ngữ, do các cụ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của chăm nom.
c) Mở trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) để cho những cụ đi học bên Pháp trở về hiệp với mấy cụ nho học uyên thâm dạy các quan Tham Biện, các nhân viên hành chánh và các sĩ quan trong Hải Quân và Lục Quân học tiếng Việt, mà cũng dạy luôn sử ký cùng phong hoá của người Việt nữa.
Mà điều cần yếu của người Pháp trong lúc ấy là phải có nhiều người bổn thổ phụ sự trong chức vụ thông ngôn, ký lục, để giúp các ngành hành chánh cùng công thương. Muốn cho được thỏa mãn nhu cầu khẩn cấp này, người ta phải lo lập liền:
a) Một trường sư phạm trung đẳng tại Sài gòn để đào tạo giáo viên đay các trường sơ đẳng ở mấy hạt.
b) Một trường trung học phổ thông, phân làm hai chặng, bắt đầu học tại Mỹ Tho hai năm rồi lên Sài gòn học tiếp hai năm nữa mới được bổ dụng làm thông ngôn, ký lục. Học sinh hai trường này đều được hưởng học bổng, nghĩa là được nhà trường nuôi ăn, ngủ và phát quần áo, giày nón, khỏi trả tiền chi hết.
c) Lần lượt mở trường sơ đẳng Pháp Việt tại châu thành các hạt để cung cấp cho trrường Trung học Mỹ Tho.
Nhà trường Pháp thì sốt sắng xây nền giáo dục mới, nhưng nhơn dân Nam Việt coi bộ hẫng hờ, chưa quyết yểm cựu nghinh tân.
Vì dân trí còn lơ lửng như vậy, nên những trường tân học mở ra không được dân chúng hoan nghinh cho lắm, thành thử nhà nước tốn công tốn của rất nhiều, mà mỗi năm trường sư phạm chỉ đào tạo chừng 30 giáo viên, còn trường Trung học Chasseloup-Laubat đào tạo lối 50 thông ngôn, ký lục.
Không phải người Việt Nam không ham học nên trường tân học lập ra không được thạnh phát. Không phải vậy.
Người Việt ham học lắm chớ. Họ hẫng hờ với tân học nhưng họ vẫn hăng hái với nho học luôn luôn. Ấy là họ thỏa thích món ăn tinh thần cũ của họ xưa nay, họ say mến, họ quí trọng, họ không đành bỏ mà dùng món ăn tinh thần khác, chưa chắc cái khác đó mà ngon ngọt béo bùi hơn cái của họ đã có sẵn” (Hết trích)
Dầu là chữ Quốc Ngữ được dạy ở Miền Nam song trường học cũng dạy Tiếng Pháp song hành. Rồi khi du học sẽ có một lớp người Việt nói Tiếng Pháp rất giỏi
Văn hóa Pháp ảnh hưởng ở Miền Nam rất nhiều. Thí dụ nước phông tên (fontaine),Líp ba ga (libre bagage), ôm vô lăng (volant),lơ xe (contrôleur), sà bông (Savon)...
Nam Kỳ có khăn mu soa (mouchoir), mặc xoa rê (soirée), đứng trên ban công (balcon), ăn bánh mì ba ghét( baguette), nhét giăm bông (jambon) ,xúc xích (saucisse), patê (paté) rồi uống la de ( la bière ) và bia ( bière).
Hình: Lễ khánh thành tượng học giả Trương Vĩnh Ký ở một góc công viên trên đường Norodom . Tượng do ông Trần Chánh Chiếu quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để đúc
Bức tượng tôn vinh Petrus Ký tại Sài Gòn ngày 19 tháng 12 năm 1927
Trong “Trương Vĩnh Ký hành trạng” ông Đặng Thúc Liêng (1867-1945) kể lại rằng:
“Năm 1908, Nam Kỳ sĩ phu đồng đứng xin chánh phủ chuẩn cho dựng hình Vĩnh Ký để làm kỷ niệm, chánh phủ phê y. Lúc ấy tôi đương chấp bút Nông Cổ và Lục Tỉnh Tân Văn, có ít lời vận động quyên ngân, chẳng mấy ngày mà công chúng hỉ cúng rất nhiều”
Tức là vụ dựng tượng Petrus Ký là của dân Nam Kỳ đóng góp tiền trong 19 năm trời
Bức tượng đồng Petrus Ký đặt trong công viên nằm trên đường Boulevard Norodom (Đại Lộ Thống Nhứt) trước Dinh Độc Lập gần nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, nhìn đẹp, có ý nghĩa
Sau 1975 mấy người "đồng bào","anh em" hạ bệ tượng vì kết án đó là của thực dân Pháp.
●Nguyễn Gia Việt