; }

Wednesday, January 28, 2026

VIỆT NAM TRƯỚC CHIẾN TRANH

Bản sắc Việt Nam được hình thành trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc. Nhưng đất nước này từ lâu cũng vừa là kẻ chinh phục vừa là kẻ bị chinh phục.

Một cảnh trong chiến dịch Bắc Ninh, diễn ra giữa Pháp và Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam, năm 1884. Bản in, bản vẽ và tranh màu nước từ Bộ sưu tập Quân sự Anne S.K. Brown. Kho lưu trữ kỹ thuật số Brown. Thư viện Đại học Brown.Public Domain.
Hầu hết độc giả ngoài Việt Nam vẫn chủ yếu liên tưởng đến quốc gia nhỏ bé ven biển này với cuộc chiến kéo dài hàng chục năm đã khiến quân đội Hoa Kỳ sa lầy trong cuộc chiến ngăn chặn miền Bắc Việt Nam cộng sản chiếm lấy miền Nam không cộng sản. Chiến tranh Việt Nam kết thúc bằng thất bại nhục nhã đối với Mỹ vào năm 1975. Thất bại cũng là ký ức ám ảnh người Pháp về thuộc địa cũ của họ.
Thất bại đáng xấu hổ mà Pháp phải chịu trong trận Điện Biên Phủ năm 1954, khi quân đội của Võ Nguyên Giáp chấm dứt 80 năm cai trị thuộc địa, vẫn còn vang vọng trong chính trường Pháp cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, chủ đề chiến thắng anh hùng thống trị hình ảnh tự thân của quốc gia. Hàng năm, hàng triệu học sinh và học viên quân sự được học rằng đất nước Việt Nam của họ, trải dài hình chữ "S" từ sông Hồng ở phía bắc đến đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam, có được sự tồn tại nhờ truyền thống lâu đời chống lại sự xâm lược của ngoại bang. Trước người Mỹ và người Pháp, người Việt Nam đã đánh đuổi người Trung Quốc và người Mông Cổ. Hồ Chí Minh chỉ là một trong nhiều anh hùng đã giành được độc lập cho Việt Nam. Người Pháp và người Mỹ chỉ có thể tự trách mình vì đã bỏ qua những bài học lịch sử.
Tuy nhiên, câu chuyện về sự kháng cự này cũng có cái giá phải trả. Việc tạo ra một quá khứ trong đó Việt Nam, với biên giới và hình dạng mà chúng ta nhận ra ngày nay, luôn chiến đấu trong sự đoàn kết chống lại những kẻ xâm lược nước ngoài, đã che khuất một lịch sử phức tạp và hấp dẫn hơn.
Thật vậy, đất nước Việt Nam dài hình chữ S mà chúng ta thấy trên bản đồ ngày nay không phải lúc nào cũng tồn tại dưới hình dạng đó. Giống như Hoa Kỳ, Nga hay thậm chí Trung Quốc, Việt Nam là sản phẩm của sự bành trướng thuộc địa của chính mình. Và, giống như các đế chế trong suốt lịch sử, nó bắt đầu từ một khu vực cốt lõi nhỏ và mở rộng thành hình dạng đế quốc. Cái nôi của nền văn minh Việt Nam nằm ở đồng bằng sông Hồng, nơi một nhà nước độc lập, tập trung quyền lực tên là Cổ Loa xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên gần thủ đô Hà Nội hiện nay. Mặc dù Cổ Loa là một nhà nước vô cùng năng động vào thời điểm đó, nhưng nền độc lập của nó không kéo dài, vì đế chế Trung Quốc ở phía bắc bắt đầu điều quân đến vùng biên giới phía nam. Từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, người Trung Quốc đã kiểm soát lưu vực sông Hồng và biến miền Bắc Việt Nam thành tỉnh cực nam của họ, Giao Chỉ. Việt Nam vẫn là một phần của Trung Quốc trong suốt một thiên niên kỷ.
Bản đồ do Tim Aspen vẽ, dựa trên bản đồ gốc do
Penguin Random House cung cấp
Sự cai trị của Trung Quốc có thể rất hà khắc. Đã có những cuộc kháng chiến dữ dội của người Việt, bao gồm cả cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Người Trung Quốc đã cử quân đội triều đình đến đàn áp. Nhưng nhiều người Việt cũng hợp tác với người Trung Quốc, coi sự cai trị của họ là động lực cho sự thay đổi và hiện đại hóa. Thật vậy, một nghìn năm cai trị của Trung Quốc đã truyền bá nhiều khía cạnh văn hóa Trung Quốc vào Giao Chỉ. Các quan chức Trung Quốc đã giới thiệu những khái niệm mới về luật pháp, thời gian và không gian (bộ luật, lịch, thước đo, trọng lượng và bản đồ) cũng như hệ thống hành chính quan liêu, vũ khí, giấy và hệ thống chữ viết dựa trên chữ Hán. Văn hóa thượng lưu vùng sông Hồng đã thay đổi với sự du nhập của kiến ​​trúc hoàng gia, âm nhạc, nghệ thuật và ẩm thực theo phong cách Trung Quốc, bao gồm cả việc sử dụng đũa. Nho giáo và Phật giáo Đại thừa trở thành một phần của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này.
Với sự suy yếu của đế chế Trung Quốc dưới thời nhà Đường (618–907), người Việt giành lại độc lập vào thế kỷ thứ 10, nhưng lại mất độc lập một lần nữa vào đầu thế kỷ 15, khi nhà Minh tái thiết lập đế chế bằng sự kết hợp giữa thuyết phục và vũ lực. Cuộc thuộc địa hóa thứ hai này không kéo dài lâu; người Việt giành lại độc lập vào năm 1427. Nhưng một lần nữa, việc Việt Nam thoát khỏi sự cai trị của đế chế Trung Quốc không có nghĩa là chủ nghĩa thực dân không còn là một phần trong lịch sử của nó. Nó vẫn là một động lực thúc đẩy. Giống như người Mỹ, những người đã thoát khỏi Đế quốc Anh vào cuối thế kỷ 18 chỉ để tạo ra nhà nước thuộc địa của riêng mình bằng cách mở rộng về phía tây đến Thái Bình Dương, người Việt Nam đã quyết định mở rộng lãnh thổ. Khi người Trung Quốc đã ra đi, họ tập trung vào việc xây dựng đế chế của riêng mình, chinh phục các vùng đất phía nam bằng vũ khí, hệ thống hành chính và ý thức hệ thuộc địa của Trung Quốc theo kiểu Nho giáo "ưu việt." Khi quân đội, quan chức và người định cư của họ di chuyển về phía nam, các hoàng đế Việt Nam đã thiết lập các vùng bảo hộ, thúc đẩy việc định cư và luân phiên giữa các phương pháp cai trị "trực tiếp" và "gián tiếp" đối với các dân tộc đa sắc tộc ở xa trong sứ mệnh văn minh hóa của riêng họ. Trong khi những người thực dân Mỹ chinh phục các dân tộc bản địa châu Mỹ và đẩy lùi các đế chế châu Âu cạnh tranh ở Bắc Mỹ, người Việt Nam đã chinh phục người Chăm ở miền Trung Việt Nam, người Khmer ở ​​đồng bằng sông Cửu Long phía nam và một loạt các dân tộc không phải người Việt ở vùng cao nguyên xung quanh. Khi lên nắm quyền vào đầu thế kỷ 19, hoàng đế Gia Khánh của Trung Quốc thậm chí còn lo sợ rằng người Việt Nam có ý định bành trướng lãnh thổ sang miền nam Trung Quốc.
Triều đại nhà Lê, cai trị Việt Nam từ năm 1428 đến năm 1789 sau khi nhà Minh rút quân, chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuộc tiếp xúc với chủ nghĩa thực dân. Sau khi giành lại độc lập cho Việt Nam và tự xưng đế vào năm 1428, Lê Lợi và những người kế vị đã cải tổ nhà nước theo đường lối Nho giáo. Vị hoàng đế này nhận thấy cơ hội để thành công trong việc thiết lập quyền kiểm soát tập trung đối với đất nước rộng lớn, điều mà những người tiền nhiệm của ông đã thất bại. Ông và con cháu của mình đã thúc đẩy nền chính trị Nho giáo thông qua việc xây dựng thêm nhiều học viện và trường học, đẩy nhanh chương trình thi cử tuyển chọn quan lại và ban hành bộ luật nhà Lê mang đặc điểm Nho giáo.
Quân đội nhà Trịnh, cuối thế kỷ 18. Daderot (CC0)
Sự bành trướng thuộc địa nhanh chóng đã châm ngòi cho nội chiến và sự hình thành các quốc gia Việt Nam đối địch nhau, tranh giành quyền kiểm soát lãnh thổ đang mở rộng. Mặc dù nhà Lê vẫn cai trị đất nước, nhưng hai quốc gia Việt Nam đã xuất hiện sau khi quân Trung Quốc rút lui vào thế kỷ 15; một ở phía bắc do gia tộc quân sự Trịnh cai trị và một ở phía nam đang mở rộng lãnh thổ dưới sự lãnh đạo của các chúa Nguyễn. Đến thế kỷ 18, nhà Nguyễn ở phía nam đã cai trị một quốc gia độc lập trên thực tế với chế độ quân chủ, bộ máy hành chính và quân đội riêng. Mặc dù đã nỗ lực hết sức, nhà Trịnh vẫn không thể đánh bại quốc gia nổi dậy này. Nội chiến càng trở nên dữ dội hơn vào những năm 1770, khi anh em nhà Tây Sơn, dựa vào làn sóng đói nghèo của nông dân ở vùng cao nguyên miền Trung Việt Nam, đã đánh đuổi nhà Nguyễn khỏi kinh đô Huế và đẩy họ vào các căn cứ trong rừng ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó, nhà Tây Sơn hướng sự chú ý về phía bắc và cuối cùng lật đổ nhà Trịnh ở phía bắc vào cuối những năm 1780. Quân Trung Quốc đã cố gắng can thiệp nhưng không thành công; nhà Tây Sơn cũng đã đánh đuổi họ.
Tuy nhiên, nhà Nguyễn vẫn trụ vững từ các căn cứ trong rừng. Thật vậy, cuộc nội chiến kéo dài 30 năm chỉ thực sự kết thúc khi gia tộc Nguyễn thực hiện cuộc phục hưng phi thường dưới sự lãnh đạo của Gia Long. Vị tướng tài ba này đã dẫn quân đội tiến dọc bờ biển và đưa hải quân tiến về phía bắc để đánh bại nhà Tây Sơn và tuyên bố thành lập đế chế Việt Nam vào năm 1802. Hình dạng chữ S của Việt Nam ngày nay bắt nguồn từ năm đó, là sản phẩm của nhiều thế kỷ bành trướng thuộc địa và nội chiến. Từ những năm 1620, Việt Nam đã là một vùng đất bị chia cắt. Việc tồn tại "hai Việt Nam" trong nửa sau thế kỷ 20 không nhất thiết là điều bất thường.
Con trai của Gia Long, Minh Mạng, đã cai trị quốc gia thống nhất chưa từng có này bằng bàn tay sắt từ kinh đô Huế ở miền Trung. Lý trí đến mức ám ảnh và thông minh hơn bất kỳ ai trước đó, Minh Mạng đã dành 20 năm trị vì để xây dựng một nhà nước hiện đại. Tàn nhẫn, ông không cho phép bất cứ điều gì cản trở mình. Giống như các nhà cai trị Thái Lan và Miến Điện xây dựng nhà nước ở phía tây, Minh Mạng đồng ý rằng quyền lực tập trung dựa trên sự kiểm soát hành chính hợp lý có thể cho phép quản lý nhà nước hiệu quả hơn và phát triển kinh tế. Các chính sách hành chính của ông thúc đẩy sự thống nhất lãnh thổ, tập trung hóa nhà nước, phát triển kinh tế và đồng nhất hóa tư tưởng. Các kỳ thi tuyển công chức đã được cải cách để đảm bảo tính minh bạch và chống lại những tác động tai hại của nạn gia đình trị và chế độ quân phiệt kéo dài hàng thế kỷ. Thật vậy, việc thiết lập một chính phủ dân sự nắm quyền điều hành quân đội – chứ không phải ngược lại – là ưu tiên hàng đầu của Minh Mạng và là điều cần thiết để xây dựng một nước Việt Nam mới.
Hình ảnh Hoàng đế Minh Mạng được khắc họa trong cuốn "Nhật ký chuyến sứ đến triều đình Xiêm và Cochin-China, thể hiện thực trạng của các vương quốc này" của John Crawfurd, năm 1828. Thư viện Đại học Cornell. Public Domain.
Về mặt kinh tế, thuế do nhà nước quản lý đánh vào người dân và thương mại sẽ cung cấp nguồn tiền cần thiết để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng lớn, mua hàng nhập khẩu từ nước ngoài và trả lương cho bộ máy hành chính ngày càng mở rộng. Việc kiểm soát hành chính chặt chẽ hơn, mở rộng xuống cả các cấp thấp hơn, cho phép huy động một lượng lớn lao động cần thiết để xây dựng các đê điều, đường sá và cầu cống mới. Dưới thời Minh Mạng, nhà Nguyễn đã xây dựng con đường quan lộ chạy từ Hà Nội đến Sài Gòn để vận chuyển quan lại và quân đội hiệu quả hơn giữa miền Bắc và miền Nam; người Pháp đã trải nhựa con đường này vào đầu thế kỷ 20 vì những lý do tương tự. Hoàng đế cũng ủng hộ các nỗ lực thúc đẩy thương mại quốc tế. Ông đã trấn áp nạn buôn lậu gạo và thuốc phiện, thay vào đó thúc đẩy thương mại do nhà nước quản lý với Singapore, Trung Quốc và phương Tây thông qua các thương nhân Trung Quốc, Việt Nam và châu Âu được phê duyệt. Nhà Nguyễn đã tổ chức cộng đồng thương nhân người Hoa thành các hội quán để kiểm soát và thu thuế tốt hơn.
Những cải cách kinh tế và chính trị này cho thấy triều đại của Minh Mạng vào đầu thế kỷ 19 xứng đáng được ghi nhận nhiều hơn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Điều đó không có nghĩa là ông đã đạt được mọi thứ mình đặt ra, mà chỉ muốn nói rằng sự hiện đại hóa ở Việt Nam, hay bất cứ nơi nào khác, không phải là một hiện tượng tất cả hoặc không có gì và nó không nhất thiết phải đến từ sự can thiệp của thực dân phương Tây.
Cũng cần lưu ý rằng việc tạo ra một Việt Nam dưới thời Minh Mạng đã châm ngòi cho một làn sóng chinh phục thuộc địa khác. Vào những năm 1830, khi ông cách mạng hóa nhà nước, Minh Mạng đồng thời mở rộng lãnh thổ bao gồm toàn bộ Campuchia hiện đại và một phần của Lào. Cuối cùng, hoàng đế Việt Nam đã đi quá xa. Khi ông cố gắng xóa bỏ chế độ quân chủ Campuchia, ông đã gây ra một cuộc nổi dậy lớn của người Campuchia và dẫn đến sự can thiệp quân sự của Thái Lan. Campuchia giành lại độc lập dưới một thỏa thuận hòa bình do Thái Lan và Việt Nam cùng đàm phán. Tuy nhiên, Việt Nam không nhất thiết phải mãi mãi là một "hình chữ S." Cuối cùng, sự can thiệp của Thái Lan, chứ không phải của Pháp, đã cứu Campuchia khỏi sự thuộc địa hóa của Việt Nam vào những năm 1840.
Khi người Pháp đẩy mạnh quyền lực đế quốc của mình vào Việt Nam, họ đã xây dựng nhà nước của mình dựa trên nền tảng nhà nước Việt Nam có sẵn. Thật kỳ lạ, nhà nước thuộc địa Đông Dương của Pháp, chính thức được tuyên bố vào năm 1888, lại phản ánh ranh giới của Đại Việt dưới thời Minh Mạng vào những năm 1830, bao gồm cả Campuchia và phần lớn Lào. Mặc dù cuộc đấu tranh giành thống nhất và độc lập trong thế kỷ 20 rất quan trọng để hiểu về Việt Nam, nhưng nó lại bỏ qua thực tế rằng chưa bao giờ chỉ có một Việt Nam duy nhất mà là nhiều Việt Nam khác nhau với những đặc điểm vô cùng đa dạng. Trong khi người Việt Nam phải chịu đựng sự cai trị của người Pháp trong 80 năm, họ không phải lúc nào cũng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân nước ngoài. Bản thân họ cũng từng là những kẻ đi xâm lược.
Cảnh sông ở Việt Nam thời nhà Nguyễn, Nicolas de Beauvais, khoảng thế kỷ 18. Bảo tàng Rijskmuseum. Public Domain.
Các cách lý giải thông thường về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thường mô tả đó là mối quan hệ mà Việt Nam luôn kiên quyết chống lại sự xâm lược của Trung Quốc. Đây là một câu chuyện hấp dẫn đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, những người muốn gợi lại một nền văn hóa kháng chiến trường tồn chống lại ngoại xâm, không chỉ trong cuộc đấu tranh chống lại người Pháp và người Mỹ vào giữa thế kỷ 20 mà còn gần đây hơn là chống lại người Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới những năm 1980 và trong cuộc đối đầu căng thẳng ở Biển Đông hiện nay. Nhưng, như chúng ta đã thấy, câu chuyện "chống Trung Quốc" này đã đơn giản hóa vấn đề quá mức. Thay vào đó, chúng ta nên nhận ra rằng Việt Nam, giống như Hàn Quốc và thậm chí cả Nhật Bản, đang ở một vị trí độc đáo khi trước đây từng là một phần của, và luôn phải đối phó với, đế chế khổng lồ mà người Trung Quốc đã xây dựng từ thời nhà Hán (206 TCN – 220 CN). Giống như người Frank và người Đức đối phó với Đế chế La Mã cùng thời, người Việt Nam đã vay mượn nhiều thứ từ người Trung Quốc. Người Hàn Quốc và người Nhật Bản cũng vậy, vào một thời điểm nào đó. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa, chẳng hạn, người Frank và người Đức một mặt, và Việt Nam và Hàn Quốc mặt khác, là Đế chế La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên, trong khi đế chế Trung Quốc vẫn tồn tại đến ngày nay. Đế chế Trung Quốc luôn có khả năng tái thiết và thậm chí mở rộng bản thân.
Người Việt Nam, giống như người Hàn Quốc, đã vay mượn từ người Trung Quốc để xây dựng đất nước và văn hóa của riêng mình ở vùng ngoại vi của Đế chế Trung Hoa, đồng thời luôn phải đảm bảo rằng người Trung Quốc không buộc họ quay trở lại trật tự đế quốc đó. Điều này có nghĩa là người Việt Nam luôn phải tự thuyết phục bản thân rằng họ không phải là người Trung Quốc, bất chấp sự phụ thuộc vào các mô hình từ Trung Quốc, đồng thời tự coi mình là sứ giả của một nền văn minh ưu việt mà họ đang truyền bá xuống phía nam thông qua sự bành trướng thuộc địa của chính mình. Đó là một sự cân bằng độc đáo, khó khăn và hấp dẫn. Người Pháp và người Đức không bao giờ phải lo lắng về việc người La Mã quay trở lại để đàn áp họ hoặc chế giễu việc họ vay mượn các thể chế nhà nước, thần thoại, ngôn ngữ hoặc tuyên bố là những vị Caesar mới ở châu Âu thời hậu La Mã (Sa hoàng, Hoàng đế). Người Việt Nam thì luôn phải lo lắng về điều đó.
Những người cộng sản Việt Nam hiện nay cũng đang ở trong tình trạng tương tự. Họ đã vay mượn rất nhiều từ các mô hình và phương pháp của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc, bao gồm cả các phương pháp về hoạt động quân sự, xây dựng nhà nước độc đảng, và kể từ các cải cách kinh tế những năm 1980, điều chỉnh kinh tế tư bản chủ nghĩa để duy trì sự cai trị của đảng cộng sản. Nhưng giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam làm điều này bất chấp thực tế là những người cộng sản Trung Quốc hiện đang có ý định mở rộng đế chế của họ ra ngoài phạm vi lục địa. Mối quan hệ lịch sử của Việt Nam với Trung Quốc, dù là dưới chế độ cộng sản hay Nho giáo, khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam tiếp tục phải dựa vào các mô hình của Trung Quốc để duy trì quyền lực ở Việt Nam, đồng thời chống lại sự bành trướng của đế chế Trung Quốc trên trường quốc tế. Việc cân bằng này đặc biệt khó khăn hiện nay khi những người phản đối chế độ cộng sản ở Việt Nam đang cố gắng làm mất uy tín của đảng bằng cách chỉ trích việc đảng theo mô hình Trung Quốc.
Các tài liệu tiêu chuẩn về Việt Nam, đặc biệt là những tài liệu được viết bởi các tác giả phản đối sự can thiệp của Mỹ từ những năm 1950, thường có xu hướng hạ thấp tầm quan trọng địa chính trị của đất nước này. Họ cho rằng Mỹ không có lý do gì để can thiệp vào Việt Nam ngay từ đầu. Điều đó có thể đúng, nhưng nó không làm giảm đi sự thật rằng người Mỹ không phải là những người đầu tiên can thiệp vào Việt Nam và coi trọng vị trí địa lý của nó. Do có đường bộ nối liền với Đông Nam Á và đường biển thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Việt Nam luôn thu hút sự chú ý của các cường quốc lớn hơn. Vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Việt Nam, với tư cách là tỉnh cực nam của đế chế Trung Quốc, đóng vai trò là cửa ngõ cho thương mại của Trung Quốc với các thị trường Ấn Độ Dương, trải dài đến Ấn Độ và Trung Đông. Như chúng ta đã thấy, người Việt giành được độc lập vào năm 939, nhưng lại mất độc lập một thời gian ngắn vào tay người Trung Quốc vào đầu thế kỷ 15, khi nhà Minh tái chiếm Việt Nam như một phần của sự bành trướng thuộc địa rộng lớn hơn, đưa các hạm đội Trung Quốc vượt qua Ấn Độ Dương đến tận châu Phi và Biển Đỏ. Người Mông Cổ cũng đã cố gắng đi qua Việt Nam để kiểm soát Quần đảo Gia vị ở Indonesia ngày nay. Người Việt đã đẩy lùi người Mông Cổ bằng đường bộ, trong khi người Nhật và người Java làm điều đó bằng đường biển. Người Việt giành lại độc lập, sau đó mở rộng đế chế của mình về phía nam để hưởng lợi từ thương mại trong khu vực Ấn Độ Dương.
Cảnh quan một ngôi làng trên sông ở Việt Nam, Jean-François Daumont, khoảng năm 1745-1775. Public Domain.
Sau khi hải quân Trung Quốc rút lui vào năm 1433, một loạt các cường quốc châu Âu mới nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng vào khu vực thông qua Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương: Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tiếp theo là Anh, Pháp và Hà Lan. Các cường quốc đế quốc phương Tây này đã áp dụng các chính sách ngày càng hung hăng hơn đối với châu Á trong thế kỷ 19, khi Pháp thuộc địa hóa Việt Nam và Anh thành lập Singapore, chiếm Miến Điện và Malaya. Trong khi đó, người Mỹ vượt qua Thái Bình Dương để chiếm Philippines từ tay Tây Ban Nha và người Nhật tập trung mục tiêu thuộc địa vào Triều Tiên và Đài Loan. Người Mỹ cũng là những kẻ thực dân, và họ là một phần của cuộc tấn công thuộc địa lớn hơn vào châu Á, diễn ra mạnh mẽ hơn trong thế kỷ 19.
Người Pháp nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của thuộc địa Việt Nam trong cuộc cạnh tranh đế quốc rộng lớn hơn ở châu Á. Ban đầu, họ hy vọng rằng sông Mekong sẽ cung cấp một tuyến đường thủy có thể đi lại được đến Trung Quốc cho mục đích thương mại. Đầu thế kỷ 20, họ hoàn thành việc xây dựng cảng nước sâu Cam Ranh, nằm ngoài khơi bờ biển phía đông nam Việt Nam. Các tàu chiến Nga được điều từ biển Baltic để ngăn chặn sự bành trướng thuộc địa của Nhật Bản vào Trung Quốc và Triều Tiên đã tập trung tại đó trước khi bị Nhật Bản đánh bại vào năm 1905. Sau cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản năm 1937, Tổng thống Franklin Roosevelt theo dõi sát sao các hoạt động của Nhật Bản dọc theo bờ biển Trung Quốc và áp đặt lệnh cấm vận chiến lược đối với thương mại với Nhật Bản, bao gồm dầu mỏ, sắt và thép, khi quân đội đế quốc Nhật Bản bắt đầu chiếm đóng Việt Nam vào năm 1940. Nỗi lo sợ của ông về một cuộc tấn công rộng lớn hơn của Nhật Bản vào Ấn Độ Dương thông qua Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở. Đầu năm 1942, sau khi tấn công Trân Châu Cảng và chiếm đóng toàn bộ Việt Nam, người Nhật tập trung các tàu chiến của họ tại vịnh Cam Ranh trước khi tấn công Đông Nam Á và tiến xa đến tận quần đảo Andaman và Nicobar. Được thành lập năm 1942, Hạm đội 7 của Mỹ đã giúp đẩy lùi đế chế Nhật Bản trong suốt phần còn lại của cuộc chiến và vẫn tiếp tục bảo vệ sự kiểm soát của Mỹ đối với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương sau chiến tranh cho đến ngày nay.
Sau cuộc cách mạng cộng sản Trung Quốc năm 1949, các tổng thống Mỹ thuộc cả hai đảng (Truman, Eisenhower, Kennedy và Johnson) đều tin rằng nếu Việt Nam rơi vào tay cộng sản, điều đó sẽ cho phép họ thống trị khu vực giống như người Nhật đã làm trước đó. Mặc dù không ưa thích chế độ thuộc địa của Pháp, từ năm 1950, khi Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, người Mỹ đã tăng cường hỗ trợ cho Pháp ở Việt Nam nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Hạm đội 7 lần đầu tiên đến thăm thuộc địa này vào năm 1950 để trấn an Pháp về sự ủng hộ của Mỹ. Khi Pháp rút quân sau trận Điện Biên Phủ và Việt Nam, giống như Triều Tiên, bị chia cắt thành miền Bắc cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo và miền Nam không cộng sản, người Mỹ chấp nhận chính sách này nhưng dần dần tăng cường hỗ trợ cho một nhà lãnh đạo chống cộng sản ở miền Nam, Ngô Đình Diệm. Chừng nào người này không làm suy yếu mục tiêu chiến lược rộng lớn hơn của Mỹ là kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở lục địa Á-Âu, mọi việc có thể tiếp tục như thời Pháp thuộc. Nhưng mọi việc đã không diễn ra như vậy, và khi các chính sách hà khắc của Diệm ở vùng nông thôn (cải cách ruộng đất thất bại, ấp chiến lược và đàn áp) dường như lại có lợi cho phe cộng sản, người Mỹ đã ủng hộ việc lật đổ ông ta vào năm 1963. Tuy nhiên, khi sự ổn định vẫn không đạt được, Tổng thống Johnson buộc phải rút quân hoặc can thiệp trực tiếp. Ông đã chọn phương án thứ hai, gửi quân bộ binh vào nước này năm 1965, trong khi hải quân Mỹ đóng phần lớn lực lượng tại vịnh Cam Ranh.
Trớ trêu thay, việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975 không làm giảm tầm quan trọng địa chính trị của nó đối với các "cường quốc" mới đang cạnh tranh ảnh hưởng trong thế giới cộng sản, Liên Xô và Trung Quốc. Sau khi đoạn tuyệt với Liên Xô vào cuối những năm 1960, Trung Quốc lo ngại rằng những người anh em cộng sản ở Hà Nội sẽ liên minh với Liên Xô và bao vây họ từ phía nam (quân đội Liên Xô xâm lược Afghanistan năm 1979). Trung Quốc đã ủng hộ Pol Pot và chế độ Khmer Đỏ diệt chủng ở Campuchia, những người lãnh đạo của họ cực kỳ chống đối Việt Nam và người dân Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam tìm đến Liên Xô, ký một hiệp ước an ninh năm 1978 bao gồm việc cho thuê vịnh Cam Ranh, trước khi lật đổ chế độ Khmer Đỏ vào cuối năm đó. Lãnh đạo Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình, sau đó đã đến Hoa Kỳ để tìm kiếm sự ủng hộ nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học." Đầu năm 1979, Trung Quốc đã đưa quân vào Việt Nam, đây là cuộc chiến tranh đầu tiên giữa các quốc gia cộng sản. Cả hai bên đều tuyên bố giành chiến thắng trong cuộc xung đột Trung-Việt sau đó, kết thúc bằng việc Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam vào ngày 6 tháng 3 năm 1979 sau khi tuyên bố nhiệm vụ trừng phạt đã hoàn thành.
Những người tị nạn chờ lên thuyền để di chuyển từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, tháng 9 năm 1954.Public Domain.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các quốc gia vệ tinh ở châu Âu vào năm 1991 đã thay đổi sâu sắc cục diện địa chính trị nhưng không làm giảm tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam. Sau khi Liên Xô tan rã, Trung Quốc, lần đầu tiên kể từ khi rút hạm đội của mình vào năm 1433, bắt đầu khẳng định lại ảnh hưởng của mình ở Ấn Độ Dương, chiếm đóng, tuyên bố chủ quyền và thậm chí xây dựng các đảo khi điều động tàu thuyền của mình trên khắp các vùng biển. Do cuộc chiến giữa các nước cộng sản châu Á vào cuối những năm 1970 đã chấm dứt mọi ý niệm về một khối cộng sản hoạt động hiệu quả, các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện đang đàm phán với người Mỹ, người Nhật, người châu Âu và bất kỳ ai có thể giúp họ đối phó với sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Quốc, mặc dù họ vẫn dựa vào mô hình cộng sản Trung Quốc để cải cách kinh tế và duy trì quyền lực.
Mỹ chia sẻ mong muốn của Việt Nam trong việc kiềm chế Trung Quốc. Đó là lý do tại sao, giống như các Tổng thống Clinton và Bush trước đó, Tổng thống Obama đã đến thăm Việt Nam vào năm 2016. Người Mỹ cần Việt Nam và người Việt Nam cần họ. Việt Nam nằm ở trung tâm của một khu vực mà sự kiểm soát của Mỹ đối với Ấn Độ Dương từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đang đối đầu với một quốc gia Trung Quốc ngày càng sẵn sàng thách thức sự độc quyền của Mỹ trên vùng biển châu Á. Các cuộc đàm phán đã bắt đầu với mục tiêu cho phép tàu thuyền Mỹ sử dụng các cơ sở hải quân tại vịnh Cam Ranh.

– Christopher Goscha | Được đăng trên tạp chí History Today, Tập 67, Số 2, tháng 2 năm 2017

[Christopher Goscha là Giáo sư Lịch sử tại Đại học Quebec ở Montreal. Ông là tác giả của cuốn Lịch sử Việt Nam hiện đại của Penguin (Penguin, 2016)]


Monday, January 19, 2026

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH VIỆN VÌ DÂN

Đây là Bệnh Viện Vì Dân do Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyên góp từ các nhà hảo tâm để xây dựng cho dân chúng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tại Thủ Đô Sàigòn trước năm 1975. Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành ngày 4 tháng 9 năm 1971 bởi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phu Nhân Nguyễn Thị Mai Anh. Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sàigòn hay kêu đó là bệnh viện Bà Thiệu. Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện cũng như sự giúp đỡ tận tình của nhiều người, bao gồm các Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia, và rất nhiều Tổ chức của các Quốc gia trên Thế giới.

Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sĩ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 tháng 8 năm 1970. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà Hảo tâm, các Tổ chức Từ thiện trong nước và ngoại quốc, các Tổ chức quốc tế, và các quốc gia bạn, nên việc xây cất và trang bị các phương tiện y khoa được tiến hành một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bệnh Viện Vì Dân có 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây...Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sĩ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất.

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH VIỆN VÌ DÂN
 
Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa (Giám đốc đầu tiên của BV Vì dân)

Bệnh Viện Vì Dân (BVVD) thành lập trên ba mươi năm nay bởi Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội (PNPSXH), Chủ Tịch Hội là Bà Nguyễn Văn Thiệu, với sự trợ giúp của nhiều cơ quan, đoàn thể thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc, các phái bộ quân sự đồng minh, và nhất là phủ Tổng Thống (TT). Một đồng nghiệp sống nhiều năm ở Pháp bảo chúng tôi viết về sự hình thành của bệnh viện này. Vì thời gian đã qua lâu, chúng tôi có thể bỏ sót một vài chi tiết hay bị lầm lẫn, độc giả nào nhận thấy xin cho chúng tôi biết để chúng tôi bổ túc hay đính chánh, chúng tôi xin đa tạ.
Khoảng đầu năm 1969, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống có mời tôi lên nói là Bà Nguyễn Văn Thiệu muốn thành lập một bệnh viện tư làm việc thiện với danh nghĩa Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội, ông bà Tổng Thống thấy tôi có kinh nghiệm trong việc thành lập Bệnh Viện Trưng Vương cho Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ năm 1967, nên muốn tôi tham gia vào việc này. Lúc đó tôi đã giải ngũ được hơn một năm, có ý định xin đi tu nghiệp để về gia nhập ban giảng huấn của YKĐH Saigon. Tôi phân vân vì nghĩ là việc này sẽ kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ số không, sẽ gặp nhiều khó khăn về đủ mọi phương diện và đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nếu làm đàng hoàng thì không còn thì giờ hành nghề tư, và xong việc có khi bị thay thế, đó là thường tình ở các nước chậm tiến!
Nhưng tôi cũng có một ý nghĩ khác là khi mới bước chân vào trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1951, đến tập sự tại Bệnh Viện Yersin (Phủ Gioãn) thấy dụng cụ giải phẫu, máy móc cũ kỹ, thiếu thốn do Pháp để lại từ trước Đệ Nhị Thế Chiến, tôi vẫn tâm niệm làm sao cho có được một bệnh viện trang bị đầy đủ để các thầy thuốc làm việc thoải mái, có cơ hội tiến về kỹ thuật, cứu được bệnh nhân đến mức tối đa. Thêm vào đó khi còn học PCB tại Khoa Học Đại Học Hà Nội tôi đã được nghe một lời phê phán nghiêm khắc của một Giáo Sư Pháp, GS P.L., về khả năng của người Việt như sau: “Người Việt Nam chẳng làm được việc gì nên hồn cả”, câu này đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ngoài ra BVVD sẽ giúp đỡ nhiều cho bệnh nhân nghèo, đó là ba động cơ thúc đẩy tôi hy sinh thì giờ để nhận việc này.
Một Ủy Ban xây cất được thành lập gồm có:
1) Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng phủ T T, Chủ Tịch
2) Ô. Nguyễn Đình Xướng, Tổng Thư Ký phủ T T, Ủy viên
3) BS. Phạm Ngọc Tỏa, Bộ Y Tế, Ủy viên
4) Kiến Trúc Sư Nguyễn văn Chuyên, phủ T T, Ủy viên
Ủy ban này thường họp vào buổi trưa hay sau giờ làm việc công sở, tổ chức các buổi hội họp với các bộ Y Tế, Công Chánh và các ban Giám Đốc các bệnh viện tư Saigon, Chợ Lớn (Triều Châu, Sùng Chính v.v…) để học hỏi các kinh nghiệm của họ vào buổi tối. Riêng phần tôi còn phải lo về lập quy chế của bệnh viện, lo trang bị dụng cụ máy móc y khoa, vật dụng văn phòng, tổ chức tiếp liệu, tuyển dụng nhân viên chuyên môn và hành chánh. Tất cả khởi sự từ số không, trong thâm tâm tôi nghĩ là không thể nào khánh thành đợt đầu kịp vào tháng chín 1971 được, thời hạn này do phủ TT ấn định!
• Đặt tên bệnh viện:
Ông Nguyễn Đình Xướng đề nghị nên đặt tên là Bệnh Viện Vì Dân. Phủ TT chấp thuận tên đó.
• Kiếm địa điểm để xây cất:
Sau mấy tháng tìm kiếm mới chọn được lô đất trống ở đường Lý Thái Tổ cũ Chợ Lớn, gần mấy nhà Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến ở, chủ đất là người Trung Hoa vui lòng cho xử dụng một nửa, còn một nửa họ tính xây khách sạn nếu giải tỏa được, và họ hứa sẽ yểm trợ bệnh viện. Lô đất đó hình như dành để xây cất một trường Đại Học Kinh Doanh và Thương mại thì phải, nhưng vì chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện được. Thủ tục chưa làm xong, anh em Thương Phế Binh chiếm đất xây nhà lên lô đất đó, đành phải tìm nơi khác. Cũng may sau tìm được ở góc đường Lê Văn Duyệt nối dài và đường Nguyễn Văn Thoại, gần Ngã Tư Bảy Hiềàn, thuộc Gia Định một khu đất bị trưng dụng từ lâu, hiện dùng làm Kho Đạn cho Sư Đoàn Dù, bom đạn được chứa trong những hầm bê tông tường dầy một thước, nóc cũng vậy. Lô đất thuộc quyền sở hữu của nhà Chung. Sau khi được sự chấp thuận giải tỏa của Bộ Quốc Phòng, phải điều đình với nhà Chung. Nhà Chung bằng lòng bán cho Hội PNPSXH khu đất đó khoảng gần 2 mẫu tây với giá tượng trưng một đồng bạc. Có đất rồi phải lo phá các hầm bê-tông bằng cách nổ mìn rồi san bằng. Công tác này làm gãy chân vợ một quân nhân. Người này được bồi thường thỏa đáng.
• Kiến trúc sư vẽ kiểu:
Hội PNPSXH mướn KTS Trần Đình Quyền, vừa tu nghiệp về xây cất bệnh viện ở Hoa Kỳ về, để vẽ kiểu. Tôi phải góp ý về một số chi tiết với KTS. Sau khi sơ đồ được bà Chủ Tịch Hội chấp thuận thì nhà thầu xây cất khởi công. Việc kiểm soát công trường xây cất là của KTS Nguyễn Văn Chuyên. Sau này Đại Tá Võ Văn Cầm có yêu cầu tôi lưu tâm cả về việc này nữa.
• Việc gây quỹ xây cất và điều hành:
Hội PNPSXH chỉ góp phần nhỏ thôi như thỉnh thoảng có tổ chức chợ phiên chẳng hạn, như chợ phiên Đồng Tâm v.v… Các buổi tiếp tân tại phủ TT để gây quỹ xây cất BVVD mới quyên được nhiều: như mời các nhà tài phiệt gốc Hoa (các ông Trần Thành, Lý Long Thân v.v…), mời các ngân hàng nhân dịp đầu năm. Riêng ngân hàng Việt Nam Thương Tín đang xây cất trụ sở mới còn cho thêm đá cẩm thạch nữa để trang trí bệnh viện. Ngoài ra mỗi vé xi-nê lấy thêm mấy đồng cho BVVD. Trường đua ngựa Phú Thọ thỉnh thoảng tổ chức một cuộc đua đặc biệt để ủng hộ BVVD. Đông Phương Ngân Hàng ứng trước từng đợt hai chục triệu để xây cất. Đồng bào cư ngụ ở Nouvelle Calédonie về thăm Miền Nam cũng ủng hộ một số tiền lớn (hình như là một triệu đồng thì phải) v.v… Tóm lại việc gây quỹ thành công là nhờ ở thế lực của phủ TT. Vì tiền có dư dả nên lúc đầu chỉ định xây 5 tầng lầu cho Khu Điều Trị, sau xây thành bảy tầng.
• Việc trang bị bệnh viện:
Tôi được ủy quyền đi gặp các cơ quan thiện nguyện, các phái bộ quân sự đồng minh để xin viện trợ y cụ và vật dụng. Đầu tiên tôi đến tiếp xúc với phái bộ quân sự Hoa kỳ, tôi được một vị Thiếu Tướng Quân Y tiếp đãi rất nhã nhặn, sau khi nghe tôi trình bày việc xin yểm trợ cho BVVD, ông ta trả lời vấn đề viện trợ ông không rành và kêu một vị Đại tá Hành Chánh Quân Y ra tiếp tôi. Vị này hỏi tôi là định thiết lập một bệnh viện mấy trăm giường, gồm những khoa nào, tôi trả lời chúng tôi có kế hoạch làm một bệnh viện toàn khoa 500 giường, ông bèn tham khảo cuốn sách về bảng cấp số các quân y viện, rồi đưa cho tôi xem nhu cầu trang bị một bệnh viện như vậy gồm có những thứ gì, trong cuốn sách có ghi đầy đủ hết không thiếu một thứ gì. Xong ông ta cho biết là rất tiếc hiện không có chỉ thị nào cho cơ quan của ông viện trợ một bệnh viện tư, nếu làm sai luật các thanh tra của Quốc Hội Mỹ sẽ khiển trách cơ quan ông. Mới ra quân lần đầu đã thất bại, tôi ra về lòng tràn ngập lo âu, thất vọng, vì đồng minh lớn nhất và giàu có nhất từ chối không giúp thì ít hi vọng nơi khác trợ giúp cho mình được gì! Tôi báo cáo cho ĐT Cầm biết và khuyến cáo TT nên biếu cho BVVD một trang bị có giá trị để cho các Mạnh Thường Quân khác noi gương, như châm ngôn “mình tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Vài bữa sau ĐT Cầm cho tôi biết là TT hỏi nên cho BVVD cái gì, tôi trả lời quý nhất là đồ trang bị cho Khu Quang Tuyến X, vì trang bị này đắt tiền ít người cho nếu có thì có khi là đồ cũ lỗi thời dễ hư hỏng khó bảo trì không xứng đáng với một bệnh viện tối tân. TT chấp thuận lời đề nghị này.
Với các phái bộ đồng minh khác và các cơ quan thiện nguyện thì cuộc vận động của tôi có kết quả như sau:
- Phái bộ quân sự Úc và Tân Tây Lan: trang bị cho hai phòng chữa răng và phòng thí nghiệm nha khoa với các dụng cụ đều mới và nhập cảng từ Tây Đức.
- Phái bộ quân sự Đại Hàn: bàn ghế mới cho khu Hành Chánh, một xe Hồng Thập Tự kiểu mới, và toàn bộ một nhà máy giặt cũ giao cho BVVD khi Sư đoàn của họ rút khỏi Việt Nam (nhà máy này giặt quần áo cho quân số một Sư Đoàn do ĐT Cầm điều dình xin được).
- Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan): một xe HTT mới
- Cơ quan UNICEF: trang bị cho khu Nhi Khoa khoảng 100 giường bệnh trẻ em, 20 lồng ấp (couveuses) cho trẻ sơ sinh thiếu tháng, dụng cụ cho Nhi khoa và Sản Phụ Khoa.
- Hội Việt Hoa Thân Hữu Hương Cảng: trang bị cho phòng cấp cứu tim mạch gồm 4 máy điện tâm ký (electrocardiographe) cho 4 giường bệnh, mỗi máy được nối với một máy điện tâm ký trung ương đặt trong phòng y tá trực ở phòng kế bên để theo dõi 4 bệnh nhân, khi có một bệnh nhân trở bệnh nặng thì y tá trực làm ngay điện tâm đồ ở máy trung ương và kêu Bác sĩ ngay.
- Hãng Schimadzu (sản xuất máy quang tuyến X) và ngân hàng Sumitomo: trang bị cho một phòng mổ đặc biệt có máy quang tuyến X giúp Bác sĩ nhìn rõ chỗ phải chẩn đoán qua màn truyền hình của máy quang tuyến X rồi mổ. Nếu muốn chụp phim ngay lúc đó để lưu trữ cũng được. Thật là tiện lợi và nhanh chóng cho các trường hợp giải phẫu chỉnh hình, hay mổ lấy đạn v.v…
- Hãng Roussel Vietnam: trang bị cho phòng thí nghiệm máy chụp quang phổ (spectrophotometre)v.v…
Tất cả các tặng phẩm nhận được chúng tôi đều gắn danh hiệu của quốc gia, cơ quan hay cá nhân đã tặng cho BVVD. Một số vật dụng như dụng cụ vật lý trị liệu thì BVVD bỏ tiền ra mua.
Riêng việc trang bị Khu Quang Tuyến X (do TT tặng) định đặt mua của hãng CGR Pháp rồi hãng Phillips Hòa Lan đều không được, họ trả lời không đủ thời gian để giao hàng trước tháng chín năm 1971 được, vì đơn đặt hàng của hãng họ quá nhiều rồị. Thế là đầu 1971, ĐT Cầm cử tôi đi Nhật với lời dặn phải làm sao mua cho bằng được đồ trang bị cho Khu Quang tuyến X và ráp xong trước tháng chín 1971, đúng là làm việc theo lối nhà binh (système D). Tôi tiếp xúc với hãng Schimadzu là hãng sản xuất lớn nhất máy móc quang tuyến X ở Nhật. Nhà máy tọa lạc ở Osaka, khởi thủy chỉ là một nhà nhỏ lợp mái tranh, thành lập một năm sau khi nhà bác học Đức Rontgen tìm ra được tia X hồi cuối thế kỷ thứ 19. Bây giờ nhà máy choán một diện tích lớn như một thành phố và sản xuất cả nhiều bộ phận điện tử cho hãng Boeing Mỹ, sản xuất máy quang tuyến chỉ chiếm một khu thôi. Sau khi xem nhà máy, họ dẫn tôi gập vị Giám đốc kỹ thuật để cho biết nhu cầu của BVVD, và sơ đồ của khu Quang Tuyến X. Đại cương khu này có 4 phòng vây quanh một trung tâm điều khiển máy móc, đó là nơi làm việc của Bác sĩ và chuyên viên, tường của trung tâm này làm bằng kính cản tia X để có thể nhìn sang các phòng khác, tường của các phòng này bằng bê-tông dầy 25cm, đủ cản tia X. Về máy móc thì dự trù như sau:
- Phòng số 1: một máy hoàn toàn tự động, có máy truyền hình, chuyên viên điều khiển máy ngồi tại phòng điều khiển và liên lạc với bệnh nhân qua một hệ thống âm thanh, trong phòng này có máy truyền hình liên hệ với máy quang tuyến X ở phòng số 1.
- Phòng số 2: trang bị một máy bán tự động, có máy truyền hình
- Phòng số 3: trang bị một máy chụp X-quang cắt lớp (tomographie)
- Phòng số 4: trang bị một máy chụp phổi phim nhỏ
Sau khi biết nhu cầu của BVVD, ông Giám Đốc Kỹ Thuật trả lời ngay là vì có nhiều đơn đặt hàng quá từ trước rồi, không thể giao hàng kịp thời hạn ấn định. Tôi đã thất vọng, nhưng vẫn bình tĩnh cố níu kéo ông ta, cho ông ta biết là BVVD là một bệnh viện làm việc thiện, tối tân nhất Đông Nam Á, khi khánh thành sẽ có mặt toàn thể ngoại giao đoàn, nếu ông cố gắng giúp chúng tôi, đó là một dịp chúng tôi quảng cáo không công cho hãng của ông, nhất là máy phòng số 1 là kiểu mới nhất của loại này như ông nói, chúng tôi lại là người đầu tiên đặt mua. Sau một lúc suy nghĩ ông ta trả lời sẽ ráng thu xếp công việc, để ưu tiên cung cấp cho BVVD kịp ngày khánh thành. Giá cả là 220.000 đô la, phải đặt trước 20.000 đô la sau một tháng, hai tháng sau sẽ nhận được hàng, kỹ sư sẽ tới ráp ngay khi hàng tới. Thế là tôi yên tâm về Saigon.
Hãng Schimadzu gửi ngay một kỹ sư đến BVVD xem vị trí xây cất của khu Quang Tuyến X, lúc đó khu này đã xây cất xong ở tầng 1 Khu Ngoại Chẩn. Mọi chi tiết đều được cả, trừ một điểm là các máy sẽ được đặt lên một tấm thép dầy mấy phân để cản tia X không đi xuống tầng trệt, nên phải phá một khúc tường của tầng 1 để câu các tấm thép này lên.
Khi các máy móc về đủ, hãng Schimadzu cử 3 kỹ sư tới làm việc: một chuyên về máy phát tia X, một chuyên về điện và một chuyên về máy truyền hình. Họ bắt tay ngay vào việc ráp máy. Tôi gửi họ 3 chuyên viên về quang tuyến X để phụ tá cho họ và nhờ họ huấn luyện luôn trong lúc làm việc để những người này biết điều khiển các máy sau khi ráp xong. Ngày 3/9/71 họ hoàn tất công việc sau hai tháng trời làm việc cực nhọc. Ngày hôm sau là ngày khánh thành BVVD đợt đầu (khu Ngoại Chẩn).
Sau này hãng Schimadzu cho tôi biết tính ra còn dư 20.000 đô la, xin tôi quyết định, tôi đề nghị cung cấp cho một máy rửa phim tự động, còn dư tiền thì dùng hết vào việc mua phim và các hóa chất xử dụng cho việc rửa phim.
• Quy chế và tuyển dụng nhân viên:
BVVD là một bệnh viện tư thuộc Hội PNPSXH dành 25% sô’ giường cho bệnh nhân nghèo (gia đình tiểu công chức, gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ, gia đình nghèo có giấy chứng nhận của khu phố) được giảm phí hay miễn phí tùy trường hợp do sự cứu xét và quyết định của Ban Xã Hội hàng ngày tới BVVD làm việc. Bệnh nhân nghèo được săn sóc, ăn uống như bệnh nhân hạng trả tiền, chỉ có khác là hưởng thuốc miễn phí do Bộ Y Tế hay các tổ chức thiện nguyện cho và nằm phòng 4 giường.
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HDQT) là Chủ Tịch Hội PNPSXH tức là bà Nguyễn Văn Thiệu, các thành viên của HDQT đều là hội viên của Hội .
Giám Đốc bệnh viện có hai Phụ tá: một Phụ tá Kỹ Thuật (Bác sĩ Lê Phước Thiện) và một Phụ tá Hành Chánh (Trung tá Hành chánh Quân Y Phạm văn Sinh).
Các nhân viên chuyên môn như Bác sĩ, Dược sĩ, Nha sĩ, Nữ Hộ Sinh, Chuyên Viên Gây Mê, Chuyên viên Quang Tuyến X, Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Y tá và Tá Viên Điều Dưỡng trong giai đoạn đầu xin Bộ Y Tế và Cục Quân Y biệt phái. Ngoài lương bổng do cơ quan gốc đài thọ, họ được hưởng thêm một phụ cấp do Hội PNPSXH đài thọ. Các Giáo Sư, Giảng Sư Đại Học Y khoa có thể gửi bệnh nhân của mình tới nằm BVVD để điều trị dưới sự săn sóc của họ.
Trong thời kỳ đang xây cất, BVVD có nhờ Bộ Y Tế huấn luyện cho một khóa Tá Viên Điều Dưỡng, chương trình một năm, học viên là những cô nhi quả phụ quân nhân có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, do BVVD tuyển dụng. Trong tương lai BVVD sẽ thành lập một trường Cán Sự Điều Dưỡng, chương trình học ba năm và tuyển dụng các cô nhi, quả phụ quân nhân có bằng tú tài cho đi học để làm nhân viên cốt cán cho bệnh viện. Tầng thứ bảy của Khu Điều Trị sẽ xây cất nhiều phòng để làm lớp học, và một thính đường lớn 500 chỗ dùng làm nơi hội nghị. Trên nóc Khu này có bãi đáp trực thăng để nhận bệnh nhân cần cấp cứu từ các nơi khác đưa tới, có thang máy đưa ngay xuống phòng mổ hay khu cấp cứu ở các tầng dưới.
Chúng tôi phải tuyển dụng khoảng 400 nhân viên đủ các loại: chuyên môn, hành chánh, y công, thợ thuyền v.v… (nếu bệnh viện hoạt động với 400 giường thì trung bình mỗi giường bệnh có một nhân viên). Sau khi họ đã được xét là đủ tiêu chuẩn thì được nhận việc tạm thời, đợi kết quả điều tra của An Ninh Quân Đội , nếu không có hoạt động cho Việt Cộng thì được tuyển dụng chính thức.
• Tiếp liệu:
Vì các nguồn cung cấp vật dụng, y cụ, thuốc men rất phức tạp, đa nguyên, nên chúng tôi áp dụng kế toán sổ sách, phiếu xuất nhập theo kiểu Hoa Kỳ như ở các đơn vị Quân Y QLVNCH, để dễ kiểm soát bất thần, bất cứ lúc nào cũng có thể biết rõ số lượng tồn kho, biết rõ các nơi đã được phân phối của mỗi món hàng. Theo hệ thống tiếp liệu này ngay từ đầu, việc quản trị vật dụng không có khó khăn gì cả.
Riêng về dược phòng phải làm 2 phòng riêng biệt:
1/ Phòng thuốc miễn phí: quản trị các thuốc men do Bộ Y Tế, các cơ quan thiện nguyện cung cấp để phát miễn phí cho các bệnh nhân nghèo.
2/ Phòng thuốc trả tiền: cho các bệnh nhân nằm hạng trả tiền , thuốc do các Bác Sĩ Điều Trị kê toa và các Hãng Bào Chế OPV, Trang Hai và Tenamyd cung cấp, nếu các hãng này không đủ món nào thì BVVD có thể mua ở ngoài theo giá thị trường. Đây là quyết định của HĐQT. Đầu tiên chúng tôi có đề nghị cho đấu thầu phòng thuốc thứ hai này, nhưng không được HĐQT chấp thuận.
• Khánh thành BVVD:
Ngày 4/9/1971 TT đến cắt băng khánh thành khu Ngoại Chẩn BVVD do Hội PNPSXH mời. Quan khách có Ngoại Giao Đoàn, các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các Tổng Bộ Trưởng, các vị Đại Diện Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm, các thân hào nhân sĩ v.v… Đại Sứ Mỹ Bunker cũng tới dự.
Bà Chủ Tịch đọc diễn văn trình bày mục tiêu của BVVD, diễn tiến việc thành lập xây cất bệnh viện và cảm ơn các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc đã giúp nhiều trong việc trang bị và xây cất BVVD, những tặng phẩm như xe cộ vật dụng máy móc gì đều kể ra hết, lẽ dĩ nhiên là không nói tới Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ vì không có tặng phẩm nào cả.
Khu Ngoại Chẩn có hai tầng, hình chữ L, một phần chạy song song với đường Lê Văn Duyệt nối dài, phần kia song song với đường Nguyễn văn Thoại, Gia Định. Ngoài một số phòng dùng để khám bệnh: Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa, Bệnh Tiêu Hóa, Bệnh Phổi v. v., phòng phát thuốc, phòng băng bó, ở tầng trệt còn phòng Vật Lý Trị Liệu, tiếp giáp vơi Khu Cấp Cứu. Trên tầng 1 là khu Nha Khoa với hai phòng khám và chữa răng, và phòng làm răng giả, kế bên là Phòng Thí nghiệm của Bệnh Viện, tiếp theo là khu Quang Tuyến X, rồi tới tám phòng mổ và phòng Hồi Sinh.
Sau bài diễn văn của Bà Chủ Tịch, quan khách được hướng dẫn đi thăm bệnh viện. Hôm đó quan khách đều chú ý tới khu Quang Tuyến X, các máy móc đều do Kỹ sư Nhật trình bày và cho chạy thử. Buổi tiếp tân kéo dài đến quá trưa mới chấm dứt.
• Sau khi khánh thành:
Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi đang ngồi nghỉ ở trong văn phòng thì có hai người Mỹ của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ USAID xin gặp tôi. Một người là quan chức hành chánh và một người là Thiếu Tướng Quân Y Hải Quân hồi hưu tên là Iron. Hai người cho biết là nếu BVVD cần gì sẽ viện trợ cho. Tôi bèn hỏi họ sao trước chúng tôi xin viện trợ thì không được giúp. Họ trả lời bây giờ tình thế đã thay đổi: Hiện nay Việt Nam Hóa chiến tranh, Quân Đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nên có thể giúp cho BVVD các dụng cụ của Quân Y Hoa Kỳ.
Chúng tôi xin được vài chiếc xe vận tải để chuyên chở vật dụng cho bệnh viện, mấy trăm giường bệnh đủ trang bị cho mấy tầng lầu đang xây cất, các máy móc dụng cụ trang bị đầy đủ cho một phòng thí nghiệm và nhất là ba máy phát điện 250 KW để làm một nhà máy điện nhỏ đủ cung cấp điện cho những nơi quan trọng như các khu Cấp Cứu, Giải Phẫu, Hồi Sinh, Quang Tuyến X và Thí Nghiệm khi điện thành phố bị cắt.
Chúng tôi cho thực hiện ngay một phòng bảo trì để sơn phết lại các giường bệnh và vật dụng nhận được, sơn luôn cả phù hiệu hai bàn tay nắm chặt cùng với quốc kỳ Mỹ-Việt như trên các hàng viện trợ Mỹ cho dân chúng. Sau mỗi lần nhận hàng và tân trang lại thì sắp đặt vào các nơi sẽ xử dụng, chúng tôi mời B.S. Iron lại xem để ông biết là hàng không bị thất thoát.
Sau này B.S. Iron tín nhiệm BVVD, cho luôn cả những vật dụng dành cho bệnh viện thực tập tương lai của Y Khoa Đại Học, vì chờ mãi không có ngân khoản để xây cất bệnh viện này! Ngoài ra BVVD có xuất tiền ra mua một số giường có máy điện tự động thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân để trang bị cho một số phòng một giường. Bệnh viện chỉ có ba loại phòng: hạng một giường, hạng hai giường và hạng bốn giường.
• Nhận bệnh nằm điều trị:
Khi đã có tạm đủ đồ trang bị và xây cất gần xong, chúng tôi bắt đầu nhận bệnh nhân nằm điều trị. Trước đó chúng tôi xin Cục Quân Y biệt phái cho một số bác sĩ chuyên môn làm nòng cốt. Các vị này thường quá 15 năm quân vụ, nhưng vì chiến tranh triền miên họ chưa được giải ngũ. Danh sách dưới đây có thể thiếu sót vì đã trên ba mươi năm rồi, xin lỗi đồng nghiệp nào mà chúng tôi quên không ghi tên:
Y Sĩ Đại Tá Lưu Thế Tế, chuyên khoa tim mạch Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Quang Huấn, giải phẫu ung thư, thường trú ở ngay trong BVVD Y Sĩ Trung Tá Lê Thế Linh, giải phẫu chỉnh hình Y Sĩ Trung Tá Trịnh Cao Hải, giải phẫu chỉnh hình Y Sĩ Trung Tá Phạm Hữu Phước, giải phẫu thần kinh Y Sĩ Trung Tá Trần văn Khoan, giải phẫu tổng quát Y Sĩ Trung Tá Hồ Hữu Hưng, nhãn khoa Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Thế Huy, Tai Mũi Họng Y Sĩ Trung Tá Vũ Ban, Quang Tuyến X.
Các vị trên đây có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và từng đã đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, ngoài ra một số bác sĩ vẫn làm việc trong ngành Quân Y nhưng giúp BVVD ngoài giờ làm việc như các B.S. Cao Xuân An (bệnh lý học), B.S. Đặng Như Tây (Vi Trùng Học), B.S. Bạch Toàn Vinh (Vi Trùng Học), Ngô Tôn Liên (Gây Mê, Hồi Sức).
Bộ Y Tế biệt phái cho BVVD:
B.S. Phạm Ngọc Tỏa, Giám Đốc, Sản Phu. Khoa, năm 1972 có đi tu nghiệp tại Singapore về giải phẫu triệt sản qua âm đạo (sterilisation par voie culdoscopique) do Ford Foundation tổ chức, mang về cho BVVD một bộ đồ giải phẫu theo thủ thuật này, do Ford Foundation tặng.
Nha Sĩ: Bà Nguyễn đình Hiệu, Cô Võ thi Văn (?)
Các đồng nghiệp trong Ban Giảng Huấn của Y Khoa Đại Học Saigon cộng tác với BVVD có:
G.S. Trần Kiêm Thục, Bệnh Tiêu Hóa G.S. Trần Hữu Chí, Bệnh Phổi G.S. Bùi Thị Nga, Nhi Khoa G.S. Nguyễn Bích Tuyết, Sản Phụ Khoa G.S. Vũ Thiện Phương, Sản Phụ Khoa G.S. Trương Minh Ký, Tai Mũi Họng.
BVVD có tuyển dụng:
B.S. Nguyễn Xuân Xương, Nội Khoa và tim mạch Bà Nguyễn Gia Kiểng, B.S chuyên về Huyết học mới ở Pháp về Dược sĩ Nguyễn Thị Dung, coi Dược Phòng Dược sĩ Tôn Nữ Duy Thạnh, Phòng Thí Nghiệm (Hóa Học).
Ngoài ra còn một số quân y sĩ chuyên làm việc trực ngoài giờ làm việc của công sở.
Tóm lại có gần ba chục Y Nha Dược sĩ tham gia vào việc điều hành chuyên môn trong giai đoạn đầu.
Các y công được huấn luyện xử dụng máy móc lau chùi nhà cửa luôn luôn sạch sẽ chẳng kém gì các bệnh viện ngoại quốc. Hồi đó Việt Cộng thường kiểm soát các khu rừng ở miền Nam, sách nhiễu các người khai thác nên gỗ rất đắt, do đó tất cả các cửa đều làm bằng alumimium nhập cảng từ bên Nhật, vừa đẹp, vừa bền lại dễ bảo trì.
Vấn đề thực phẩm cho bệnh nhân lúc đầu do chủ nhân nhà hàng Đồng Khánh ở Chợ Lớn và Lê Lai ở Saigon cung cấp. Tôi thấy thức ăn phẩm lượng rất kém, lại không hợp vệ sinh, nên đề nghị HĐQT tìm nhà cung cấp khác vì thực phẩm bổ túc cho việc điều trị và cần cho việc phục hồi sức khỏe của bệnh nhân. HĐQT đồng ý, bèn cử hội viên ra đảm nhiệm việc nấu ăn cho bệnh nhân, nên sau này thức ăn rất tinh khiết ngon lành.
Trong giai doạn đầu khi các giường bệnh hạng trả tiền chưa choán hết, lại cho miễn phí, giảm phí rất nhiều, để giữ cho bệnh viện ở mức độ cao việc bảo trì rất tốn kém, đó là nguyên nhân lỗ vốn của giai đoạn này.
Một vài thân chủ đặc biệt là: vợ một Tham vụ Ngoại giao Mỹ nhờ một Bác Sĩ Quân Y Mỹ đỡ đẻ tại BVVD, trả giá đặc biệt; con Bà Chủ tịch HĐQT mổ cesarienne ở BVVD, khi ra về Bà Chủ Tịch tặng cho Quỹ Xã Hội một số tiền rất lớn; hãng Air America nhờ BVVD săn sóc sức khỏe cho nhân viên của hãng.
• Vài sự kiện đáng ghi nhớ:
1/ Trường Y Khoa Đại Học Minh Đức muốn xin HĐQT cho sinh viên đến tập sự HĐQT hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi trình bày muốn thu hút nhiều bệnh nhân hạng trả tiền để quân bình ngân sách nên tránh thâu nhận sinh viên y đến tập sự. Sau này nên mở các lớp chuyên khoa cho các Bác sĩ đã ra trường, muốn theo chương trình thường trú (resident) dự trù sẽ được tổ chức tại BVVD với sự cộng tác của các trường Đại Học Âu Mỹ. BVVD đã dự trù xây cất các phòng ở cho các B.S. thường trú tương lai. Như vậy họ vừa được huấn luyện tại chỗ các chuyên khoa, sau rồi ở lại làm việc tại VN, đỡ thất thoát chất xám. Ngược lại các trường Y khoa Đại Học ngoại quốc có dịp cử Giáo Sư đến VN dạy học, có thể nghiên cứu thêm bệnh lý đặc biệt của người Việt. Đề nghị này đươc chấp thuận.
2/ Có một phái đoàn Bác Sĩ Mỹ sang VN để giải phẫu tim (hình như là thuộc trường Đại Học Loma Linda thì phải) cho bệnh nhân VN. Xong việc họ mới biết Saigon có BVVD, họ đến thăm và không ngờ có một cơ sở tốt như vậy. Họ hứa lần sau sẽ đến mổ tại BVVD, rồi để lại cho bệnh viện các dụng cụ giải phẫu tim.
3/ Trong đầu thập niên 70 Pháp tái lập bang giao với VN, muốn tân trang lại BV Grall, cử một phái đoàn của bộ Y Tế Pha’p trong đó có một Giáo Sư Đại Học Y Khoa, một ky õsư Bách Khoa. Ông Giám Đốc BV Grall điện thoại cho tôi xin phép cho phái đoàn đến thăm BVVD. Tôi dẫn họ xem các phòng ốc, đồ trang bị và trình bày diễn tiến của việc thành lập BVVD. Khi ra về họ nói không ngờ trong nước còn đang có chiến tranh mà đã làm được một cơ sở quá tốt như thế này.
4/ Khoảng năm 1973 bà Chủ Tịch HDQT có hỏi tôi: BVVD nên có một cái gì khác các bệnh viện khác. Tôi trả lời quý bà là Hội PNPSXH thì nên giúp cho phụ nữ VN, mà phụ nữ thì hay bị ung thư, hiện nay Viện Ung Thư Quốc Gia được Cơ Quan Y Tế Quốc Tế (OMS) viện trợ cho một bom Cobalt để trị liệu, nhưng không có ngân khoản để xây cất chỗ chứa và cơ sở tiếp bệnh nhân. Nếu bây giờ mình có khả năng xây cất nhanh chóng thì nên mở thêm khu điều trị ung thư. Đúng vào thời điểm đó một Bác Sĩ kiêm Kiến Trúc Sư chuyên về xây cất bệnh viện, làm việc cho OMS, lại thăm BVVD thấy còn nhiều đất trống, ông ta hỏi sao không xử dụng bỏ phí quá. Tôi có kể lại với ông là đang dự trù làm cơ sở dùng bom Cobalt trị liệu ung thư. Ông ta sốt sắng xung phong vẽ kiểu cho và hứa sẽ tìm người viện trợ trái bom này. Ít lâu sau tôi rời khỏi BVVD, nghe đâu ông ta đã vận động xin Hoàng Gia Đan Mạch viện trợ cho thì phải.
Khoảng tháng mười 1974 ĐT Cầm nói với tôi Ủy Ban Xây Cất chấm dứt nhiệm vụ vì việc xây cất đã xong. Tôi nghĩ mình làm việc gần năm năm rồi từ trước khi kiếm được địa điểm xây cất, nay đã hoàn thành việc tổ chức, trang bị và điều hành giai đoạn đầu, mỗi ngày làm việc trung bình 9, 10 giờ, nên tôi đệ đơn xin trở về Bộ Y Tế. Tôi phải chờ hơn hai tháng, đến 31/12/1974 HĐQT mới tìm được người thay thế: đó là Giáo Sư Đặng Văn Chiếu, cựu Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Saigon. Có sự thay đổi trong Sơ Đồ Tổ Chức BVVD: Dược Sĩ Nguyễn Thị Hai được Hội PNPSXH cử ra làm Giám Đốc BVVD, G.S. Đặng Văn Chiếu làm Giám Đốc Kỹ Thuật và Dược Sĩ Nguyễn Tiến Đức, có bằng Cao Học Y Tế Công Cộng Mỹ (MPH), làm Giám Đốc Hành Chánh.
Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu trao quyền cho Phó TT Trần văn Hương. Ngày 22/4/1975 bà Nguyễn Văn Thiệu trao Bệnh Viện Vì Dân cho Bộ Y Tế. Ngày 30/4/1975 cộng sản cưỡng chiếm Sàigòn, Bệnh Viện Vì Dân được chúng đổi tên là Bệnh Viện Thống Nhất (BVTN). Như vậy danh hiệu Bệnh Viện Vì Dân sống được 3 năm 7 tháng 26 ngày tính từ ngày khánh thành đến 30/4/1975, trong thời gian đó tôi phục vụ được 3 năm 3 tháng.
• Vài hàng về BVTN:
Khi tiếp thu, theo lời các nhân viên cấp nhỏ còn được ở lại làm việc, thì CS vào ở bừa bãi trong bệnh viện, thấy phòng Thí Nghiệm luôn luôn cho chạy máy lạnh, họ chỉ trích tư bản phung phí tiền của nhân dân, họ đâu có biết trong đó có nhiều máy móc điện tử lúc nào cũng phải cần máy lạnh. Họ lạm dụng thang máy, những thang máy để chuyên chở một giường bệnh lớn hay hơn 10 người, họ xử dụng bừa bãi. Cuối tháng tiền điện tăng lên quá cao, họ la lối có địch phá hoại, phải điều tra! Thật là “Ngọc để Ngâu vầy”, không biết vật dụng có mất mát gì không hoặc có bảo trì đúng mức không! Có một đồng nghiệp nghe người nhà cũng ở trong ngành y ở lại làm việc ở miền Bắc kể lại trong thời chiến miền Bắc có được một nước bạn Đông Âu viện trợ cho toàn bộ đồ trang bị một bệnh viện nhỏ, sau vài tháng đến thăm vật dụng bị mất cắp gần hết!
Sau 30/04/1975 trong vài tháng đầu, để mị dân BVTN nhận tất cả mọi người vào nằm điều trị. Được vài tháng, họ tuyên bố BVTN chỉ thâu nhận đảng viên và cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp thì được nằm ở BV Trưng Vương, còn nhân dân thì nằm BV Bình Dân. Thật là phân chia giai cấp rõ ràng, đến nỗi một cán bộ nhỏ không được nằm BVTN phải than rằng: “Thời Thiệu Kỳ ai muốn nằm BVVD cũng được, bây giờ BVTN chỉ dành cho mấy ông lớn!”. Thê’ mới biết: BVVD thì lo điều trị cho Dân, còn BVTN chỉ lo phục vụ cho Đảng!”.
Sau mấy tuần họ tưởng là đã học hết công việc điều hành của bệnh viện rồi, nên họ chỉ giữ lại các y công, còn thuyên chuyển đi nơi khác tất cả các nhân viên trung cấp như một số y tá phải đổi lên nhà thương điên Biên Hòa, trong số đó có một nữ chuyên viên Gây Mê Hồi Sức rất giỏi! Vì họ chú trọng “Hồng hơn chuyên”, nên chính những cán bộ cao cấp nằm điều trị tại BVTN, tuy nằm ở đó, mà không tin tưởng vào B.S. của họ, nên vẫn tìm B.S. “ngụy” để chữa trị!
Kết luận:
Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chiến cuộc gia tăng mạnh mẽ, BVVD ra đời nhờ sự cố gắng của trong nước và sự yểm trợ của các nước đồng minh, các cơ quan thiện nguyện và các vị hảo tâm trong và ngoài nước để bù đắp một phần nào sự thiếu thốn một hệ thống An Sinh Xã Hội (Securité Sociale). Ở thời điểm đó BVVD tương đối đầy đủ nhưng chưa thể so sánh được với các bệnh viện tối tân hiện đại của các nước Âu Mỹ ngày nay. Riêng phần tôi vì muốn làm việc xã hội mà không làm chính trị và muốn thực hiện những gì mình ấp ủ từ lâu nên đã nắm lấy cơ hội để thử sức mình. Kết quả: mang tiếng chạy theo chế độ và mất hết thân chủ phòng mạch tư, nên bị bà xã trách móc cho đến tận bây giờ!!!
Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa
***
Ông Nguyễn Kỳ Phong, một chuyên gia về lịch sử quân sự Việt Nam Cộng Hòa, hiện sống ở Hoa Kỳ, cho biết Phu Nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong tư cách Chủ tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội đương thời, từ năm 1969 đã vận động một số viên chức y tế, thương gia, và các quốc gia đồng minh giúp đỡ chương trình xây dựng một "nhà thương" cho dân nghèo.
Về các ý kiến mới nhất gắn vai trò của Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Thị Mai Anh với công trình y tế công cộng này, Ông Nguyễn Kỳ Phong nói: "Bà Thiệu mất đi, được nhiều người nhắc đến không phải như một Đệ Nhất Phu Nhân, mà như là một người đă có công xây dựng một bệnh viện miễn phí lớn bậc nhất của nước Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ - Bệnh Viện Vì Dân."

Nguồn: http://katefam.blogspot.com/2013/11/su-hinh-thanh-benh-vien-vi-dan.html

Friday, January 9, 2026

THẰNG NGỐC TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

“Thằng Ngốc” — và đó chính xác là điều anh ấy muốn.
Khi thủy thủ Hải quân Mỹ Douglas Hegdahl bị bắt trong chiến tranh Việt Nam và tống vào nhà tù khét tiếng “Hanoi Hilton” (Hỏa Lò), anh đưa ra một quyết định cứu được hàng trăm mạng người: giả vờ… ngốc.
Hegdahl nhập vai hoàn hảo: vụng về, nhẹ dạ, lơ ngơ như “mất căn”. Cai ngục cười khẩy, nghĩ anh vô hại, rồi nới lỏng canh gác vì tin rằng một kẻ “đầu óc có hạn” thì chẳng thể làm nên trò trống gì. Sai lầm to.
Trong lúc giả vờ vấp ngã, loạng choạng, Hegdahl lén đổ đất vào bình xăng xe tải của đối phương, làm hỏng phương tiện mà họ không hề hay biết.
Nhưng hành động anh hùng nhất của anh còn “tàng hình” hơn thế:
anh ghi nhớ thông tin của từng bạn tù — tên, ngày bị bắt, tình trạng giam giữ — những dữ liệu mà phía Bắc Việt Nam giữ kín.
256 cái tên.
256 gương mặt.
256 gia đình cần biết người thân vẫn còn sống.
Anh làm cách nào để nhớ hết?
Hegdahl “đóng gói” từng tên, từng chi tiết vào giai điệu “Old MacDonald Had a Farm”, lẩm nhẩm mỗi ngày cho đến thuộc lòng.
Năm 1969, phía Bắc Việt Nam quyết định thả Hegdahl, tưởng rằng đó sẽ là một cú đánh tuyên truyền: phóng thích “thằng ngốc người Mỹ”.
Nhưng thực ra, họ vừa thả một “ổ cứng sống” giá trị bậc nhất của cuộc chiến.
Vừa đặt chân về Mỹ, Hegdahl đọc vanh vách mọi cái tên, mọi chi tiết — 256 tù binh được xác nhận, không ai bị lãng quên.
Đôi khi, sức mạnh lớn nhất không nằm ở cơ bắp,
mà nằm ở can đảm để cho người khác coi thường mình — rồi âm thầm làm điều đúng đắn. 💡
sT

Tuesday, November 11, 2025

 Việt Nam 1963. Đồng 50 Xu  cuối cùng của Đệ nhất Cộng hòa Một bộ phim tài liệu ngắn về câu chuyện đồng xu cuối cùng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, vị trí của nó trong lịch sử và di sản của nó ngày nay tại Hoa Kỳ.

 

Thursday, October 30, 2025

CHÍNH BIẾN 1-11-1963 & TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

 

Tiểu Sử Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

 

Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 03 tháng 01 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, con của Cụ Nhiếp Chánh Đại Thần Ngô Đình Khả và cụ bà Phạm Thị Thân.  Tổng Thống là người con thứ Ba trong gia đình có 6 trai và 3 gái.

 

Sáu trai là:

     NGÔ ĐÌNH KHÔI

     NGÔ ĐÌNH THỤC

     NGÔ ĐÌNH DIỆM

     NGÔ ĐÌNH NHU

     NGÔ ĐÌNH CẨN

     NGÔ ĐÌNH LUYỆN

 

Ba gái là:

     NGÔ ĐÌNH THỊ GIAO

     NGÔ ĐÌNH THỊ HIỆP

     NGÔ ĐÌNH THỊ HOÀNG

 

Cụ cố Ngô Đình Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó, tại Việt nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và Tây, như cụ cố Ngô Đình Khả.  Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau đó vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang Đại chủng viện Penang để học Triết học và Thần học bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh.  Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng vì không có ơn gọi để trở thành linh mục, Cụ đã xin trở về cuộc sống thế tục.  

 

            Cụ Cố Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.  Thành tích đáng kể nhất của cụ cố Ngô Đình Khả là nổ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính Cụ là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân Pháp đã phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong.  Sau đó Cụ đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.

 

            Gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm rất trọng lễ giáo. Hằng năm vào dịp Tết Nguyên Đán, mọi người trong gia đình tụ họp đông đủ ở Phủ Cam - Huế.  Việc chúc thọ và chăm sóc cụ bà Ngô Đình Khả, được giao cho người con trai áp út Ngô Đình Cẩn, săn sóc chu đáo ngày đêm.

 

                 Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái. Trưởng nam là  Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi, chết năm 1945 vì bị Việt Minh bắt giữ và xử tử.  Cùng bị bắt giữ trong đợt này còn có ông Phạm Quỳnh, và con trai ông Ngô Đình Khôi là Ngô Đình Huân, cựu Thanh tra Lao động trong chính phủ bảo hộ của Pháp.  Sau khi bị xử tử, xác của ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh được chôn chung trong một hố.

 

            Sau ngày ông Ngô Đình Khôi qua đời, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, trở nên người anh cả "quyền huynh thế phụ". Đức cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Ngô Đình Diệm. Ông Quách Tòng Đức cho biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám mục Ngô Đình Thục cứ vài tuần thì về Sài gòn cư ngụ trong Dinh. Còn ông Ngô Đình Luyện là con út trong gia đình, nhận làm đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười hoạ mới về nước nghỉ phép, hay để dự các phiên họp của Hội Đồng Tối Cao Tiền Tệ, mà ông là một thành viên.

 

Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thừa Tùng, bà Ngô Đình Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, và bà Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu của Nghị sĩ Trần Trung Dung.

 

Cứ theo phần lớn tài liệu viết về TT Ngô Đình Diệm, sau ngày lên nắm chính quyền ở Nam Việt Nam, thì ông sinh vào ngày mồng 3 tháng 1 năm 1901 tại Phước Quả, Thừa Thiên (sát Thành Phố Huế).

 

            Nhưng theo kết quả sưu khảo của Nguyên Vũ tại các thư viện của Pháp, thì có một tài liệu của Nha Giám Đốc Các Sở An Ninh Pháp Tại Đông-Dương (Direction des Services Français de Sécurité en Indochine) tóm-tắt tiểu-sử của ông Ngô Đình Diệm, thực-hiện vào tháng 7 năm 1954, ghi rõ là ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 27 tháng 7 năm 1897 tại Đại Phương, Quảng Bình.

 

          Lúc thiếu thời, ông Diệm đuợc theo học dưới sự dạy dỗ rèn cặp của một vị cha tinh thần, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và lòng yêu nước. Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, quan Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích, ngưỡng mộ nên đã có câu truyền khẩu:

 

“Đày vua không Khả.  Đào mả không Bài”.

 

Ngoài sự hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo.  Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực, thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo, đã đào tạo ông Diệm thành một con người đầy lòng bác ái, vị tha và công chính.

 

Về đường học vấn, lúc nhỏ ông theo học tại trường Pellerin Huế. 

 

Năm 1913, lúc 12 tuổi, ông thi vào trường Quốc Học Huế, dạy theo chương trình tổng hợp bằng Việt Ngữ và Pháp Ngữ.

 

Đến năm 1917, lúc 16 tuổi, ông đỗ hạng thứ nhì trong kỳ thi tốt nghiệp Trung Học. Vì số tuổi quá trẻ mà lại đạt thành tích xuất sắc, nên chính quyền thực dân Pháp đề nghị cấp học bổng cho sang Pháp du học, nhưng ông đã từ chối.

 

Năm 1918. Lúc mới 17 tuổi, ông đã được mời làm giáo sư Trường Quốc Tử Giám, một trường dành riêng cho con cháu các quan trong triều đình.

 

Đến năm 1919 (18 tuổi), ông đủ tuổi để vào học trường Hậu Bổ, một trường tương tự như Học Viện Quốc Gia Hành Chánh sau này. Trong suốt ba năm học, ông luôn luôn là một sinh viên xuất sắc trong các ngành hành chánh, chính trị, luật pháp.  Do đó ông đã tốt nghiệp thủ khoa.

 

Năm 1923, lúc 22 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tri Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri Phủ Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.

 

Năm 1930 với thành tích tận tụy phục vụ đồng bào, ông được đề cử làm Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết, khi vừa tròn 29 tuổi.

 

 Năm 1932, Hoàng Tử Vĩnh Thụy sau thời gian du học tại Pháp trở về nước, lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu Bảo Đại. Để thực hiện một cuộc cải tổ sâu rộng. Nhà vua đã mời ông Ngô Đình Diệm, lúc đó mới 31 tuổi, đang làm Tuần Vũ tỉnh Phan Thiết, đảm nhận chức vụ Thượng Thư Bộ Lại, một chức vụ đứng đầu Nội Các, tương đương Thủ Tướng ngày nay, và kiêm nhiệm chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Hỗn Hợp PHÁP-VIỆT vào ngày 2 tháng 5 năm 1933.  Lúc đó ông Diệm vừa tròn 33 tuổi.

 

Với chức vụ quan trọng này, ông Diệm đề nghị thi hành các kế hoạch canh tân xứ sở, như bãi bỏ hai chức Thống Sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ, đồng thời sát nhập hai kỳ Trung Bắc lại và bổ nhiệm một Thống Sứ cho cả hai miền, như cho phép Viện Dân Biểu được lo những vấn đề quốc sự giống như Quốc Hội. Nhưng, đề nghị của ông Diệm không được Toàn Quyền Pasquier chấp thuận.

 

Ngày 12 tháng 7 năm 1933, ông Diệm đệ đơn lên Hoàng Đế Bảo Đại xin từ chức. Việc từ quan của chí sĩ Ngô Đình Diệm đã làm chấn động Triều Đình Huế và Chính Phủ Pháp thời đó.

 

            Sau khi dứt khoát từ bỏ quan trường, ông Diệm lui về nhà làm dân thường.  Sau này khi được Hoàng Đế Bảo Đại chấp thuận, ông Diệm về dạy học tại trường Providence Huế.

 

Trong khi lui về dạy học, ông Diệm âm thầm nghiên cứu các sách vở và thường xuyên liên lạc với các nhà ái quốc như Cụ Kỳ Ngoại Hầu Cương Để, Cụ Phan Bội Châu và những nhà ái quốc cách mạng chống Pháp, hiện đang hoạt động tại Nhật Bản và trong nước, để mưu cầu dành Độc Lập Tự Do cho đất nước.

 

            Đến năm 1939-1945, Toàn Quyền Đông Dương là Thủy Sư Đô Đốc Jean Decoux ra lệnh cho Khâm sứ Trung Kỳ là Émille Grandjean, bắt ông Diệm đưa đi an trí tại Xieng Khoang, Lào. Nhưng nhờ có ông Nguyễn Bá Mưu làm Thông Phán tại Tòa Khâm Sứ biết được, đã vội vàng mật báo cho ông Diệm biết. Ông Diệm muốn trốn đi Phan Thiết, nhưng luôn bị Pháp truy lùng ráo riết, may nhờ có ông Trần Văn Dĩnh đang làm Hiến Binh cho Nhật, đã đưa được ông Diệm vào Sài gòn lánh nạn. (Sau này khi ông Diệm chấp chánh, đã cử ông Dĩnh làm Tổng Lãnh Sự tại Miến Điện, Tuỳ Viên Toà Đại Sứ rồi Xử Lý Thường Vụ Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn).

 

Lánh nạn ở Sài gòn một thời gian, ông Diệm trở lại Huế để thăm mẹ già, và ông đã bị Việt Minh chặn bắt tại Tuy Hòa. Chúng giải ông ra Hà Nội .  Ông bị Hồ Chí Minh đưa đi an trí tại Thái Nguyên. Nhưng sau đó nhờ giới Công Giáo do Linh mục Lê Hữu Từ lên tiếng phản đối quyết liệt, buộc lòng Hồ Chí Minh phải trả tự do cho ông lại còn mời ông giữ chức Bộ Trưởng Nội Vụ.  Nhưng ông Diệm cương quyết khước từ.

 

Tháng 8 năm 1950 ông Diệm cùng người anh là Giám Mục Ngô Đình Thục rời Saigon đi La Mã dự lễ Năm Thánh. Trên đường đi ông Diệm ghé qua Đông Kinh, thủ đô Nhật Bản. Tại đây ông có tiếp xúc với một số người Mỹ, trong đó có Giáo sư Wesley Fishel. Ông Fishel khuyên ông Diệm nên sang thăm Hoa Kỳ.  Cũng trong dịp này ông Diệm đã ghé thăm các nước Bỉ, Thụy Sĩ, Pháp và sau đó ông sang Hoa Kỳ theo gợi ý của giáo sư Wesley Fishel.

 

            Tới Hoa Kỳ, ông Diệm tạm trú trong nhà Dòng Mary Knoll, ở Lakewood thuộc tiểu bang New Jersey và ở Ossining  tiểu Bang New York. Thời gian ở Hoa Kỳ, ông Diệm chú tâm trau giồi Anh Ngữ và được mời đến các trường Đại Học ở miền Đông và miền Trung Tây Hoa Kỳ để diễn thuyết về các vấn đề Việt Nam, Á Châu và hiểm họa Cộng Sản.

 

            Tại Hoa Kỳ, ông Diệm được gặp Đức Hồng Y Francis Spellman, Tổng Giám Mục Nữu Ước, vì Đức Hồng Y Francis Spellman là bạn thân của Giám mục Ngô Đình Thục từ lúc 2 người cùng học tại La Mã.  Ông còn giao tiếp với một số nhân vật trong chính giới Mỹ  như các ông Mike Mansfield, Clement J. Zablock, J. McCormack, Dân biểu Walter Judd, William Douglas...

 

           Vị Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, đã đưa ông Diệm đi ăn trưa với TNS Kennedy. Trong khi Đức Hồng Y Spellman cũng quen biết với đại sứ Joseph Kennedy (đại sứ Mỹ tại Anh Quốc).

 

Theo ông Robert Amory (phó giám đốc CIA) cho biết,  ông đã từng nghe đến tên tuổi ông Diệm, qua thẩm phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas trong một buổi tiệc.

 

            Trong buổi họp tiếp theo, ông Robert Amory đem chuyện ông Diệm ra nói với giám đốc Allen Dulles và phó giám đốc Frank Wisner. Lúc này CIA có vẻ chọn lựa bác sĩ Phan Quang Đán làm người thay thế vua Bảo Đại. (Theo William Gibbons, "The US Government and Vietnam War", trang 261).

 

Sau đó, ông Diệm được Hoa Kỳ ủng hộ, khi ông về Việt Nam làm Thủ Tướng trong chính phủ Bảo Đại, sau Hiệp định Genève, rồi làm Tổng thống Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam.

 

Người có ảnh hưởng rất lớn trong việc đưa ông Diệm về chấp chính là Hồng Y Francis Spellman. Tác gỉa John Cooney (1985) đã viết: "Tuy rằng không có mấy người biết điều này, nhưng chính Hồng Y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị, của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ tướng của miền Nam Việt Nam là ông Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong một người lãnh đạo: Công giáo nồng nhiệt và chống Cộng đến cùng." [1]

            

Các ông William, Douglas và Kennedy rất tán thưởng đường lối và quan điểm của ông Diệm và đồng ý là Việt Nam, phải Độc Lập với nước Pháp ,và cần phải cải cách xã hội. Đến tháng 6 năm 1954, tình hình quốc nội rối ren, Hoàng Đế Bảo Đại chính thức mời ông Diệm về nước, giữ chức vụ Thủ Tướng toàn quyền về Dân Sự và Quân Sự. Ông Diệm về nước ngày 24 tháng 6 năm 1954, và chấp chánh quyền hành.