; }

Tuesday, September 1, 2026

QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI ĐÃ CÔNG BỐ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀO NGÀY 11 THÁNG 03 NĂM 1945

  Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945

 Trần Hoàng

  

Lời tựa của tác giả Trần Hoàng: Hiện nay đảng CSVN đang tạm thời nắm quyền kiểm soát ở Việt Nam. Như ai đó nói: “Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng“. Tương tự, lịch sử Việt Nam đã và đang bị viết lại bởi các sử gia là đảng viên của đảng CSVN. 

“Những ai đã sống và đi học ở Miền Nam trước năm 1975 đều không hề biết ngày 2-9-1945 và không biết gì về cuộc “cách mạng mùa thu””.

 

Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Đông Dương hãy tuyên bố độc lập ngay để đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương.

 

Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945.

Sau đó, nhà Vua đã giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các.

 

Vua Norodom của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945.

Vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945.

 

 

Nội dung Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Vua Bảo Đại được công bố ngày 11-3-1945. Trích từ sách của Vua Bảo Đại:

 

…Ngày hôm sau, 12 tháng 3 năm 1945, tôi (tức Bảo Đại – NT chú) cho mời viên Đại sứ Yokoyama và trao cho ông ta bản tuyên ngôn độc lập này:

Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.

“Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xứng đáng là một quốc gia độc lập, và sẽ theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á, hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.

“Vì vậy, chính phủ Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói trên.

“Khâm thử.

“Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.

 

(chú thích của Trần Hoàng: ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20, triều Bảo Đại là ngày 11-3-1945. Nguồn của bản Tuyên Ngôn Độc Lập ở cuối bài)

 

Người Miền Nam chỉ biết Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc lập vào ngày 11-3-1945, và chỉ định ông Trần Trọng Kim làm Thủ tướng đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam.”

 

 

Thủ tướng Trần Trọng Kim là một học giả, một sử gia, một nhà đại trí thức, đã tập hợp được những tinh hoa của Việt Nam thời bấy giờ, và lập ra nội các gồm 11 người.

 

…Trần Trọng Kim trình danh sách Nội các lên vua Bảo Đại phê chuẩn vào ngày 17-4-1945 và ra mắt Quốc dân 2 ngày sau đó (19 – 4 – 1945).

Xin liệt kê ra đây danh sách Nội các Trần Trọng Kim:

 

1. Trần Trọng Kim, Giáo sư, Học giả, nhà Sử học: Thủ tướng.

2. Trần Văn Chương, Luật sư: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.

3. Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ trưởng Nội vụ.

4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư: Bộ trưởng Tư pháp.

5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ Toán: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.

6. Vũ Văn Hiền, Luật sư: Bộ trưởng Tài chính.

7. Phan Anh, Luật sư: Bộ trưởng Thanh niên.

8. Lưu Văn Lang, Kỹ sư: Bộ trưởng Công chính.

9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ: Bộ trưởng Y tế.

10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ: Bộ trưởng Kinh tế.

11. Nguyễn Hữu Thi, cựu Y sĩ: Bộ trưởng Tiếp tế.

 

Ngoài 11 thành viên Nội các, Chính phủ Trần Trọng Kim còn bổ nhiệm mấy vị sau đây đảm nhận trọng trách ở các địa phương xung yếu:

 

– Phan Kế Toại: Khâm sai Bắc bộ.

– Nguyễn Văn Sâm: Khâm sai Nam bộ.

– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội.

– Đặng Văn Hướng: Tổng đốc Nghệ An.

– Kha Vạn Kân: Đô trưởng Sài Gòn. (hiện nay, nhiều nơi ghi là Kha Vạn Cân)

Trong số 16 người trên, phần nhiều về sau đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

 

Đảng CSVN thường gọi chính phủ của cụ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn của Nhật. Nhưng,

Thiết nghĩ nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thì sao được vậy …nhiều nhân vật trong nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim về sau đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

 

Chẳng lẽ cùng là thành viên của Nội các mà Thủ tướng là bù nhìn tay sai Nhật, còn các thành viên khác thì không?

 

10 thành viên Nội các với 5 quan chức trọng trấn gắn bó chung quanh Trần Trọng Kim toàn là người có học vị, có uy tín. Nghĩa là đủ trình độ nhận biết bản chất vị Thủ tướng của mình. Họ thực lòng cộng sự đã nói lên nhân cách và uy tín của Trần Trọng Kim…”  TríchCách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra

 

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Việt Nam, Lào và Kampuchia tuyên bố độc lập.

 

Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các.

 

Vua Norodom Sihanouk của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945; thành lập nội các và vua Shihanouk làm thủ tướng ngày 18-3-1945, Vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945. Cộng sản VN và một số lớn các nhà viết sử ngoại quốc đã không gọi là chính phủ Kampuchea và Lào là chính phủ bù nhìn của Nhật, nhưng luôn luôn nói CP TTK là bù nhìn là tay sai của Nhật. Thật là đáng ngạc nhiên.

 

Ngày 17-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim trình diện hội đồng nội các gồm có 12 bộ trưởng. Hình ảnh và tên của các vị này tràn đầy trong mạng internet.

 

Và sau khi đã ép Chính phủ của Thủ tướng TTK phải từ chức và Vua Bảo Đại đã thoái vị dưới nòng súng của cộng sản ngày 25-8-1945, HCM lại mời các vị trong nội các của TTK làm bộ trưởng trong chính phủ HCM. Vậy, cộng sản chụp mũ rằng các vị này làm bù nhìn cho chính phủ TTK, nhưng tại sao ngay sau đó, HCM lại mời các vị này làm bộ trưởng?

 

Thật ra vì ghen tức, vì học lực quá thấp kém, vì không ai tôn phục, không có sự chính danh, không phải là người đầu tiên tuyên bố độc lập, nên HCM và đảng CSVN luôn nói rằng chính phủ của TT Trần Trọng Kim là bù nhìn, là do Nhật dựng nên, là tay sai của Nhật… NHƯNG, chính phủ TTK đã làm những việc khổng lồ như: đặt nền móng và chương trình giáo dục, y tế, ra nghị định thành lập nghiệp đoàn công nhân, chở gạo cứu đói năm Ất Dậu cho cả Miền Bắc,…Thế cái độc lập của ngày 2-9-1945 và chính phủ của HM đã làm được cái gì? Để lại công trạng gì trong khoảng thời gian 1945-1954? 

 

Tuy học lực kém cõi, nhưng đảng CS là lực lượng có tính tổ chức cao và biết cách tuyên truyền rất mạnh mẽ so với các đảng phái quốc gia khác.

 

Đảng CSVN hiện nay cố viết lại lịch sử và cố che giấu 1 điều quan trọng nhất là chính phủ TTK đã KÝ LỆNH ân xá cho hàng chục ngàn cán bộ đảng CSVN và các đảng phái quốc gia khác được ra khỏi nhà tù trên toàn cỏi VN, trong đó có LÊ DUẪN, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Sĩ …được ra khỏi nhà tù Côn Đảo. Thử hỏi, một chính phủ bù nhìn, tay sai của Nhật thì làm sao có uy quyền này? (N.T.)

 

“Lương Ngọc Phát:  ‘Tuy học lực kém cõi, nhưng đảng CS là lực lượng có tính tổ chức cao và biết cách tuyên truyền rất mạnh mẻ so với các đảng phái quốc gia khác.’ (NT)

 

Nhiều tài liệu phân tách tôi đọc được từ thập niên 60 khi còn niên thiếu, người quốc gia ở miền Nam đã thừa nhận tình hình hồi 45, đúng như NT vừa nói.

 

Người yêu nước phi Cộng, có lẽ nặng tình non nước là chính, mà xông pha vào cuộc phong trần. Họ chưa có hoặc chưa học được kinh nghiệm cùng thủ đoạn chánh trị. Trong khi người CS, đã được thụ huấn chu đáo nghề cướp chính quyền, nghề lật đổ, nghề tình báo, nghề mỵ dân, nghề khuynh đảo, nghề ám sát, nghề tuyên truyền, nghề chụp mũ… và ghê gớm nhất, nghề “phanh thây uống máu quân thù”. Mà với người CS, ai ai cũng là thù, có thể kể cả đồng chí của họ.

 

Tất cả các ngành trên được học từ trường huấn luyện Phương Đông/LX. Kinh nghiệm phong phú rút từ CMT 10 Nga, người CS do đó, khi giành cướp, họ rất chuyên nghiệp phanh thây uống máu quân thù mà chẳng biết tanh!

 

Tình yêu tổ quốc của người Quốc Gia, chỉ với lòng nhiệt thành ngày nào, bản lãnh không chuyên. Và nhất là, có nhiều nghề trong số liệt kê trên, như nghề “phanh thây uống máu”, đến tận bây giờ người Quốc Gia cũng không sao học được. Bên thua cuộc, thua ở chính chỗ này! ” Cập nhật 2- 9-2014)

 

“Đảng CSVN hiện nay cố viết lại lịch sử và cố che giấu 1 điều quan trọng nhất là chính phủ TTK đã KÝ LỆNH ân xá cho hàng chục ngàn cán bộ đảng CSVN và các đảng phái quốc gia khác được ra khỏi nhà tù trên toàn cỏi VN, trong đó có LÊ DUẪN, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Sĩ …được ra khỏi nhà tù Côn Đảo. Thử hỏi, một chính phủ bù nhìn, tay sai của Nhật thì làm sao có uy quyền này?”

 

Ông Hồ Chí Minh rất ganh tức với cụ Trần Trọng Kim vì các thành tích nói trên, nên ông đã tìm cơ hội thoán đoạt công lao của cụ Trần Trọng Kim. Ta hãy nghe cụ Hứa Hoành viết:

“Nỗi thao thức của ông Hồ lúc nầy là Việt Minh phải nắm chính quyền, không chia xẻ, nhượng bộ cho bất cứ đảng phái nào. Ðó là đường lối nhất quán, trước sau như một của đảng cộng sản. Ðây cũng là dự mưu, từ khi ngoài rừng núi Tân Trào kéo về Hà Nội. ‘Căn cứ vào kết quả của cuộc thảo luận của ông Hồ cùng các cán bộ, thấy rằng công cuộc phát triển cách mạng của họ sẽ dẫn đến 2 trường hợp:

 

– Một là đủ sức cướp chính quyền, bản thân họ có đủ điều kiện để đàm phán bình đẳng các vấn đề với các nước Ðồng minh……

 

– Hai là lực lượng bản thân (Việt Minh) còn yếu kém… Việt Minh phải suy nghĩ đến việc cùng với nước Pháp tiến hành đàm phán, để tranh thủ một số quyền lợi và tự do dân chủ. Sau đó sẽ dùng những quyền lợi nầy làm vốn liếng để tuyên truyền, rồi tiến thêm một bước, đẩy tới cuộc vận động cách mạng, để tiếp tục đấu tranh với Pháp….’ (TưởngVĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung cộng, Thượng Huyền dịch, trang 339).”   (Hứa Hoành)

 

Biết trước có cuộc mít-ting của công chức Hà Nội vào ngày 17-8-1945, ông HCM và các đảng viên CSVN đã chuẩn bị và tổ chức vụ CƯỚP CHÍNH QUYỀN vào ngày ấy, biểu tình thêm lần nữa vào ngày 19-8,  và rồi “tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945”. (Mời đọc thêm bài trên blog to-hai.blogspot.com, nhật ký mở (lần thứ 64), 28-8-2013)

 

Vì ở thế yếu, không được các đảng phái và hội đoàn quốc gia tin phục, và không được bất cứ một nước nào công nhận, nên sau khi làm lễ tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945, ông Hồ Chí Minh đã phải xóa ván cờ, và tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11-11-1945.

 

Các đảng phái quốc gia thời ấy (có hơn 40 đảng phái, phong trào, hội đoàn…)  và có những người không theo đảng phái nào đều muốn đuổi Pháp ra khỏi VN. Nhưng không hội đoàn đảng phái nào đủ mạnh để một mình chống Pháp, không có đảng nào có dồi dào về tiền bạc, và không có khí giới dồi dào, nên khi ông HCM  lập mưu kế chính trị, tìm cách sắp xếp các nhân vật trong chính phủ, dụ các nhân sĩ vào trong nội các của chính phủ, để có uy tín đi họp với chính phủ Pháp,  và thế là có Chính phủ Liên Hiệp ra đời năm 1946.

 

Một số nhân sĩ nghe theo lời đường mật của ông HCM và hợp tác vì họ chưa nhận ra đường lối chính trị và chân dung thật sự của ông.

 

Nhưng nội các Chính phủ Liên Hiệp 1946 lại mắc mưu ông HCM một lần nữa khi ông HCM lợi dụng vai trò làm trong chính phủ để đuổi quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ra khỏi VN, và mời Quân Pháp trở lại Việt Nam qua Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946… (mời đọc bài của cụ Hứa Hoành ở cuối trang này)

 

Thật ra, ông HCM là một người có mưu lược và rất thủ đoạn, ông mời quân Pháp trở lại VN bằng Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, để mượn tay quân Pháp giết các thủ lĩnh của các đảng phái quốc gia (lúc ấy cũng mong ước đuổi Pháp giành độc lập). Ông HCM dùng con đường ngoại giao để đuổi khéo quân đội của Trung Hoa Quốc Dân Đảng về nước vì đạo quân Tàu ủng hộ các đảng phái quốc gia Việt Nam, (và không ủng hộ cộng sản Việt Nam).

 

Kể từ cuối tháng 8/1945, ông HCM vờ hợp tác với các lãnh tụ của các đảng phái quốc gia để gọi là đánh Pháp, nhưng ông lại bí mật báo cho quân Pháp biết vị trí đóng quân và nơi ở của các vị chỉ huy, các vị lãnh đạo của các đảng phái quốc gia để mượn tay quân Pháp bắt hết tất cả. Thế là lực lượng các đảng phái quốc gia bị suy yếu, và ông HCM nổi lên ở thế mạnh. Đây là giai đoạn 1945-1950. (bài viết của tác giả Hứa Hoành).

 

Nhưng vì đảng cs của ông HCM quá tàn ác, dùng các thủ đoạn ám sát giết hại quá nhiều người, nên những người trong lực lượng Việt Minh đã trốn về thành phố, hoặc trở về nhà. Lực lượng của ông HCM suy yếu hẳn.  Ông Hồ Chí Minh phải trốn vào rừng vì bị quân Pháp truy nã. Lẽ ra, ông HCM đã chết trong rừng vì tuyệt vọng và thiếu thốn…

 

Nhưng cái may đã đến với ông HCM  khi Mao Trạch Đông đánh thắng Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và đuổi ông này ra đảo Đài Loan 1949.

 

Ông Hồ Chí Minh quá mừng rỡ, nên đã bí mật qua cầu viện Mao vào mùa xuân 1950. Việc mãi quốc cầu vinh của ông HCM đã thành công vì Mao là một người có tầm nhìn xa và là một nhà chiến lược.

 

Trong cuộc thương lượng bí mật với HCM năm 1950, Mao đòi lấy Hoàng Sa và Trường Sa và coi Miền Bắc VN như một trái độn (theo phe cộng sản) để không một nước nào đánh vào Trung Cộng ở phía nam.  Ông HCM đồng ý trao đổi để Mao chiếm HS và TS, đổi lại thì ông HCM sẽ được Mao cung cấp súng ống đạn dược và cử  bộ đội Trung Cộng qua VN đánh Pháp.

 

Mùa xuân 1951, quân viện và vũ khí hậu cần của Trung Cộng gởi tới VN. Ông HCM phải thực hiện Cải cách Ruộng đất 1951-1956 theo chỉ thị của Mao. Ông HCM đã viết báo cáo về chuyện cải cách ruộng đất và gởi Mao. Và ông HCM cũng viết 2 lá thư cầu viện với Stalin 1952. Nhưng lúc này, Stalin trên giường bệnh và sắp chết, nên đã bỏ mặc ông HCM.

 

Để phát động chiến dịch CCRĐ, HCM viết Địa Chủ Ác Ghê, ký tên C.B. (viết tắt Của Bác) đăng trên báo Nhân Dân 21-7-1953 (nguồn).

 

Mao đã giúp ông HCM chiếm Điện Biên Phủ 1954, và ông HCM dùng chiến thắng ấy như là công lao riêng của đảng CSVN đã lãnh đạo một lực lượng chống Pháp, và sẽ là một lực lượng đối trọng đòi hỏi chia đôi đất nước trong thời gian 2 tháng sau đó.

 

Với tư thế chiến thắng của ông HCM, cộng thêm với thế lực đang lên của Trung Cộng từ khi chiếm được Trung Quốc 1949 (và qua việc chiến tranh với Mỹ ở Triều Tiên 1953), và thế chiến lược của Mỹ và Pháp vào lúc ấy đang thay đổi… đã áp đảo và ép buộc chính phủ của ông Ngô Đình Diệm phải chia đôi Quốc gia Việt Nam, một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc, mà Vua Bảo Đại đã tuyên bố độc lập từ ngày 11-3-1945.

 

Đây là các sự kiện lịch sử: từ 3-1945 đến tháng 9-1954, toàn Miền Bắc, kể cả Hà Nội vẫn còn trực thuộc chính phủ của Quốc gia Việt Nam; cho đến lúc này, đảng CSVN vẫn hoạt động bất hợp pháp, đảng không có văn phòng chính thức nào ở trên đất nước VN, và không có một tòa công thự hay văn phòng chính phủ nào của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

 

TT Ngô Đình Diệm đã không ký vào Hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngày 20-7-1954. Bởi vậy, ông không cần phải tuân theo Hiệp định Geneve, và dĩ nhiên ông đã không tham gia cuộc tổng tuyển cử 1956.

 

Trung cộng ra lệnh cho HCM tiến hành chiến tranh Miền Nam:

… vào năm 1958 khi học tại Trung cộng đã chứng kiến tận mắt sự khinh bỉ của sinh viên Trung cộng đối với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa qua câu chuyện rất ngắn nhưng gói ghém rất nhiều sự thật về tình đồng chí quốc tế vô sản, Trần Đỉnh kể:

 

“Một hôm Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân đến Bắc Kinh đại học nói chuyện với cả nghìn sinh viên. Bọn tôi nghe. Các mẩu câu hỏi, thắc mắc của sinh viên tới tấp truyền tay nhau đưa lên trên bàn Chu Ân Lai. Đến một mẩu, ông đọc to: Trung Quốc nghèo, dân Trung Quốc đói, sao cứ phải giúp Việt Nam?

Tôi thật tình xấu hổ. Sinh viên Trung quốc đòi chấm dứt viện trợ cho Việt Nam trước đông đủ các nước, nhất là trước sinh viên Hồi Giáo sáng sáng bốn năm giờ ra hành lang tụng kinh giập đầu thình thình xuống đất không ai ngủ nổi. Mà sao Chu Ân Lai không ỉm đi? Tôi hơi ức.

Chu Ân Lai giải đáp ngắn gọn, thẳng thắn. Viện trợ cho Việt Nam là nghĩa vụ quốc tế nhưng có lợi cho Trung Quốc: nên đẩy chiến tranh và đế quốc ra xa Trung Quốc hay để cho chúng nó áp sát bên cạnh?” ((Cập nhật 9-2014- trích tác phẩm Đèn Cù của Trần Đỉnh).

 

Chiến Tranh Việt Nam đã xảy ra do Trung cộng ra lệnh cho HCM và đảng CSVN thực hiện, vậy thì chữ độc lập có ý nghĩa gì không?

 

Sự kiện trên cho thấy rằng Nước VNDCCH và việc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 chỉ là sản phẩm tự biên tự diễn của các đảng viên đảng CSVN, họ rêu rao tuyên truyền mãi và người Miền Bắc đều tin. Đại đa số dân miền Nam từ Quãng trị vào Mũi Cà Mau chẳng ai biết ngày 2-9-1945 là gì cho mệt xác. Vì thừa biết là của giả, nên chẳng có một nước nào trên thế giới gởi thư chúc mừng sự độc lập của nước VNDCCH. Đố ai tìm được nguồn tài liệu nào cho thấy có nước nào trên thế giới viết quốc thư công nhận nước VNDCCH từ 1945-1950? “Nước VNDCCH” cũng chẳng có văn phòng đại diện hay sứ quán, đại sứ quán nào ở bất kỳ quốc gia nào từ 1945-1950.

 

Đảng CSVN là một tổ chức bất hợp pháp, không chính danh từ khi ra đời 1930 cho đến nay, đố ai tìm được nguồn văn bản nào chứng minh rằng đảng CSVN có làm đơn xin phép hoạt động như một hội đoàn hợp pháp ở VN, cũng không chính phủ nào ở VN đã từng cấp giấy phép cho  đảng CSVN sinh hoạt hợp pháp.

 

Từ tháng 2-1930- tời tháng 10/1954, đảng CSVN cũng chưa từng có một trụ sở của đảng hay một văn phòng công khai để hoạt động hợp pháp. Đảng từ tay không mà cướp được một nửa nước VN qua các thủ đoạn chính trị, và Hiệp Định Geneve 1954 là thành công đầu tiên của đảng CS và ông HCM. Bởi vậy mới có từ Việt Minh Cướp Chính Quyền 1945.

 

Trở lại chuyện mật ước trao đổi đất đai biển đảo lấy vũ khí giữa Mao và ông HCM năm 1950.

 

Sau khi giúp ông HCM chiếm được Miền Bắc 20-7-1954, Mao đã dựa vào mật ước đã ký kết với ông HCM 1950 để đòi thù lao và quân đội của Mao đã chiếm một số hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và kế đó bắt nước VNDCCH phải công nhận. Thế là ông HCM và đảng CSVN (lúc ấy có tên LĐVN) phải sai Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký Công Hàm14-9-1958,  theo đó, nhà nước VNDCCH phải công nhận Hoàng Sa và Trường sa là của Trung Cộng. Đây là hành động bán nước vì chẳng còn từ nào dùng cho chính xác hơn.

 

Ông HCM mắc mưu Trung Cộng (hay ông là điệp viên của Trung Cộng?). Kể từ 1955, hàng năm, ông HCM đều qua nghĩ dưỡng ở Quế Lâm, Trung Cộng. Ông HCM vẫn thường nghĩ mát ở đó từ 1-3 tháng hàng năm và ông giữ thói quen ấy suốt 14 năm; và cho đến năm 1968, ông HCM vẫn còn giữ thói quen ấy.

 

Ông HCM là một người đàn ông mạnh mẻ, nhàn nhả và độc thân, trong khi Mao Trạch Đông là một con quỷ hoang dâm vô độ ( mời các bạn đọc Hồi Ký của Bác Sĩ Lý Chí Thỏa trên vnthuquan.net)…Chắc chắn Mao đã gài bẫy mỹ nhân kế và ông HCM đã sa bẩy như vụ TBT Lê Khả Phiêu.

 

Chắc chắn Mao đã bí mật thu âm, chụp hình ảnh về những ngày nghĩ dưỡng của ông HCM ở vùng Quế Lâm (Trung Quốc). Và Mao đã dùng các chứng cớ ấy để black-mail hay hăm dọa đảng CSVN sau này. Trong cuộc họp mật ở Thành Đô, TC, vào ngày 3 và 4 tháng 9, 1990, Trung cộng chắc chắn đã vờ lộ ra cho các đệ tử của ông HCM các băng thâu âm và hình ảnh của ông HCM trong những ngày nghĩ dưỡng ở vùng Quế Lâm thơ mộng…

 

Mật ước giữa Mao và ông Hồ vào năm 1950 về Trường Sa Hoàng Sa, và các hình ảnh của ông HCM trong những lần nghĩ dưỡng (ăn chơi) hàng năm ở Trung cộng hiện nay là cái kềm kẹp vào cổ đảng CSVN và Nhà Nước.

 

Bởi vậy,  hai mươi ba năm qua, Trung cộng đối xử tàn tệ và khinh bạc cở nào, đảng và nhà nước cũng phải nhẫn nhịn răm rắp và cúi đầu nghe theo. Vì TC đã hăm sẽ tung tài liệu và hình ảnh của “bác Hồ” và các mật ước đã ký kết giữa TC và đảng CSVN cùng Nhà Nước từ 1950-2000 ra cho công luận vào bất cứ lúc nào cần, và nếu chuyện ấy xảy ra, đảng CSVN và nhà nước chỉ còn chui xuống cống.

 

Điển hình, năm 1999, khi muốn thúc hối nhà nước VN phải ký Hiệp Định biên giới,  TQ đã tung lên mạng internet  và đưa lên báo chí Công Hàm 14-9-1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thế là nhà nước VN vội vả ký ngày 31-12-1999, thứ trưởng Lê Công Phụng biết vụ này quá rõ hơn ai hết. Kết quả: VN phải ký Hiệp Định biên giới và nhường cả chục ngàn km vuông, phải dời cột mốc biên giới về phía nam vào sâu trong nội địa VN, làm mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, vùng Móng Cái, núi Lão Sơn…Ai không tin, cứ lên vùng biên giới Việt -Trung, mang theo 1 cây thước dây thật dài, và đo cộc mốc biên giới từ cột mốc O km tới cột mốc 1 km, cột mốc 2 km…phải đo từng km, thì sẽ thấy chiều dài giữa cột mốc 0 km và 1 km, rồi chiều dài giữa cột mốc 1 km và cột mốc 2 km…sẽ khác biệt rất lớn. Đó chính là bằng chứng đất đai bị mất, cột mốc bị dời về phía VN. Nghĩa là đất biên giới VN đã bị mất vào tay TC).

 

Bởi vậy, trong hơn  mấy chục năm qua, khi TC chiếm Trường Sa 1988, bắn chết 64 Hải quân của QĐNDVN,  ngăn cấm ngư dân VN không được đánh cá trong vùng Biển Đông, bắn giết và giam cầm ngư dân VN,  xâm nhập và đòi quyền lợi trong vịnh Bắc bộ, cho dân quân Trung cộng vào VN thành lập các doanh nghiệp (có trời mới biết họ làm gì), kéo tàu dầu vào khoan dầu trong Biển Đông vào đầu năm nay,…nhưng nhà nước vẫn nín khe, không tố cáo, không dám họp báo để phản đối, không triệu đại sứ TC tại Hà Nội đến văn phòng chính phủ để trao kháng thư…còn công an nhân dân VN,  và quân đội nhân dân VN vẫn nín khe không dám hó hé gì. Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh còn qua TC họp và nói tốt tốt, sẽ hợp tác an ninh chung, tuần tra Biển Đông chung, và tuyên bố rằng sẽ trở về nước bắt những người VN nào biểu tình phản đối TQ chiếm HS và TS, làm nguy hại đến sự hợp tác giữa hai nước …Bởi vậy, khi người VN nào trong nước lên tiếng phản đối TC chiếm HS và TS, là nhà nước VN bắt giam bỏ tù (2008-2013).

 

Đại đa số dân chúng VN  biết rõ đảng CSVN và Bộ Chính trị rất tàn ác và ngang ngược, đã từng đánh với Trung Cộng 1979, đã từng viết sách, lên báo đài phát thành truyền hình…chửi rủa xối xả Trung Cộng từ 1978-1986. Nhưng, bỗng nhiên đảng và nhà nước đã bị thuần hóa, họ trở nên ngoan hiền với TC kể từ khi có cuộc Họp Mặt ở Thành Đô, Trung cộng, ngày 3 và 4 tháng 9, 1990 do Tướng Lê Đức Anh làm môi giới (giữa Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên…và chủ tịch TC Giang Trạch Dân).  Thậm chí, còn ký Hiệp định biên giới trên bộ với TC 1993 để mất Thác Bản giốc,  Ải Nam Quan, núi Lão Sơn… vào tay TC.

 

Tại sao vậy? Tại sao đảng CSVN quang vinh muôn năm,  và Bộ Chính Trị cùng 175 ủy viên trung ương tự khoe là những đỉnh cao trí tuệ của loài người,  bỗng nhiên trở nên dễ dạy, cung cúc nghe lời và bị Trung cộng thuần hóa đến độ nhũn còn hơn con bún?

 

Bởi vì TC có được trong tay các chứng cớ, các tài liệu, các hình ảnh, các băng thu âm…về cá nhân của ông HCM, về ông HCM và đảng CSVN đã ký kết các thỏa thuận với TC trong thời gian 1950-1990. Và TC chỉ cần tung lên mạng, công khai hóa vài tài liệu, là đảng CSVN và nhà nước chỉ còn nước chui vào ống cống.

 

Biết vậy, nên đảng CSVN và Nhà Nước im re, thuần phục TC một phép. Nói dại chứ, nếu TC đòi cột mốc biên giới đến tận Hà Nội, thì đảng và nhà nước cũng Ô-Kê, miễn TC đừng đưa ra hình ảnh, tài liệu, âm thanh gì hết.

 


 

Posted by hoangtran204 on 02/09/2013

Wednesday, August 26, 2026

NAM KỲ SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE (1954-1955): CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ PHỨC TẠP TẠI MIỀN NAM

1. Nam Kỳ năm 1955: Quyền lực phân mảnh và quá trình tái định hình chính trị sau Hiệp định Genève

Năm 1955 là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất của lịch sử Nam Kỳ hiện đại.
Chỉ một năm sau Hiệp định Genève (1954), miền Nam Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển tiếp đầy biến động khi chính quyền trung ương tìm cách thiết lập quyền kiểm soát trên một vùng lãnh thổ, trong bối cảnh đã tồn tại nhiều trung tâm quyền lực độc lập suốt gần một thập niên chiến tranh.
Nếu bố cục bản đồ hành chính khi ấy, dù toàn bộ Nam Kỳ thuộc quyền quản lý của Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng đầu (đến tháng 10 năm 1955 trở thành Việt Nam Cộng hòa). Tuy nhiên, Nam Kỳ khi ấy lại là một không gian đa cực quyền lực (multi-polar political order) - bạn đọc xem bản đồ hành chính trong ảnh, được dựng lại dựa theo tài liệu của H. Summers - nơi nhiều chủ thể chính trị cùng tồn tại, cạnh tranh và kiểm soát lãnh thổ.
Điểm đặc biệt của Nam Kỳ năm 1955 là phần lớn các lực lượng này không chỉ sở hữu quân đội mà còn xây dựng được hệ thống hành chính, kinh tế và xã hội riêng. Các bộ máy này hoạt động như những "nhà nước trong lòng nhà nước" (state within a state), khiến quyền lực của chính quyền trung ương chỉ là một trong nhiều trung tâm quyền lực cùng tồn tại.
2. Tình hình Nam Kỳ sau Hiệp định Genève
Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và quy định việc tập kết quân đội về hai miền. Phần lớn lực lượng Việt Minh rút ra miền Bắc, nhưng một bộ phận cán bộ chính trị và cơ sở bí mật vẫn ở lại Nam Kỳ. Đồng thời, chính quyền mới tại Sài Gòn phải tiếp quản một vùng đất vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, nơi các thiết chế hành chính còn yếu và nhiều lực lượng vũ trang chưa chịu giải giáp.
Trên danh nghĩa, chính phủ trung ương kiểm soát toàn bộ miền Nam. Nhưng trên thực tế, quyền lực chỉ thực sự vững chắc tại Sài Gòn, Chợ Lớn và một số đô thị lớn. Ở nhiều vùng nông thôn, đặc biệt tại Tây Ninh và đồng bằng sông Cửu Long, các giáo phái và thủ lĩnh quân sự địa phương mới là lực lượng quyết định trật tự xã hội.
Nam Kỳ lúc này gồm năm tầng quyền lực cùng tồn tại:
- Chính quyền trung ương,
- Các giáo phái vũ trang,
- Các thủ lĩnh quân sự địa phương,
- Hệ thống hành chính tỉnh huyện,
- Mạng lưới cơ sở bí mật của lực lượng cộng sản.
Chính sự chồng lấn này khiến việc quản lý lãnh thổ trở nên hết sức phức tạp. Đối với nhiều học giả và cố vấn phương Tây thời kỳ đó, Nam Kỳ năm 1955 là hình ảnh của một "quốc gia chưa hoàn chỉnh" (unfinished state).
Một nhà nước hiện đại thường phải nắm ba quyền lực cơ bản:
- Độc quyền sử dụng vũ lực.
- Độc quyền thu thuế.
- Độc quyền quản lý hành chính và tư pháp.
Tuy nhiên, cả ba yếu tố này đều chưa được chính quyền miền Nam kiểm soát hoàn toàn.
Nhiều khoản thuế tại địa phương không chảy về ngân sách quốc gia mà được các giáo phái hoặc lực lượng địa phương thu trực tiếp. Nhiều đơn vị quân sự không chịu sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng VNCH mà trung thành với các thủ lĩnh riêng. Ngay cả việc giải quyết tranh chấp dân sự hay giữ gìn trật tự ở nhiều vùng cũng do các giáo phái đảm nhiệm.
Điều này khiến quyền lực nhà nước không trải đều trên lãnh thổ mà chỉ hiện diện mạnh ở các đô thị và các tuyến giao thông quan trọng.
3. Các giáo phái tại Nam Kỳ như những thực thể bán quốc gia
Một sai lầm phổ biến là xem Cao Đài hay Hòa Hảo đơn thuần là các tổ chức tôn giáo. Thực tế, đến năm 1955, cả hai tổ chức này đều đã phát triển thành những thực thể chính trị – quân sự với đầy đủ các yếu tố của một chính quyền địa phương.
Trong vùng ảnh hưởng của mình, họ có quân đội, cảnh sát, hệ thống thu thuế, trường học, bệnh viện, kho lương thực, mạng lưới hậu cần và thậm chí cả cơ chế giải quyết tranh chấp. Người dân ở nhiều khu vực tiếp xúc với chính quyền giáo phái nhiều hơn chính quyền Sài Gòn. Lòng trung thành của họ vì thế thường gắn với cộng đồng địa phương hoặc tổ chức tôn giáo hơn là với quốc gia.
4. "Quốc gia tôn giáo" Cao Đài
Đạo Cao Đài phát triển mạnh mẽ nhất ở khu vực Tây Ninh. Tòa Thánh Cao Đài không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của toàn bộ vùng ảnh hưởng.
Lực lượng Cao Đài từng sở hữu hàng chục nghìn binh sĩ cùng hệ thống doanh trại, kho vũ khí và cơ sở hậu cần hoàn chỉnh.
Trong nhiều năm, Tây Ninh vận hành gần như một vùng tự trị với hệ thống quản lý riêng. Sau năm 1954, một số lãnh đạo Cao Đài chấp nhận hợp tác với chính quyền Sài Gòn, trong khi những nhóm khác vẫn duy trì mức độ độc lập đáng kể.
Chính vì vậy, việc giải thể quân đội Cao Đài trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Ngô Đình Diệm nhằm xây dựng một nhà nước thống nhất.
5. Quyền lực dựa trên mạng lưới xã hội của Hòa Hảo
Khác với Cao Đài, Hòa Hảo không tập trung quyền lực vào một trung tâm duy nhất.
Sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ qua đời năm 1947, phong trào chia thành nhiều nhóm do các thủ lĩnh quân sự lãnh đạo. Mỗi nhóm kiểm soát một khu vực riêng với các tuyến sông, chợ, kho lúa và mạng lưới làng xã.
Đây là kiểu quyền lực dựa trên quan hệ cộng đồng, tín ngưỡng, họ hàng và uy tín cá nhân. Vì vậy, chính quyền VNCH muốn kiểm soát vùng Hòa Hảo không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà còn phải thay thế toàn bộ mạng lưới xã hội đã tồn tại nhiều năm.
6. Thủ lĩnh địa phương Ba Cụt
Ba Cụt (Lê Quang Vinh) là một trong những nhân vật tiêu biểu của lực lượng Hòa Hảo nhưng hoạt động tương đối độc lập.
Ba Cụt không xây dựng một bộ máy hành chính quy mô lớn mà dựa vào khả năng tác chiến, uy tín cá nhân và việc kiểm soát các tuyến giao thông đường thủy.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, việc kiểm soát sông ngòi đồng nghĩa với kiểm soát thương mại, thuế khóa và vận chuyển lương thực. Chính điều đó tạo nên sức mạnh kinh tế cho các thủ lĩnh địa phương. Những khu vực như Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên đều chịu ảnh hưởng đáng kể của lực lượng này.
7. "Nhà nước mafia" Bình Xuyên
Nếu Cao Đài dựa vào tôn giáo và Hòa Hảo dựa vào cộng đồng nông dân thì Bình Xuyên xây dựng quyền lực chủ yếu trên nền tảng kinh tế.
Xuất thân từ các nhóm giang hồ vùng sông nước, Bình Xuyên dưới thời Bảy Viễn dần kiểm soát phần lớn hoạt động kinh tế ngầm của Sài Gòn – Chợ Lớn. Nguồn thu của nhóm cát cứ này đến từ sòng bạc, khu giải trí, bến cảng, vận tải và nhiều loại hình kinh doanh khác.
Điểm đặc biệt là trong một thời gian, Bình Xuyên còn được chính quyền Quốc gia Việt Nam giao quản lý lực lượng cảnh sát tại Sài Gòn – Chợ Lớn. Đây là trường hợp hiếm thấy trong lịch sử hiện đại khi một tổ chức bán quân sự vừa sở hữu quân đội riêng, vừa quản lý lực lượng công an, vừa điều hành mạng lưới kinh doanh quy mô lớn.
Đến năm 1955, Bình Xuyên trở thành đối thủ quân sự trực tiếp của chính quyền Ngô Đình Diệm. Cuộc giao tranh tại Sài Gòn vào tháng 4–5 năm 1955 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở đầu quá trình xóa bỏ các trung tâm quyền lực độc lập.
8. Lực lượng Việt Minh còn ở lại
Sau Hiệp định Genève, dù phần lớn lực lượng Việt Minh tập kết ra Bắc, nhiều cán bộ cấp xã, huyện và các cơ sở chính trị được lệnh ở lại để duy trì mạng lưới hoạt động bí mật.
Trong giai đoạn 1955–1959, họ chưa tiến hành chiến tranh quy mô lớn nhưng vẫn xây dựng cơ sở quần chúng, giữ liên lạc với miền Bắc và theo dõi tình hình chính trị tại địa phương.
Điều này khiến chính quyền Sài Gòn khi đó phải đối mặt đồng thời với hai thách thức: các lực lượng vũ trang công khai như Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và hệ thống tổ chức bí mật của lực lượng cộng sản.
9. Đời sống xã hội Nam Kỳ dưới nhiều tầng quyền lực
Sự phân mảnh quyền lực tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Ở nhiều địa phương, người dân có thể cùng lúc chịu sự quản lý của nhiều hệ thống khác nhau.
Ban ngày là chính quyền quận huyện, ban đêm có thể là lực lượng giáo phái hoặc các tổ chức khác. Có nơi người dân nộp thuế cho chính quyền trung ương nhưng vẫn phải đóng góp cho lực lượng địa phương để bảo đảm an toàn.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với tình trạng vô chính phủ. Trong nhiều vùng, các giáo phái vẫn duy trì được trật tự, bảo vệ sản xuất, tổ chức từ thiện, xây dựng trường học và cơ sở y tế. Chính nhờ mạng lưới xã hội sâu rộng đó mà họ nhận được sự ủng hộ của một bộ phận cư dân.
Bên cạnh những biến động chính trị, Nam Kỳ còn phải đối mặt với hậu quả của nhiều năm chiến tranh. Hạ tầng giao thông xuống cấp, sản xuất nông nghiệp chưa phục hồi hoàn toàn, trong khi làn sóng hàng trăm nghìn người di cư từ miền Bắc vào Nam sau năm 1954 tiếp tục làm thay đổi cơ cấu dân cư và phân bố đất đai.
10. Chính sách tập trung quyền lực của Ngô Đình Diệm
Đối với chính quyền Sài Gòn, sự tồn tại của nhiều đội quân tư nhân là trở ngại lớn nhất đối với việc xây dựng một nhà nước hiện đại.
Từ đầu năm 1955, chính quyền triển khai chương trình thống nhất quân đội, yêu cầu các giáo phái giải thể lực lượng riêng hoặc sáp nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Một số đơn vị chấp nhận hợp tác, nhưng nhiều nhóm lựa chọn đối đầu bằng quân sự.
Cuộc chiến với Bình Xuyên chỉ là bước mở đầu. Sau đó, chính quyền tiếp tục mở các chiến dịch nhằm làm suy yếu các lực lượng Cao Đài và Hòa Hảo còn chống đối. Đến cuối năm 1955 và trong năm 1956, phần lớn các vùng lãnh thổ từng nằm dưới quyền kiểm soát độc lập của các giáo phái đã được đưa vào hệ thống hành chính của chính quyền trung ương.
Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu lịch sử; những hành động của chính quyền VNCH không đơn thuần là những chiến dịch quân sự mà là quá trình xây dựng nhà nước (state-building). Mục tiêu cốt lõi là chuyển toàn bộ các chức năng công quyền – từ thu thuế, tuyển quân, xét xử, quản lý đất đai đến duy trì an ninh – về một bộ máy thống nhất đặt dưới quyền trung ương.
11. Các ảnh hưởng bên ngoài đến Nam Kỳ
Năm 1955 cũng đánh dấu sự thay đổi trong cán cân ảnh hưởng quốc tế tại miền Nam.
Sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, vai trò của Pháp suy giảm nhanh chóng. Trong khi đó, Hoa Kỳ tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự và cố vấn nhằm giúp chính quyền Ngô Đình Diệm củng cố bộ máy nhà nước và xây dựng lực lượng quân đội thống nhất.
Ở phía bên kia, miền Bắc tập trung củng cố chính quyền mới, đồng thời duy trì mạng lưới cơ sở bí mật tại miền Nam để chuẩn bị cho những diễn biến lâu dài của cuộc đấu tranh chính trị và quân sự sau này.
12. Ý nghĩa lịch sử trên tấm bản đồ Nam Kỳ 1955
Các mảng màu trên bản đồ Nam Kỳ năm 1955 chủ yếu phản ánh vùng ảnh hưởng chính trị – quân sự tương đối của từng lực lượng. Nhiều khu vực có quyền lực chồng lấn, thay đổi theo thời điểm, theo tuyến giao thông hoặc theo khả năng hiện diện của từng tổ chức.
Năm 1955 là thời điểm kết thúc dần mô hình quyền lực đa trung tâm hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và mở đầu cho quá trình xây dựng một nhà nước tập quyền ở miền Nam.
Cuộc cạnh tranh giữa chính quyền trung ương Sài Gòn với Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và các lực lượng địa phương không chỉ là xung đột quân sự, mà còn là sự va chạm giữa hai mô hình tổ chức quyền lực: một bên là các thiết chế địa phương dựa trên tôn giáo, cộng đồng hoặc thủ lĩnh quân sự; bên kia là nỗ lực xây dựng một quốc gia hiện đại với quyền lực tập trung và bộ máy hành chính thống nhất.
Nam Kỳ năm 1955 là một trường hợp điển hình về quá trình chuyển đổi từ một không gian hậu chiến đa cực sang một mô hình nhà nước tập quyền. Những diễn biến trong giai đoạn này không chỉ quyết định cục diện chính trị của Việt Nam Cộng hòa trong các năm tiếp theo mà còn tạo nền tảng cho những xung đột sâu sắc của Chiến tranh Việt Nam sau này.

Nguồn: FB Cổng văn hóa

Tuesday, July 28, 2026

TẠI SAO CÓ CHIẾN TRANH VIỆT NAM ?

Bút Sử

        

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – (The Truman Doctrine)

 

Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự Khủng Bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Có những người luôn phê bình tổng thống Johnson về điểm yếu của ông trong chính sách đương đầu với cộng sản miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, ông đã không chủ trương muốn chiến thắng. Nhưng kiểm lại tài liệu lịch sử thì thấy rằng ông Johnson đã không hẳn là vậy. Nguyên do của sự lưng chừng không dứt khoát đi ra từ những vấn đề phức tạp liên quan mà chúng tôi sẽ trình bày trong một tiêu đề khác. Cũng như tại sao Johnson đã không tái ứng cử.

 

We have learned at a terrible and brutal cost that retreat does not bring safety and weakness does not bring peace. It is this lesson that has brought us to Vietnam – Chúng ta học ở một cái giá khủng khiếp và tàn bạo rằng sự rút quân không mang lại an toàn và sự yếu đuối không mang lại nền hòa bình. Nó là bài học này mà đã đưa chúng ta tới Việt Nam.

 

Câu nói trên của tổng thống Lyndon Johnson trong một buổi họp báo tại Toà Bạch Ốc vào năm 1965 khi chuẩn bị tăng cường quân sự để đạt mục đích chiến thắng trong cuộc chiến hết sức cam go.

 

Tại Sao Có Chiến Tranh Việt Nam?

 

 

 

Một chút ít hậu cảnh khi nói về chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa Việt Minh với Pháp từ 1946-1954 kết thúc tại Điện Biên Phủ. Nguyên do có cuộc chiến này cũng vì sự xuất hiện của Hồ Chí Minh sau thế chiến thứ 2 kết thúc. Làn sóng đỏ bắt nguồn từ Hồ tại Á Châu là mối đe doạ cho khối tự do mà chính tổng thống Richard Nixon đã phải nhấn mạnh. Ông Nixon cho rằng nhiều người còn lầm tưởng đó là cuộc chiến có tinh thực dân của Pháp, nhưng thật ra đó là cuộc chiến tranh chống cộng sản (It is not colonialism, it is communism, No More Vietnams, trang 36).

 

Trong phim tài liệu “Why Vietnam” do John Ford thực hiện, ghi nhận hiện tượng coi như dị thường rằng có 3 nhóm người chống nhau tại 3 khu vực: nhóm Việt không cộng sản chống Việt cộng sản, và trong 2 nhóm đó có số người chống Pháp.

 

 

Sau khi thua trận Điện Biên Phủ (vũ khí của Tàu Nga cung cấp hùng hậu cho Việt Minh) Pháp rời Việt Nam. Lúc này cờ đỏ bay càng nhiều hơn trong mọi nẻo đường miền Bắc. Hiệp Định Geneva do Tạ Quang Bửu, đại diện cộng sản Bắc Việt, ký với Pháp chia đôi lãnh thổ Việt Nam tại vĩ tuyến 17, miềm Bắc thuộc cộng sản, miền Nam có chính phủ theo thể chế tự do.  Nếu cộng sản miền Bắc chấp hành những gì ghi trong hiệp định thì dù chia đôi nhưng dân chúng hai bên vẫn sống trong hoà bình yên ổn. Trường hợp Nam Hàn chẳng hạn, quân đội Hoa Kỳ vẫn đóng đó hàng chục năm, nhưng không ai cho rằng đó là hành động xâm lăng mà với mục đích giống như tại miền Nam Việt Nam là ngăn chặn làn sóng đỏ từ Bắc Hàn. Hơn nữa, quân đội Hoa Kỳ còn đó và trong hơn 3 thập niên qua, Nam Hàn đã và đang phát triển kinh tế vựot bực so với các quốc gia tiến bộ khác.

 

 

Riêng việc chia đôi Việt Nam thì phải hiểu đó là kế họach của Nga Tàu đưa ra cho tay sai Hồ Chí Minh thực hiện. Thực tế  thì nó là một thiết bị cho sự thắng lợi về phe cộng sản. Hình bên chúng ta thấy Chu Ân Lai lộ vẻ vui mừng thỏa mãn sau khi Pháp-Việt cộng sản ký xong Hiệp Định Geneva. Bắc Kinh cho rằng cái công thắng Pháp tại Điện Biên Phủ là do phe Trung Cộng làm thành; mà thật vậy, từ cố vấn chỉ huy, nhân sự tiếp trợ, đến vũ khí đạn dược đa phần do Trung Cộng cung cấp. Có thể nói từ thời điểm đó về sau Hà Nội bị một cái tròng nặng hơn vào cổ khó gỡ. Việc Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm bằng lòng chấp nhận Hòang Sa-Trường Sa là của Trung Cộng vào 1958 cho thấy rõ tư thế của phe Hồ bị lệ thuộc như thế nào.

 

 

Hơn một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam vì họ đã kinh nghiệm một thời gian khá dài trong sự cai trị độc tài khắc nghiệt của tập đoàn Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trong đoàn người xuôi Nam tỵ nạn có nhiều thành phần cộng sản được gài vào mà sau này chính sách báo cộng sản đã công nhận ít nhất 60 ngàn cán bộ.

 

Cộng sản miền Bắc gia tăng đàn áp trên mảnh đất miền Nam. Chính phủ miền Nam bắt buộc phải tạo thế phản công và  đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ. Cộng sản càng gia tăng lực lượng xâm lăng miền Nam thì Hoa Kỳ nhận thấy phải làm rộng thêm phạm vi công tác tiếp tay. Chính sách của Hoa Kỳ, nhấn mạnh hơn dưới thời tổng thống Harry Truman (The Truman Doctrine), lúc nào vẫn giúp các quốc gia trên thế giới, những nơi dân chủ và tự do của con người bị đe dọa.

 

 

 

 

Việc biên giới tại vĩ tuyến 17 trên thực tế đã không có giới hạn rõ ràng để ngăn ngừa làn sóng xâm lăng từ miền Bắc. Trong khi xô đẩy cán bộ vào Nam thực thi những công tác khủng bố người dân trong làng mạc miền Nam thì Hồ Chí Minh ngoài Bắc đóng vai một "hiền nhân đức độ"

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims – Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự khủng bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Miền Nam theo thể chế bầu chọn Tổng Thống và các chức vụ đại diện dân, trong khi tại miền Bắc rõ ràng chế độ cộng sản cho thấy họ không bao giờ nghĩ tới việc bầu cử tự do một cách công khai minh bạch. Năm 1954, tổng thống Eisenhower cũng đã giúp chính phủ miền Nam phát triển và giữ thế vững mạnh để có thể chống đỡ nếu có sự chống phá xảy ra. Năm 1955, Hoa Kỳ và các nước Úc, Pháp, Tân Tây Lan, Pakistan, Phillippines, Thailand và Anh đã ký cam kết bảo vệ an ninh trong vùng chống lại cộng sản. Hiệp ước này gọi là  SEATO (South East Asia Security Treaty Organization).

 

 

Trong khi miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đang kiến thiết xây dựng kinh tế, phát triển các bộ phận khác như giáo dục, nông nghiệp, thì miền Bắc người ta thấy dân ra sức lao động xây dựng những trung tâm huấn luyện hành động và tuyên truyền để chuyển gài cán bộ vào miền Nam. Chương trình của họ gồm cả hành động khủng bố và lật đổ để làm xáo trộn chính phủ miền Nam. Người ta còn nhớ mỗi lần sinh nhật 19 tháng 5 của ông Hồ, ông ta hay lên đài kêu gọi dân chúng nỗ lực thêm trong công tác khủng bố và đưọc vậy thì ông Hồ trọng thưởng những cá nhân đó trong ngày sinh nhật của ông ta.

 

 

 

 

 

 

 

    

Với cách đánh du kích của quân miền Bắc, hành động rất dã man, không thương xót mạng đồng bào của họ, mục đích là tàn phá, thì Hà Nội gọi đó là “cuộc chiến tranh giải phóng”. Việc này không bao giờ đúng đối với hàng ngàn những người chống cộng lúc đó. Lãnh đạo, giáo chức và gia đình họ cùng trẻ con họ bị cộng sản vào nhà ban đêm dẫn đi, có khi xác tìm thấy đâu đó hay mất tích!

 

Vào 1959, tổng thống Dwight Eisenhower nhận ra hiểm họa tại Việt Nam. Ông đã quyết định giúp miền Nam bảo vệ vùng đất tự do chống lại làn sóng đỏ từ Bắc lan vào. Eisenhower đã tuyên bố bổn phận công dân Hoa Kỳ làm gì và cái giá phải trả để bảo vệ tự do tại ngay đất Mỹ phải qua nhiều hình thức khác nhau, kể cả phải hy sinh mạng người tại Đức,Việt Nam, Trung Đông…

 

 

Đến 1960 thì tại miền Nam có thể nói chiến trận mọi nơi. Càng lúc càng thấy rõ vị thế nước Mỹ phải làm gì và họ đang đương đầu với ai. Trong diễn văn vào 1965, tổng thống Johnson đã nhấn mạnh cho công dân Mỹ biết là:

 

In this war, it is guided by North vietnam and it is furnished by communist China. Its goal is to conquer the South and to extend asia to millions of commuinsts … Trong cuộc chiến này, nó được chỉ đạo bởi miền Bắc Việt Nam và được trang bị bởi Trung Cộng. Mục đích của cuộc chiến là để thống trị miền Nam và để bành trướng Á Châu có thêm hằng triệu người cộng sản.

 

 

Không ai thấy rõ âm mưu này hơn những người dân miền Nam. Chính phủ miền Nam, vào 1961, cấp bách gọi Washington DC trình bày về hiện trạng. Hoa Kỳ gởi qua quân cụ, súng ống, và kỹ thuật viên. Họ huấn luyện người Việt cách dùng để đạt hiệu quả. Những cố vấn người Mỹ này là chuyên gia, rất giỏi, và năng động. Họ học cả tiếng Việt để giảng huấn. Ngay trong thời điểm này, những người Mỹ tại Việt Nam chỉ là những cố vấn, không có một căn cứ quân sự nào được thành lập. Nhiều trạm y tế công cộng do người Mỹ dựng lên để giúp tìm bệnh và cho thuốc, cũng như nhiều trường hợp khác trong tinh thần nhân đạo.

 

 

Chiến Tranh Du Kích (The Guerrilla Warfare, The Latest Technique of the Global Communist Plan)

 

Đương đầu với những trận đánh du kích mọi nơi, mọi tỉnh trong miền Nam là một điều vô cùng khó khăn cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

 

 

Việt Cộng lẫn vào dân để sống và hăm doạ dân nếu không làm theo kế hoạch của họ. Tại miền Bắc, thanh niên bị cưỡng ép vào quân đội, nếu không thì tai hoạ cho gia đình, bằng cách này hay cách khác họ sẽ bị hại, có trường hợp nhà nước cộng sản cắt "hộ khẩu" để không được quyền mua bán gì cả. Có người vì đói quá phải gia nhập quân đội để gia đình bớt đi phần ăn. Những anh bộ đội mặt mày còn non nớt, chưa hiểu rõ nguyên nhân của cuộc chiến, hoặc hiểu theo lối tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” khi mà trước 1965 Hoa Kỳ chưa đặt một cơ cấu quân sự nào cả.

 

Không gì hơn là chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường thêm những phái đoàn cố vấn. Họ đã chứng kiến cảnh chiến tranh không rõ hàng ngũ (no frontlines) bởi vì phe cộng sản là du kích, ẩn hiện mọi nơi, có khi họ bắt dân làm theo họ, và phe quân đội miền Nam phải có cách tìm ra sự thật là vấn đề không phải dễ, nhất là về tâm lý thì cộng sản tuyên truyền "quân đội miền Nam tấn công dân chúng". Người Việt với nhau đã khó như thế thì với người Mỹ càng khó khăn hơn.

 

 

Hình ảnh trong phim tài liệu ta thấy cảnh Việt Cộng tải thương và tử thi thì đó là dấu hiệu cho biết là Việt Cộng còn hiện diện không xa trong địa phận đó. Đây là trạng huống đau đớn mà những người lính Việt Nam Cộng Hoà phải để trong đầu, phải chuẩn bị chiến đấu với địch trong bất cứ lúc nào.

 

Cộng Sản Tấn Công Tàu Maddox

 

 

 

báo Thanh Niên đăng tin Kỷ Niệm 40 năm Bắc Việt tấn công tàu Maddox Báo Thanh Niên, 30/7/2004, kỷ niệm 40 năm ngày cộng sản Bắc Việt tấn công Maddox.

Một bằng chứng không thể chối cãi.

 

Vào tháng 8, 1964, cộng sản miền Bắc mở rộng phạm vi của sự phức tạp. Với sự tăng cường lực lượng vào Nam càng ngày càng nhiều, cùng vũ khí đạn dược do Nga Tàu cung cấp, không gì hơn là làm ra cuộc chiến tranh thật sự gài Mỹ vào trong thế phải nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến. Vì có thế cộng sản miền Bắc mới có cớ tuyên truyền mạnh “Mỹ xâm lăng” và dùng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”.Chiêu bài này chỉ cho dân miền Bắc vì ngoài ấy mọi thông tin bị bít kín, ngoại trừ tin của Đảng.

 

Trong tháng 7, 1964, để làm giảm làn sóng ồ ạt đưa vũ khí, người vào Nam, cố vấn của tổng thống Johnson thảo ra nghị quyết có tính trừng phạt cộng sản miền Bắc nếu họ cứ tiếp tục xâm lăng thì miền Nam sẽ tấn công ra Bắc. Nghị quyết chưa được đem ra quốc hội bàn thảo, và việc này, tổng thống Johnson không vội vàng xúc tiến chỉ chờ xem những đợt xua quân xâm lăng có giảm thiểu hay không.

 

Ngày 2 tháng 8, 1964, Bắc Việt tấn công tàu khu trục Maddox của Hoa Kỳ tại hải phận quốc tế gần vùng biển Thanh Hoá. Cộng sản viện lý do tàu Maddox vi phạm hải phận Việt Nam vào tối 31 tháng 7. Ba chiếc phóng lôi (torpedo) tấn công với tốc độ nhanh vào gần Maddox. Những tiếng súng cảnh báo từ Maddox bắn ra nhưng phóng lôi vẫn tiến tới, hải quân Mỹ phải dùng súng 5in bắn ra triệt hạ một tàu và làm hư hại một tàu khác. Cộng sản bắn 2 ngư lôi vào Maddox nhưng không trúng, cách tàu 200 yards. Liền đó, tàu được tiếp viện không vận, cuộc xung đột ngưng. Bên Mỹ không thiệt hại gì cả.

 

Hai ngày sau, 4 tháng 8, tàu khu trục thứ hai tên C. Turner Joy đến tiếp trợ. Người trực radar trên tàu Maddox phát hiện 5 chiếc phóng lôi của cộng sản đang tiến tới. Lúc này  2 chiếc tàu Mỹ biết họ bị tấn công liền gọi không vận yễm trợ và ra lệnh sẵn sàng ứng chiến. Kết quả 2 tàu cộng sản bị bắn chìm và 2 bị hư hại.

 

Chủ trương của Hoa Kỳ lúc này là không tỏ thái độ muốn chiến tranh với miền Bắc (restraint). Sau vụ tàu bị tấn công 2 lần, Hoa Kỳ đo lường được mức độ gây hấn của cộng sản. Các vị chỉ huy quân sự và cố vấn cho rằng cộng sản xem sự hạn chế của Hoa Kỳ đồng nghĩa với thế yếu ớt thiếu nghị lực nên quyết định tấn công. Tổng thống Johnson quyết định trả đủa, và sau đó nghị quyết đã được đem ra bàn thảo và được quốc hội thông qua. Đây cũng là lần đầu tiên những người Mỹ với súng ống, máy bay xả xuống khu căn cứ hải quân của địch tiêu diệt 25 chiếc phóng lôi. Tài liệu sau này cho thấy rõ miền Bắc muốn Mỹ nhúng tay càng nhanh càng tốt  vào cuộc chiến để chính thức phóng ra một cách mạnh mẽ chiêu bài “Mỹ xâm lăng” đệm thêm vào chiêu bài cũ là “giải phóng miền Nam” mà xem ra không có hiệu quả về mặt tuyên truyền.

 

Trong lúc quân đội miền Nam và đồng minh Hoa Kỳ giao chiến với cộng sản miền Bắc thì tổng thống Johnson vẫn trong tinh thần không muốn chiến tranh lan rộng. Hoa Kỳ nhiều lần yêu cầu cộng sản miền Bắc ngồi vào bàn hội nghị để bàn việc ngưng chiến tiến tới một giải pháp tốt đẹp 2 bên, nhưng phe cộng sản không bao giờ chấp nhận. Trái lại, có lần một chiếc tàu chỡ vũ khí tiến vào Nam bị chận bắt, trong đó rất nhiều vũ khí đạn dược do Trung Cộng chế tạo. Có khi phải dội bom để ép cộng sản vào bàn hội nghị cũng vẫn không thành công.

 

Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Dean Rush, đã cố gắng vận dụng để đem Hà Nội vào bàn hội nghị. Ngay cả Liên Hiệp Quốc, Anh, Ấn Độ làm cùng một mục đích, nhưng Hà Nội và Bắc Kinh vẫn thái độ từ chối. Tổng thống Johnson đề nghị vào bàn họp vô điều kiện cũng vẫn bị Hà Nội và Bắc Kinh từ chối và còn cho đó là trò đánh lừa của Mỹ. 17 nước, không là đồng minh của Hoa Kỳ, cũng đề nghị một giải pháp hoà bình vô điều kiện vẫn không thay đổi thái độ của Hà Nội và Bắc Kinh.

 

Thế giới thấy rõ cộng sản đang muốn thống trị miền Nam. Hà Nội quyết định không chọn giải pháp tiến tới hoà bình, còn Bắc Kinh thì trắng trợn hơn, họ tuyên bố chủ thuyết và mục đích của cộng sản Trung Hoa không thể thay đổi, sự tiến tới một Đông Nam Á cộng sản, và sau đó là đại đồng thế giới.

 

Johnson: We do not seek the destruction of any government or make any territory. We always insist the people of South Vietnam shall have the right of choice, the right to shape their own destiny in  free elections in the South, or throughout all Vietnam  under international supervision. They should not have any government imposed upon them by force and terror so long as we can prevent it. We do not want an expanding  struggle with consequences that no one can perceive. We will not surrender and we will not retreat – Chúng tôi không chủ trương phá hoại bất cứ chính phủ nào hay tìm vùng ảnh hưởng. Chúng tôi luôn khẳng định người dân miền Nam nên có quyền tự chọn hình thức cho vận mệnh của họ qua những cuộc bầu cử tự do, hoặc là cho cả toàn dân Việt Nam dưới sự kiểm soát của quốc tế. Họ không nên có một chính phủ nào áp đặt cho họ bằng bạo lực và khủng bố trong lúc chúng ta đang còn có thể ngăn ngừa chuyện đó. Chúng tôi không muốn một cuộc tranh đấu kéo dài với hậu quả mà không ai biết trước. Chúng tôi sẽ không đầu hàng và chúng tôi sẽ không rút quân.

 

 

 

 

 

 

 

Trong cuộc chiến chống lại dân chúng, những loại chất nổ mạnh không chỉ nhắm vào những người đàn ông mang vũ khí, nhưng Toà Đại Sứ tại Saigon chính nó cũng trở thành một trận điạ lớn. Những tên khủng bố Việt cộng đã chọn nơi này để đặt bom. Họ đã có tính toán kỹ lưỡng và tiếp tục chiến dịch tạo khủng bố chống lại người Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và công dân Việt tại miền Nam.

 

Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ càng được tăng cường để đối kháng lại địch quân càng ngày càng có chiến lược tinh vi hơn, gồm cả giương đông kích tây, nhất là những trận du kích khó đóan biết, những vụ gài mìn trên đường lộ để làm tắt nghẽn lưu thông, đặt bom phá cầu, khủng bố những nhà kinh doanh bằng cách vào nhà ban đêm để thu tiền (đóng hụi chết cho cộng sản), chặt đầu trưởng ấp ban đêm rồi treo tòn ten trên bìa rừng cây cao su dọc quốc lộ 1 Saigon Tây Ninh, một hình thức khủng bố cho dân sợ.v.v..

 

 Tổng thống Johnson nói: Nếu tự do còn tồn tại trong từng nhà người Mỹ tại Hoa Kỳ thì tự do trước đó đã được gìn giữ duy trì tại nơi như Việt Nam. Ông cũng cho rằng hầu hết dân vùng Á Châu không thể tự mình bảo vệ chống lại cộng sản, một lọai người mang chủ nghĩa không tưởng đang lan tràn sanh sản nhanh chóng mà ông ví họ như lòai chuột trong đám cỏ có nọc độc.

 

Đội quân chiến đấu Hoa Kỳ đã đến. Sứ mệnh của họ rất đơn giản – chiến đấu cho tự do tại Việt Nam. Họ biết rằng cái gọi là “chiến tranh giải phóng” chỉ là một hình thức xâm lược và nó sẽ bị đánh bại. Người Mỹ cũng đã thấy rõ rằng cộng sản miền Bắc đã chọn con đường xâm lăng vào Nam và làm hằng triệu dân miền Nam chịu tổn thất, đau khổ.

 

As long as there are men who hate and destroy, we must have the courage to resist …we did not choose to be the guardians at the gates, but there is no one else, said JohnsonNgày nào còn những người chỉ biết thù ghét và tàn phá, chúng ta phải có can đảm để chống lại. Chúng ta không chọn để trở thành người bảo vệ tại các cổng, nhưng mà không còn ai cả ngòai chúng ta.

 

 

Bút Sử

 

Sources:

 

Why Vietnam, John Ford, 1973

We Will Stand in Vietnam, 1965

The Vietnam War, Bernard C. Nalty, 1998