; }

Wednesday, February 13, 2019

NSA TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trụ sở Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA)
Ngày 17 tháng 2 năm 2000, trung tướng Michael V. Hayden, giám đốc NSA đã đọc một bài điều trần đặc biệt về lịch sử và tầm quan trọng của NSA đối với nền an ninh, hòa bình và thịnh vượng của Hoa Kỳ cũng như thế giới. Được biết, theo sắc lệnh USC 201, giám đốc NSA phải được chính tổng trưởng quốc phòng bổ nhiệm với sự phê chuẩn của tổng thống. Theo quân lệnh 500.20 của bộ quốc phòng Hoa Kỳ, người được tổng trưởng quốc phòng bổ nhiệm vô chức vụ giám đốc NSA phải là quân nhân cấp tướng 3 sao trở lên. Riêng phó giám đốc NSA sẽ là một chuyên viên kỹ thuật có kinh nghiệm và trình độ. Khi bổ nhiệm giám đốc NSA, tổng trưởng quốc phòng Mỹ phải có trách nhiệm tham vấn giám đốc cơ quan tình báo CIA và hai bên phải đạt được sự đồng thuận khi bổ nhiệm, trước khi đệ trình lên tổng thống. Sau đây, mời qúy độc giả theo dõi một số dữ kiện quan trọng về cơ quan an ninh NSA được tổng hợp từ bài điều trần của trung tướng Michael Hayden và tài liệu của NSA trên Internet.
Trung tướng Michael Hayden
     Trong thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, do nhu cầu tìm kiếm, phát hiện và giải mã những bản mật mã vô tuyến của Đức quốc xã và Phát xít Nhật, một tổ chức tình báo vô tuyến được thành lập trực thuộc phòng quân báo Hoa Kỳ. Đến năm 1952, nhận thức được vai trò quan trọng của một cơ cấu tình báo chiến lược cần có những quyền hạn vượt khỏi sự kiểm soát của lập pháp nên năm 1952, tổng thống Mỹ Truman đã ban hành sắc lệnh thành lập NSA. Trên danh chính ngôn thuận, tổ chức này trực thuộc bộ quốc phòng Mỹ nhưng thực tế, đó là một tổ chức tình báo quyền lực bí mật nhất trong số các cơ cấu tình báo quốc nội cũng như quốc ngoại của Mỹ.
Vì không phải là một tổ chức do quốc hội Mỹ thành lập hay đề nghị nên nhìn chung hoạt động của NSA vượt khỏi sự kiểm soát của quốc hội. Các thành viên hoạt động trong cơ cấu NSA được coi là "miễn nhiễm" khỏi mọi sự chất vấn từ các thành viên trong quốc hội Mỹ.
Không những vậy, là một tổ chức có trách nhiệm thu thập các tin tức tình báo của đối phương qua mạng lưới truyền thông vô tuyến để cung cấp những dữ kiện quan trọng cho các cơ quan công quyền, bộ quốc phòng cũng như các cơ cấu tình báo quốc gia khác nên NSA không có bổn phận phải liên lạc với báo chí hoặc công khai hóa các hoạt động của mình trước công chúng.
Cho đến gần đây, thấy quyền lực của NSA quá rộng rãi, ảnh hưởng đến quyền tự do được hiến pháp quy định, lưỡng viện quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật có tên Foreign Intelligence Surveillance Act, đồng thời cả hai viện đều cho thành lập ủy ban tình báo để giám sát NSA. Tại Hạ Viện Mỹ hiện nay, dân biểu Porter Goss là chủ tịch Ủy Ban Tình Báo giám sát NSA. Tuy nhiên, hiểu biết của ông về các hoạt động của NSA vẫn rất hạn chế.
Trong khi các cơ quan tình báo khác của Mỹ như FBI, CIA, phòng quân báo Mỹ... đặt trọng tâm việc thu thập tin tức tình báo qua con người (HumInt - Human Intelligence) thì trái lại NSA lại đặt trọng tâm việc thu thập tin tức qua mạng lưới điện tử (ElInt - Electronic Intelligence), trong đó có mạng lưới Echelon.
Phi cơ thám thính U2

Trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, cơ quan NSA đã duy trì một cách thường xuyên liên tục ba mạng lưới thu thập tin tức tình báo điện tử. Mạng lưới thứ nhất có bí danh là Olympic Torch. Mạng lưới này bao gồm các phi cơ thám thính U2 bay ở độ cao từ 20 cây số trở lên trên không phận Lào. Mạng lưới thứ hai có bí danh Comfy Gator. 
Phi cơ C-130 có mang phi cơ Ryan 147
drone (UAV) do thám dưới cánh

Mạng lưới này bao gồm các phi cơ C-130 cũng bay trên không phận Lào nhưng ở độ cao từ 7 ngàn cho đến 10 ngàn thước. Về phía đông bay trên không phận biển Nam Hải và vịnh Bắc Bộ là mạng lưới thứ ba có bí danh Apple. Mạng lưới này bao gồm các phi cơ trinh thám điện tử EC-135 cất cánh từ Okinawa và bay dọc theo miền duyên hải từ Đà Nẵng đến Hải Phòng ở độ cao trên 10 cây số.
Tất cả những phi cơ có mặt ở cả ba mạng lưới trên đều có bổn phận thu thập tất cả những điện tín vô tuyến có trong không gian rồi gửi về Thái Lan hoặc Okinawa. Tại đây, những điện tín đó sẽ được chuyển về Fort Meade ở Maryland, Hoa Kỳ. Những bức điện tín hoặc điện đàm này nhiều khi bằng tiếng Việt, tiếng Lào ở nguyên dạng bạch thoại nhưng cũng nhiều khi được mã hóa. Vì vậy, một số chuyên viên có trách nhiệm giải mã các bức điện tín hay điện đàm luôn luôn túc trực suốt ngày đêm tại Fort Meade.
Ngoài ra, các phi cơ tình báo điện tử của Hoa Kỳ còn có trách nhiệm thu thập, phân tích tất cả những bức điện vô tuyến từ các đài không lưu, các trung tâm phòng không chiến lược của cộng sản Việt Nam cũng như cộng sản Lào.
Dựa vào tài liệu lưu trữ của cơ quan NSA, người ta được biết cơ quan NSA đã thu thập được đủ loại đủ dạng những cuộc điện đàm khác nhau của đối phương. Thậm chí ngay cả tên người, bí danh, mệnh lệnh tác chiến, cơ cấu báo động của cộng sản Bắc Việt một khi có máy bay Mỹ đến oanh tạc cũng đều được ghi nhận thường xuyên.
Một trong những nhân vật chuyên phân tích và giải mã các cuộc điện đàm vô tuyến thu thập được là Jerry Mooney, người đã được NSA tuyển chọn từ năm 1957. Sau khi được huấn luyện để trở thành một sĩ quan tình báo chuyên phân tích và giải mã các bản mật điện vô tuyến, Jerry Mooney được gửi đến hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ, Libya và Hồi Quốc. Khi cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn nóng bỏng, Jerry Mooney được lệnh trở lại Fort Meade với trách nhiệm tiếp nhận và phân tích tất cả những tin tức tình báo NSA thu thập được trên không phận vùng Đông Nam Á.
Nhưng trong thời gian 5 năm đầu của cuộc chiến tranh, những tin tức thu thập được của NSA xem ra phí phạm vì không được ứng dụng một cách hiệu quả trên chiến trường cũng như tìm kiếm những phi công Mỹ bị mất tích. Nói đúng hơn, thời gian đầu của cuộc chiến Việt Nam, NSA cố gắng đặt trọng tâm trách nhiệm thu thập những tin tức gì có liên quan đến việc vận chuyển người và vật liệu của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh.

Như chúng ta đã biết, ngay từ khi cộng sản quyết định tiến chiếm Miền Nam bằng võ lực vào năm 1958, cả cộng sản lẫn Hoa Kỳ đều thừa nhận vai trò quan trọng có tính cách chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh. Thực tế, trong thời gian hơn một thập niên, không biết bao nhiêu lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, binh lính của cộng sản được di chuyển qua đường mòn Hồ Chí Minh trước khi thâm nhập vào Miền Nam.
Tuy nhận thức được thực tế nguy hiểm này, chính phủ Hoa Kỳ bị trói chân trói tay vì đường mòn Hồ Chí Minh nằm trên lãnh thổ Lào, một quốc gia trung lập. Nói đúng hơn, đây là một quyết định sai lầm của quốc hội Mỹ qua đạo luật được mệnh danh là "Congressional Rules of Engagement". Đây là một đạo luật ấn định những luật lệ nhằm kiểm soát việc tiến hành chiến tranh của hành pháp đứng đầu là tổng thống Mỹ.
Dựa vào những gì đã được phanh phui trong thời gian gần đây, người ta thấy đạo luật trên đã có những điều khoản thật vô lý dẫn đến những thuận lợi lớn lao cho cộng sản Bắc Việt. Cụ thể như đạo luật đó đã ấn định không quân Mỹ chỉ được phép tấn công các mục tiêu trên đường mòn Hồ Chí Minh như binh lính hay xe cộ một khi mục tiêu di động. Trong trường hợp binh lính cộng sản nghỉ qua đêm hay xe cộ của cộng sản dừng lại tại một bãi đậu xe cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 100 thước, phi công Mỹ không được phép tấn công cho dù có phát hiện được. Thậm chí các phi công cũng không được phép tấn công những khẩu súng phòng không điện của cộng sản được bố trí để bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh (The Congress stated that lorries and men could only be attacked while they were actually moving down the trail. Pilots were not allowed to attack troops resting for the night or trucks parked up in a lorry park a 100 yeards or so off the trail. They were not even supposed to attack the anti-aircraft batteries that protected the trail. Comfy Gator Holding an Olympic Torch. tr.33).
Chính những điều khoản cấm đoán này đã khiến các chuyến bay của phi công Mỹ trên không phận Lào trở nên nguy hiểm nếu không nói là tự sát. Ngay trên lãnh thổ Bắc Việt, mạng lưới súng phòng không hoạt động bằng điện và hệ thống hỏa tiễn SAM cũng nằm trong tình trạng bắn phi công Mỹ một cách thoải mái mà không lo sợ bị phi công Mỹ tấn công. Đến khi tướng Lavelle, tư lệnh đệ thất không lực Mỹ, ra lệnh cho các phi công Mỹ được quyền tấn công các phi cơ MiG một khi chúng tấn công các pháo đài bay B-52, lập tức ông bị truy tố tội bất tuân lệnh dám thực hiện những cuộc tấn công trái phép tại Bắc Việt Nam.
Hậu quả của những đạo luật vô lý trên đã khiến các nhân viên thuộc cơ quan NSA chỉ được lệnh sàng lọc những tin tức tình báo trên không phận Lào để tìm kiếm những cuộc di chuyển của cộng sản Bắc Việt chứ không phải phát hiện những nơi cộng sản đồn trú.
Nhưng đột nhiên vào ngày 25 tháng 11 năm 1968, Jerry Mooney phát hiện ra một bức điện văn của cộng sản Bắc Việt có nội dung khác hẳn những bức điện văn từ trước đến nay. Bức điện văn được gửi từ trung đoàn phòng không 218 đến ban tham mưu sư đoàn 367 với nội dung "Joseph C. Morrison San D. Francisco vừa bị bắt sống và đang được giải lên bộ tư lệnh sư đoàn".
Thoạt đầu khi nhận được bức điện tín như vậy, Jerry Mooney cho rằng người phi công bị bắt quê ở Francisco. Nhưng sau khi phối kiểm với lực lượng không quân tiền phương tại Việt Nam, Jerry Mooney biết được vào ngày 25 tháng 11 năm 1968 có hai phi công Mỹ tên là Joseph C. Morrison và San D. Francisco đã bị mất tích trên không phận Việt Lào. Khi đó cả hai đang thực hiện một phi vụ chiến thuận trên chiếc phi cơ F4D tại khu vực gần Ban Karai Pass, một cửa khẩu hậu cần quan trọng của cộng sản giữa Bắc Việt và Lào.
Theo báo cáo của phòng quân báo thuộc không lực Hoa Kỳ thì phi cơ đã bị trúng đạn phòng không và cả hai đã nhảy dù an toàn xuống mặt đất. Lúc đầu, cả hai đã nhanh chóng tránh né được kẻ thù và Francisco đã liên lạc bằng vô tuyến với một phi cơ Mỹ đang bay trên trời. Cuộc tìm kiếm và giải cứu được thực hiện gấp rút nhưng không làm sao bắt liên lạc được Morrison. Đến khi cuộc giải cứu được thực hiện thì đột nhiên, mối liên lạc với Francisco bị cắt đứt. Từ đó, Francisco và Morrison được ghi nhận là mất tích.
Nhưng với bức điện văn của cộng sản do Jerry Mooney phát hiện, rõ ràng cả hai phi công trên đã bị cộng sản Bắc Việt bắt làm tù binh. Không những vậy, Jerry Mooney còn tiếp tục sàng lọc những bức điện văn khác ghi nhận được trong những ngày tiếp đó và phát hiện ra những chi tiết quan trọng như sau.
Thứ nhất, hai viên phi công trên đã bị trung đoàn phòng không 218 bắt sống. Sau cả hai được giải lên bộ tư lệnh sư đoàn 367 lúc đó đang đồn trú tại một vùng thôn quê phía nam của thành phố Vinh, trung phần Việt Nam. Tại đây, hai người đã bị phỏng vấn và bị tra tấn rất dã man.
Thứ hai, sau khi phỏng vấn, cộng sản giải hai viên phi công về trung đoàn 284 tại trung tâm tiếp vận A72 và A1-29. Lúc đó cả hai trung tâm này đang được xây dựng rất quy mô tại vùng Thạch Bản và Long Đại thuộc tỉnh Quảng Bình để chuẩn bị tồn trữ một số lượng khổng lồ lương thực, vũ khí sẵn sàng cho cuộc tấn công vào đầu năm 1972.
Thứ ba, hai viên phi công đã bị buộc làm lao công tại một số vị trí tối mật của cộng sản Bắc Việt. Điều này có nghĩa cộng sản đã áp đặt án tử hình cho cả hai người nên sau này trong số những tù binh Mỹ được trao trả không hề có tên Morrison và Francisco.
Chính những phát hiện động trời trên đây đã khiến Jerry Mooney tin tưởng từ xưa đến nay cơ quan tình báo an ninh NSA của Hoa Kỳ đã không biết tận dụng những bức điện văn của kẻ thù để qua đó khai thác những tin tức liên quan đến sự mất tích của các quân nhân Mỹ. Nhưng sau khi đệ trình lên thượng cấp đề nghị của mình, Jerry Mooney đã phải chờ đợi tới hai năm trời trước khi anh được phép báo cáo những gì anh đã phát hiện. Kết quả, nếu từ năm 1963 đến 1970 chỉ có 5% tổng số phi công Mỹ mất tích được cơ quan tình báo NSA theo dõi thì sau năm 1970 đã có tới 90% được tường trình và lập thành hồ sơ báo cáo.

Phạm Thái Lai

Thursday, January 31, 2019

VỤ ĐỘT KÍCH SƠN TÂY: MỘT SỰ NGHỊCH LÝ TÌNH BÁO

Sharon A. Maneki
(Center for Cryptologic History,National Security Agency)
Ngô Bắc dịch
(gio-o)

Trại tù Sơn Tây

“Barbara” là mật hiệu của một mô hình đúng theo kích thước của trại giam Sơn Tây
 được xây dựng bởi Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ và được sử dụng 
để huấn luyện lực lượng tấn kích Sơn Tây tại Căn Cứ Không Quân Eglin, Tiểu Bang Florida
***
Vụ đột kích Sơn Tây hồi Tháng Mười Một 1970 trong Chiến Tranh Việt Nam đã là một trong các mưu toan giải cứu can đảm và táo bạo nhất trong lịch sử.  Mặc dù nó đã xảy ra hơn 35 năm trước đây, nó vẫn còn là một đề tài được chú ý và gây tranh cãi.  Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đã xâm nhập sâu vào trong lãnh thổ địch, chỉ cách Hà Nội 23 dặm Anh (mile) về hướng tây bắc, nhằm mang về nước khoảng 55 đồng bào của họ đang bị bắt giữ làm tù binh chiến tranh (prisoners of war: POW).
       Bất kỳ sự tiến quân nào vào lãnh thổ địch đều nguy hiểm – phòng vệ thủ đô luôn luôn là một ưu tiên cao nhất cho một quốc gia, và các lực lượng phòng thủ thiện chiến nhất ứng trực để bảo vệ thủ đô.  Vì thế, phái đoàn quân đến quá gần Hà Nội thì rất hiểm nghèo.  Trong cuộc chiến, quân Bắc Việt được chứng tỏ là các kẻ chiến đấu ngoan cường với một quyết tâm mạnh mẽ hầu giành đạt được mục đích của họ bất kể cuộc chiến kéo dài bao lâu hay họ phải gánh chịu các tổn thất nhiều đến đâu.

kế hoạch giải cứu Sơn Tây
Kế Hoạch Tấn Công Trại Giam Sơn Tây
       Mặc dù trại giam tù binh chiến tranh POW Sơn Tây phần nào biệt lập bởi vị trí của nó trên bờ một chi nhánh của sông Hồng, vẫn có các mối nguy hiểm phụ trội.  Một thị trấn gần trại giam tiếp nhận một số cơ sở và thiết bị quân sự, chẳng hạn như các toán quân truyền tin và các trường huấn luyện phòng không.  Ngoài ra, có hàng nghìn nhân viên quân sự Bắc Việt tại khu vực này.  Mối nguy hiển nhiên về sự tấn công của địch không phải là hiểm họa duy nhất mà quân Mỹ phải đối diện.  Nội việc đáp an toàn xuống trại giam đã là một thách đố bởi có các hàng rào và diện tích nhỏ hẹp.  Các cây to lớn, ba tháp canh gác, và một bức tường cao bảy bộ Anh (feet) bao quanh trại giam.  Khoảng cách giữa các bức tường phía bắc tới phía nam chỉ dài 185 bộ Anh.  Khoảng cách giữa các bức tường phía đông sang tây chỉ có 132 bộ Anh.  1
       Bài viết này sẽ khảo sát vai trò của Tình Báo Tín hiệu (Signals Intelligence: SIGINT) trong cuộc đột kích Sơn Tây.  Nghịch lý của vụ Sơn Tây rằng việc hoạch định và thi hành chính xác cuộc đột kích tạo ấn tượng lớn nhất.  Song, cuộc đột kích vẫn còn gây tranh cãi bởi nó liên can đến một trong các sự thất bại tình báo to lớn trong suốt Cuộc Chiến Tranh Việt Nam.  Ngoài vai trò của SIGINT, các câu hỏi khác sẽ được khảo sát trong bài viết này là: Đâu là các khía cạnh thành công của cuộc đột kích? Tại sao một sự thất bại như thế đã xảy ra? Liệu đã có quá nhiều sự phân cách bao quanh nhiệm vụ này này hay không? Liệu Bắc Việt đã có sự hay biết trước về cuộc đột kích Sơn Tây hay không?
       Trong năm 1970, khi vụ đột kích Sơn Tây được hoạch định và thi hành, sự ủng hộ của Mỹ cho Chiến Tranh Việt Nam đang tàn lụi.  Ngay các nhân vật bảo thủ, chẳng hạn như Thượng Nghị Sĩ Barry Goldwater (Đảng Cộng Hòa, Tiểu Bang Arizona), các kẻ đã ủng hộ chiến tranh nay đang thấm mệt vì nó.  Như Goldwater, kẻ phẫn nộ về các quy tắc giao chiến bị hạn chế, đã giải thích: “Nếu chúng ta không đi đến cả việc cố gắng để chiến thắng thứ chết tiệt đó, khi đó hãy thoát ra khỏi đó.  Các con người hữu ích đang chết một cách vô ích. 2
       Tiến trình triệt thoái các binh sĩ Mỳ cũng đã được tiến hành trong năm 1970.  Để chống đỡ cho sự triệt thoái các binh sĩ Mỹ, Tổng Thống Nixon đã chấp thuận một cuộc xâm nhập vào Căm Bốt.  Cuộc xâm nhập, khởi sự hôm 1 Tháng Năm 1970, được giả định nhằm ngăn trở luồng nhân sự và tiếp liệu vào Nam Việt Nam từ Bắc Việt.  Mặc dù phía Hoa Kỳ đã tịch thu được một khối lượng khổng lồ về vật liệu, Bắc Việt vẫn tiếp tục sử dụng Đường Mòn Hồ Chí Minh để chống đỡ cho nỗ lực chiến tranh của nó tại Nam Việt Nam.
       Các cuộc hòa đàm ở Paris, khởi sự từ ngày 13 Tháng Năm 1968, nhưng kết quả chỉ có sự tiến bộ nhỏ.  Thí dụ, suốt năm 1968, các nhà thương thuyết đã không làm gì ngoài việc tranh luận về hình dạng và kích thước của chiếc bàn thương nghị.  Vào năm 1970, các cuộc hòa đàm vẫn còn dẫm chân nơi các sự tranh luận về thủ tục.  Với sự triệt thoái của binh sĩ Mỹ và thời gian nằm bên phía họ, Bắc Việt đã không có lý do để nhượng bộ các đòi hỏi của Mỹ về sự từ bỏ lãnh thổ hay chấp nhận chế độ Nam Việt Nam. 3 Một mối thất vọng khác cho Hoa Kỳ là vì Bắc Việt còn giam giữ các người Mỹ làm tù binh chiến tranh.  Trong năm 1970, có vào khoảng 630 Tù Bình Chiến Tranh (POW).  Nếu sự phóng thích các tù binh này không thể được thương thảo, một quyền lực quân sự hùng mạnh chẳng hạn như Hoa Kỳ buộc có thể phải có hành động.
Trong Tháng Tư 1970, Phi Đội Hoạt Động Đặc Biệt Thứ 1127, Bộ Chỉ Huy, Không Lực Hoa Kỳ, có nhận được tin tức tình báo cho hay Bắc Việt giam giữ các tù binh Hoa Kỳ tại ngoại ô thành phố Sơn Tây, Bắc Việt.  Phó Giám Đốc Kế Hoạch và Chính Sách Không Lực, James R. Allen, nêu đề nghị về một nỗ lực giải cứu với Chuẩn Tướng Donald D. Blackburn.  Blackburn, phụ tá đặc biệt về chống phiến loạn và các hoạt động đặc biệt, đã thuyết trình trước Bộ Tham Mưu Liên Quân: BTMLQ (Joints Chiefs of Staff: JCS) hôm 5 Tháng Sáu và đề nghị rằng các nhân viên hoạch định tham mưu không quân khảo sát khả tính về việc liệu các TBCT Mỹ có thể được giải cứu ra khỏi Sơn Tây hay không.  Mặc dù tính khả thi của việc giải cứu các tù binh khỏi vài trại giam đã được nghiên cứu, chỉ có trại Sơn Tây được tuyển chọn bởi có nhiêu tin tức tình báo được cung ứng về vị trí này hơn là các trại khác.  Sau một số nghiên cứu sơ khởi bởi một toán nhỏ gồm các đại diện của mọi ngành và Cơ Quan Tình Báo Quốc Phòng (Defense Intelligence Agency), Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird và BTMLQ đã chấp thuận ý niệm và ra lệnh thành lập một Nhóm Đặc Nhiệm Tình Trạng Bất Ngờ hỗn hợp. 
       Nhóm Đặc Nhiệm phụ trách việc khai triển các kế hoạch hành quân chi tiết và tổ chức cũng như huấn luyện nhân viên thực hiện việc giải cứu.  Nó được kích hoạt vào ngày 8 Tháng Tám 1970.  Tư Lệnh Lực Lượng Các Hoạt Động Đặc Biệt Không Lực Hoa Kỳ tại Căn Cứ Không Quân Eglin thuộc tiểu bang Florida, Chuẩn Tướng Leroy J. Manor, trở thành tư lệnh của nhóm này.  Đại Tá Arthur D. Simons, Lục Quân Hoa Kỳ, thuộc Quân Đoàn Nhảy Dù 18 tại trại Fort Braggs, tiểu bang North Carolina, là phó tư lệnh.  Phi hành đoàn và các lực lượng diện địa được tuyển chọn và túc trực tại Eglin vào ngày 6 Tháng Chín.  Việc hoạch định và huấn luyện phải diễn ra đồng thời bởi hạn kỳ thì ngắn.  Nhóm Đặc Nhiệm đề nghị rằng công tác diễn ra vào ngày 21 Tháng Mười, với một nhật kỳ dự khuyết là ngày 21 Tháng Mười Một.  Khái niệm chiến thuật được chấp thuận bởi BTMLQ và bộ trưởng quốc phòng trong Tháng Chín.  Vào ngày 8 Tháng Mười, Nhóm Đặc Nhiệm đã thuyết trình trước Tiến Sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Nixon.  Tổng Thống chấp thuận kế hoạch nhưng đã triển hoãn sự thi hành nó cho đến Tháng Mười Một. 4
       SIGINT đã không được gia nhập vào việc lập kế hoạch cho đến 10 Tháng Tám 1970, khi BTMLQ yêu cầu Tư Lệnh Thái Bình Dương (Commander-in-Chief Pacific: CINPAC) chỉ định một đại diện của SIGINT vào Nhóm Đặc Nhiệm.  Vị trưởng Nhóm Trợ Giúp SIGINT cho Cơ Sở Phân Tích Phòng Không của Không Lực Thái Bình Dương (Pacific Air Force’s Air Defense Analysis Facility) tại Hawaii được chỉ định vào ban tham mưu của Manor.  Vào ngày 26 Tháng Tám 1970, giám đốc Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (CQANQG – National Security Agency: NSA), Đô Đốc Noel Gayler, đã đặt bí danh “Adrenaline” cho dự án với đại diện trực tiếp của ông trong Nhóm Đặc Nhiệm.  Vị đại diện này (danh tính vẫn còn được giữ bí mật cho đến nay) đã tập hợp một mạng lưới phức tạp và phân cách của các tổ thu thập, phân tích, và báo cáo.  An ninh là quan tâm tối thượng trong đầu óc các người lập kế hoạch.  Đại diện CQANQG của Gayler giữ các chi tiết về công tác, phân cách với các nhân viên phân tích các năng lực phòng không của Bắc Việt.
       SIGINT (Tình Báo Tín hiệu) đã đóng một vai trò đáng nể cả trong việc hoạch định lẫn thực hiện cuộc đột kích Sơn Tây.  Nhóm Đặc Nhiệm đã hy vọng rằng SIGINT có thể cung cấp tin tức về hệ thống phòng không của Bắc Việt hầu sẽ xác định các tuyến đường xâm nhập và rút lui tốt nhất và ít phòng vệ nhất cho máy bay tấn công.  Một sự phác họa phức tạp về các phản ứng và các năng lực khả hữu của Bắc Việt đã được soạn thảo.  Tình Báo Truyền Tin (Communications Intelligence: COMINT) và Tình Báo Điện Tử (Electronic Intelligence: ELINT) đã cung cấp các tin tức về sự chỉ huy và kiểm soát, các thời gian phản ứng của các hỏa tiễn địa-đối-không và các đơn vị pháo binh phòng không, các thời gian báo cáo và sự chính xác của radar và các mạng lưới quan sát hay chấm định, và vị trí và tình trạng của các máy bay MiGs.  Vị trí và các hoạt động của các phi công máy bay MiG có khả năng bay đêm là một loại tin tức trọng yếu khác mà Nhóm Đặc Nhiệm nhận được từ SIGINT.
       Một yêu cầu SIGINT trọng yếu nữa cho Nhóm Đặc Nhiệm là nhu cầu báo cáo đặc biệt về tình trạng khí tượng địa phương trên các đường bay này, và các tin tức về các sự thay đổi có thể ảnh hưởng đến công tác.  Vùng chung quanh Sơn Tây nổi tiếng có sương mù ở độ thấp, hơi nước và mưa trong Tháng Mười Một, thời điểm đề nghị cho cuộc đột kích. 5
       Suốt Tháng Tám và hầu hếtTháng Chín, Giám Đốc Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA), Đô Đốc Gayler, đại diện của ông tại Nhóm Đặc Nhiệm, và đại diện Cơ Quan NSA tại Bộ Quốc Phòng, Milton Zaslow (danh tính của Gayler và Zaslow được sử dụng bởi họ đã sẵn là các nhân vật được công chúng biết đến) là các người duy nhất tại NSA biết đến cuộc đột kích Sơn Tây.  Gayler và Zaslow đã quyết định phái thêm nhiều nhân viên vào hoạt động này bởi họ cảm thấy rằng đại diện của NSA tại Nhóm Đặc Nhiệm đã không có sự tiếp cận đến mọi tin tức mà người đó có thể cần đến.  Họ thông báo có năm nhân viên cao cấp bổ túc, là các người sắp xếp cho các phân tích viên NSA thực hiện các cuộc nghiên cứu hơn nữa về hệ thống phòng không của Bắc Việt.  Cũng giống như các phân tích viên dưới quyền vị đại diện NSA tại Nhóm Đặc Nhiệm, các phân tích viên tại Bộ Chỉ Huy NSA thực hiện các cuộc nghiên cứu khác nhau đã không được cho hay về lý do thực sự cho các cuộc nghiên cứu này. 6
       Thu thập tin tức không phải là mối quan tâm duy nhất cho các nhà hoạch định SIGINT.  Một sự cứu xét quan trọng khác đối với phía Mỳ là không vô tình tiết lộ cho phía Bắc Việt qua việc thực hiện bất kỳ khuôn mẫu hoạt động bất thường nào.  Thí dụ, các phi vụ RC-135 thuộc chương trình thám thính thu thập tin tức bằng máy bay, được gọi là Combat Apple (Trái Táo Chiến Đấu), được sắp đặt để trợ giúp Nhóm Đặc Nhiệm, sẽ phải làm việc vào buổi tối trên Vịnh Bắc Việt, một thời khoảng mà các chuyến bay SIGINT hoàn toàn chưa bao giờ phi hành.  Đại diện Nhóm Đặc Nhiệm đã giải quyết vấn đề này bằng việc dàn xếp với Bộ Chỉ Huy Không Quân Chiến Lược (Strategic Air Command: SAC) thiết lập một phác đồ phi hành như thế trong các tuần lễ trước khi dẫn đến công tác sao cho Bắc Việt sẽ nhận thức các phi vụ này là bình thường.
       Khi thời điểm chỉ định đến gần, đại diện [NSA] trong Nhóm Đặc Nhiệm đề xuất các kế hoạch cho các hoạt động của SIGINT trong suốt phi vụ.  Năm ngày trước cuộc đột kích, ông ta bay đến Đà Nẵng, nơi là tổng hành dinh của ông cho cuộc hành quân.  Một ngày trước khi thực hiện nhiệm vụ, các viên chức NSA đã sắp xếp một tin nhắn sẽ được gửi đến mọi địa điểm để theo dõi các hoạt động trên không phận Bắc Việt – mà không tiết lộ bản chất của phi vụ. 7
Thời biểu của cuộc hành quân được di chuyển sớm hơn một ngày bởi có sự tiến đến của Trận Bão Patsy từ phía tây.  Bão Patsy đã sẵn đổ xuống Phi Luật Tân hôm 19 Tháng Mười Một và đe dọa Biển Nam Trung Hoa và vùng Vịnh Bắc Việt.  Sự dến nơi của trận bão có thể ảnh hưởng đến thời tiết trên đường xâm nhập của máy bay chở nhóm biệt kích.  Đường xâm nhập khởi hành từ Takhli, Thái Lan, ngang qua Lào và dọc theo phần phía tây của Bắc Việt.  Bầu trời quang đãng thì cần thiết cho việc tái tiếp tế nhiên liệu trên đường xâm nhập, và đã có nhu cầu trăng sáng cho lực lượng tấn công một khi họ công kích trại giam POW.  Ngoài ra, nếu biển quá biến động, cuộc không kích đánh lạc hướng của Hải Quân tại hải cảng Hải Phòng sẽ phải bị bãi bỏ.
Vào lúc 21 giờ tối hôm 20 Tháng Mười Một, các máy bay trực thăng và máy bay vận tải C-130 chở các lực lượng giải cứu, và các máy bay hộ tống chúng bắt đầu rời Thái Lan đến Sơn Tây. Hơn một trăm máy bay chủ yếu cho công tác và yểm trợ hoạt động từ bảy căn cứ và ba hàng không mẫu hạm đã tham dự vào công tác.  Để gây rối loạn địch quân, Hải Quân đã phóng ra một hoạt động đánh lạc hướng trên hải cảng Hải Phòng trong khi các may bay đang bay tại hướng ngược lại đến Sơn Tây.  Kế hoạch của Hải Quân đòi hỏi các máy bay từ ba hàng không mẫu hạm của Lực Lượng Đặc Nhiệm 77 thực hiện năm mươi chín phi vụ, trong đó chúng sẽ thả các hỏa châu bên trên hải cảng.  Với quá nhiều hoạt động trên không phận của Bắc Việt, sẽ có một nhu cầu lớn lao về sự hỗ trợ của SIGINT.
Sự yểm trợ trên đất liền và trên không của SIGINT đã là một phần kết hợp của công tác Sơn Tây.  Iron Horse (Ngựa Sắt), một hệ thống máy điện toán tự động hóa sự thu nhận và chuyển đổi các sự theo dõi bằng radar của Bắc Việt, là một thí dụ của sự yểm trợ trên đất liền.  Trong suốt cuộc hành quân, các lực lượng đã phải bay ở các cao độ rất thấp để tránh sự phát hiện bởi các radar của Bắc Việt.  Sự cần thiết của các đường bay ở độ thấp có nghĩa các radars Hoa Kỳ không thể theo dõi tiến độ của chúng.  Vì thế, SIGINT sẽ là nguồn tin tức duy nhất để duy trì sự giám sát tiến độ của cuộc hành quân cho vị chỉ huy trận đánh.  Cách hay nhất để cung cấp tin tức về phản ứng và ý định phòng thủ thực sự của Bắc Việt trong suốt cuộc hành quân là việc sử dụng Combat Apple; Trái Táo Chiến Đấu.

biệt kích

Toán biệt kích đổ bộ trại giam Sơn Tây
Công tác là một phi vụ lâu dài về mặt thời gian.  Tổng số thời gian công tác từ lúc phóng ra cho đến lúc thu quân vào khoảng năm tiếng rưỡi đồng hồ, với ba mươi phút ngưng bay khi các binh sĩ có mặt trên nền đất tại Bắc Việt.  Đây là một thời khoảng gây lo ngại lớn lao cho mọi người can dự vào cuộc hành quân.8
Bởi vì SIGINT được cung ứng gần như cùng thời điểm tiến hành thực sự về tiến độ của công tác, một phòng hội nghị đã được thiết lập tại Ngũ Giác Đài cho BTMLQ và các đại diện cao cấp từ các binh chủng và cộng đồng tình báo đẻ quan sát cuộc hành quân.  Vào khoảng ba mươi hay bốn mươi phút sau khi khởi sự công tác, nhóm tuyển chọn tại Ngũ Giác Đài được cho hay về một sự báo động phi cơ MiG chống lại công tác đang được tiến hành.  Zaslow phản đối rằng tin tức này là không chính xác.  Điều được hay biết xuyên qua SIGINT rằng các phi công MiG có thể bay đêm không có mặt trong khu vực.  Vào lúc này, một nhân viên dân sự trẻ tuổi có nói với BTMLQ và các viên chức cao cấp khác rằng người của họ tại chỗ đã sai lầm.
Vào khoảng năm phút sau đó, họ hay biết rằng sự báo động đã được bãi bỏ.  Như Zaslow đã giải thích, “Đó là năm phút lâu dài đối với tôi.  Sự khả tín của SIGINT đối với quân đội đã gia tăng một cách đáng kể nhờ ở kinh nghiệm này”.  Một sự cảnh cáo máy bay MiG đã được phát ra trong sự nhầm lẫn, và Combat Apple đã cải chính tin tức sai lạc này. 9
Các sự tiên đoán SIGINT khác về phản ứng của hệ thống phòng không Bắc Việt đối với sự xâm nhập này đều rất chính xác.  Sự tuyển chọn các đường bay vào và ra khỏi Bắc Việt đã được chứng tỏ là tuyệt hảo.  Sự tiên đoán rằng nếu máy bay Hoa Kỳ bay ở cao độ dưới 2,500 bộ Anh (feet), chúng có thể tránh được sự phát hiện bởi các radars của Trung Cộng và Bắc Việt, là chính xác.  Lực lượng tấn công chính yếu không hề bị phát hiện trong khi xâm nhập hay rút ra.  Thời gian phản ứng dành cho các hỏa tiễn địa-đối-không của Bắc Việt lâu hơn các sự ước định của SIGINT.  SIGINT ước lượng là hai mươi bẩy phút.  Thời gian thực sự trôi qua từ lúc phát hiện ban đầu chiến đấu cơ bao trùm bởi các cơ sở radar của Bắc Việt cho đến hỏa tiễn đầu tiên được khai hỏa là ba mươi sáu phút và bốn mươi hai giây.
Nhắm vào các mục tiêu bên hướng đông và hướng tây của các phi trường chiến đấu cơ chính yếu của Bắc Việt đã tạo ra sự hoang mang lớn lao.  Đã có một sự rối loạn hoàn toàn trong hệ thống chỉ huy và kiểm soát phòng không của Bắc Việt.  Sự đánh lạc hướng trù hoạch bởi Hải Quân Hoa Kỳ rõ ràng có hiệu quả. 10 Các kế hoạch và sự thi hành gần như không có khuyết điểm.  Song, khi các lực lượng tấn công đổ bộ trại giam Sơn Tây, các phòng giam trống rỗng.  Sau một cuộc lục soát kỹ lưỡng nhà giam, các lực lượng đã bay về lại Thái Lan.
       Vào những giờ tảng sáng hôm 21 Tháng Mười Một 1970, các POW Mỹ bị giam tại nhà tù Dan Hoi [?], chỉ cách trung tâm Hà Nội mười dặm về phía tây, bị đánh thức bởi tiếng súng nổ và các vụ nổ cách họ khoảng mười dặm về phía tây tại vùng phụ cận của thị trấn Sơn Tây.  Một trong các điều trớ trêu của Chiến Tranh Việt Nam rằng các tù binh tại Dan Hoi có nghe được tiếng đạn và các tiếng nổ của nỗ lực giải cứu tại Sơn Tây có nghĩa để giải cứu cho họ.  Các POW đã được chuyển đến Dan Hoi [trong nguyên bản ghi sai là Dong Hoi (?), chú của người dịch] — một trại giam gần Hà Nội hơn và với các tiện nghi tốt hơn – hôm 14 Tháng Bảy, 1970 để tránh lụt lội từ sông Côn, gần nơi tọa lạc của trại giam Sơn Tây. 11 May mắn là đã không có sự tổn thất nhân mạng Mỹ trong cuộc đột kích.  Nghịch lý rằng xuyên qua tình báo phía Mỹ biết quá nhiều, ngoại trừ việc không hay biết rằng trại giam trống rỗng.
Trong Tháng Tư 1970, các phi vụ chụp không ảnh trên trại giam được bay bởi máy bay SR-71 và các máy bay thám thính không người lái “Buffalo Hunter’ đã xác định sự hiện diện của các POW.  Tuy nhiên, trong bảy tháng kế tiếp, các phi vụ chụp không ảnh tiếp theo, hai mươi chuyến cho mỗi máy bay SR-71 và các máy bay không người lái trong vùng, đã cho thấy không có sự hiện diện của các POW.  Các phi vụ chụp ảnh này không tìm thấy các lính gác hay bất kỳ hoạt động nào, chẳng hạn như lửa khói nấu ăn, các đội hình, hay các xe tiếp tế đi liền với hoạt động của nhà tù.  Tuy nhiên, sự vắng bóng của bất kỳ hoạt động nào tại Sơn Tây xem ra không hề gây thắc mắc cho các nhà hoạch định công tác để đặt câu hỏi liệu các POW còn ở đó hay không.
Trong suốt bảy tháng hoạch định và huấn luyện bởi nhóm giải cứu trước cuộc đột kích, không người nào can dự đã cố gắng chứng thực rằng liệu các tù nhân chiến tranh vẫn còn ở đó hay không.  Tại sao các nhân viên lại không đặt ra một câu hỏi căn bản như thế? Việc hoạch định và huấn luyện vẫn tiếp diễn, gần như thể công tác đã có một động lực của riêng nó bất kể những gì có thể thực sự là tình hình tại Sơn Tây. 12
An ninh chung quanh công tác Sơn Tây chắc chắn là cần thiết, nhưng đã có quá nhiều sự phân cách chăng?  Các phân tích viên ở cả tổng hành dinh của NSA lẫn tại các địa điểm tại chỗ là những kẻ đang nghiên cứu hệ thống phòng không Bắc Việt và tìm kiếm bằng chứng về sự hay biết trước không hề được nói cho biết bản chất đích thực của công tác cho đến khi nó được tiến hành.  Phi hành đoàn từ Phi Đội An Ninh (Security Squadron: SS) 6990 bay các phi vụ của Combat Apple trong cuộc hành quân chỉ hay biết phạm vi thực sự của các nhiệm vụ của họ khi họ đang trên không.  Làm sao các phân tích viên lại có thể tìm kiếm các tin tức nếu họ không biết về những gì họ đang tìm kiếm?
Điều không rõ ràng rằng các tin tức về vị trí các tù binh đã được cung ứng tại SIGINT.  Các kết quả có thể khác biệt nếu các phân tích viên hay biết được mục đích đích thực công việc của họ.  Nếu có ít sự phân cách hơn, có lẽ câu hỏi rằng liệu các tù binh vẫn còn ở Sơn Tây sẽ được nêu lên.  Các phân tích viên phải luôn luôn hỏi các câu hỏi khó khăn.
Câu hỏi là liệu phía Bắc Việt có được báo hiệu về công tác Sơn Tây hay không đáng được khảo sát thêm.  Tôi muốn phủ nhận hai sự tuyên bố về sự hay biết trước bởi phía Bắc Việt hàm ý đến từ các nguồn tin SIGINT.  Sự tuyên bố đầu tiên xảy ra trong năm 1971 trong một bài viết trong số Tháng Một của tờ Human Events, một tạp chí chính trị.  Bài viết, nhan đề “Bắc Việt Đã Được Thông Báo Về Cuộc Đột Kích Của Hoa Kỳ Vào Trại Giam POW?”, tuyên bố rằng Cơ Quan NSA có nghe trộm được một sự cảnh cáo từ Bắc Việt cho thấy sự hay biết trước về cuộc đột kích Sơn Tây. 13 Cơ Quan NSA có đưa ra một tường thuật từ Bắc Việt cảnh cáo về hoạt động của địch hôm 29 Tháng Mười, hai mươi mốt ngày trước chuyến công tác Sơn Tây.  Tin điện, được truyền đi hôm 23 Tháng Mười, cảnh cáo về hoạt động của địch dọc theo Đường Mòn Hồ Chí Minh, trong suốt mùa khô.  Không có sự đề cập nào đến Sơn Tây hay ngay cả các tù binh chiến tranh.  Trung Đoàn Công Binh số 1 Bắc Việt, hoạt động tại Lào, đưa ra các chỉ thị cho các đơn vị phụ thuộc phải tăng cường an ninh dọc theo chiều dài của Đường Mòn Hồ Chí Minh.  Các công nhân được nói cần cảnh giác “các kẻ lạ đáng nghi ngờ”.  Họ cũng được chỉ thị “tăng cường sự ngụy trạng bảo vệ của mình …cung cố công sự và các địa điểm đóng quân … và chuẩn bị nhiều vị trí lưu động để cất giấu xe cộ”. 14
Đại diện NSA tại Nhóm Đặc Nhiệm có hay biết về báo cáo ngày 29 Tháng Mười, nhưng đã không có lý do để bị hoảng sợ bởi nó.  Phía Bắc Việt đang sử dụng Đường Mòn Hồ Chí Minh, từ Bắc Việt xuyên qua vùng cán chảo của Lào xuống Nam Việt Nam, để tiếp tế cho các binh sĩ của nó tại Nam Việt Nam từ 1959.  Câu chuyện của tờ Human Events không có giá trị gì.
Mười hai năm sau trận đột kích Sơn Tây, tờ Washington Post có đăng tải một bài viết của Jack Anderson tuyên bố rằng các viên chức Ngũ Giác Đài có hay biết rằng trại giam bị bỏ trống nhưng vẫn cứ tiến hành cuộc đột kích bất luận ra sao.  Theo bài viết ngày 12 Tháng Hai này, Ngũ Giác Đài đã tiến hành cuộc đột kích “để tạo ấn tượng nơi phía Bắc Việt về sự khả dĩ bị xâm kích của họ”.  Nguồn tin của Anderson là hai cá nhân từ Phi Đội 6990 SS, các người tuyên bố rằng họ đã cảnh báo Cơ Quan NSA rằng trại giam trống không.  Các người này tuyên bố rằng một tá máy bay vận tải Ilyushin đã chở các tù bình đi từ phi trường Sơn Tây. 15
Sự tuyên bố của Anderson thì không xác thực bởi vài lý do.  Trước tiên, như đã đề cập trước đây, bởi có sự quan tâm an ninh, rất ít phân tích viên tình báo hay biết rằng cuộc đột kích sắp xảy ra.  Chỉ có nhân viên giám sát công tác trên không và sĩ quan chỉ huy của Phi Đội 6990SS là hay biết về cuộc đột kích trước khi nó diễn ra.  Thứ nhì, bởi trại giam Sơn Tây tọa lạc gần một phi trường, các chuyến bay của Ilyushin-18 trong khu vực không phải bất thường.  Hơn nữa, tại sao phía Bắc Việt lại sử dụng các máy bay để chuyên chở các tù nhân trên một khoảng cách có mười dặm? Các tù binh chiến tranh POW đã được vận chuyển bằng các xe tải từ Sơn Tây trong Tháng Bảy, 1970, như một phần của một sự củng cố tổng quát các trại giam POW của Bắc Việt. 16
Điều nghịch lý của vụ đột kích Sơn Tây vẫn còn lại; tình báo Hoa Kỳ biết nhiều về các năng lực của địch, nhưng đã không chứng thực rằng các tù binh đã được di chuyển đến trại giam khác.  Cuộc giải phẫu là một sự thành công, nhưng bệnh nhân đã từ trần./-
_____
Bài viết này dựa trên các tài liệu được giải mật gần đây bởi Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (National Security Agency).  Các quan điểm là của tác giả và không nhất thiết phản ảnh các quan điểm của Cơ Quan NSA hay Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.  Danh tính của một số cá nhân nào đó không thể được xác định cụ thể bởi còn được giữ bí mật.
CHÚ THÍCH

  1. Leroy J. Manor, “Sơn Tây”, Air Operation Review, Tháng Mười Một 1971, 1-2.
  2. James S. Olson và Randy Roberts, Where the Domino Fell: America and Vietnam 1945-1990 (New York, 1991), 217.
  3. Cùng nơi dẫn trên, 220-30.
  4. Leroy J. Manor, “JCS Joint Contingency Task Group Report on the Sơn Tây Prisoner of War Rescue Attempt Operation”, không ghi niên kỳ, 10-15, Center for Cryptologic History, NSA.
  5. John E. Kennedy, “Cryptologic Support to the U.S. Operation to Extract American Prisoners of War From Sơn Tây North Vietnam”, 26 Tháng Mười Một, 1970, cùng nơi dẫn trên.
  6. John R. Jameson, phỏng vấn với Rob Farley, 27 Tháng Năm, 1980, Oral History 1980-22, cùng nơi dẫn trên.
  7. Cùng nơi dẫn trên.
  8. Robert Hanyok, Spartans in Darkness: American SIGINT and the Indochina War (Fort Meade, MD.: Center for Cryptologic History, 2002), chương 5: “Xerxes’ Arrows: SIGINT Support to the Air War, 1964-1972”.
  9. Milton Zaslow, phỏng vấn bởi Charles Baker, Guy Vanderpool, và Tom Johnson, 14 Tháng Chín, 1993, Oral History 1993-17, Center for Cryptologic History, NSA.
  10. Kennedy, “Cryptologic Support” 
  11. Benjamin F. Schemmer, The Raid (New York, 1976), 1-7.
  12. Hanyok, Chương 6.
  13. Paul Scott, “Were the North Vietnamese Informed About U.S. Raid on POW Camp?”, Human Events, 9 Tháng Một 1971.
  14.  “North Vietnamese …. NVA 1st Engineer Regiment Subordinate to Binh Trạm 217 Operating in Laos Gives Instruction, 12 Tháng Mười, 1970”, Center for Cryptologic History, NSA.
  15. Jack Anderson, “Reports on Raid of POW Camp Ruffles Admiral”, Washington Post, 12 Tháng Hai, 1982.
  16. Hanyok, Chương 6.
_____
Nguồn: Sharon A. Maneki, The Son Tay Raid: An Intelligence Paradox, The Journal of American-East Asian Relations, Vol. 10, Nos. 3-4 (Fall-Winter 2001), các trang 211-219

Thursday, January 3, 2019

MẶT TRẬN GƯƠM THIÊNG ÁI QUỐC


image052
Lâm Lễ Trinh
Drive them crazy with Psywar.
(William Colby)
            Cuối năm 1962, William Colby, trưởng lưới CIA tại Sàigòn, về Hoa Thịnh Đốn phụ trách Nha Giám Đốc Kế hoạch CIA Vùng Đông Á. Tổng thống Kennedy ra lệnh một mặt, điều nghiên lại các họat động bí mật thất bại của cơ quan này ở Bắc Việt và mặt khác, "gấp tạo bất ổn trên đất địch như địch đang làm ở Miền Nam". 
 Nhận thức CSVN - cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác - nơm nớp lo sợ nội loạn, gián điệp và phá họai, Colby chủ trương cần "làm họ điên đầu bằng cách leo thang tâm lý chiến,". 
 Thời Chiến tranh lạnh, tâm lý chiến gồm có lãnh vực tuyên truyền (radio, truyền đơn, truyền hình, báo chí...) và những kỹ thuật khác thuộc khoa tâm lý (dựng ra những mặt trân hay tổ chức đối kháng giả tạo...). Colby chọn Herb Weisshart, từng phụ tá cho ông ở Sàigòn và làm việc trước đây trong vùng Đông Bắc Á châu, thay mặt CIA trong chiến dịch nàỵ Chủ đích của tân chiến dịch là gì? "Buộc Bắc Việt xoay về bảo vệ hậu cần hơn là dồn nổ lực viễn chinh ở Miền Nam. You couldn’t expect much more, Không còn muốn gì hơn!", Herb Weisshart xác nhận như thế.  
 image053
Năm 1963, theo chương trình chuyển tiếp Switchback, Ngũ Giác Đài thay CIA phụ trách chiến tranh bí mật chống Hà Nội vì "Quân đội có tiền, nhân lực và khí cụ." Herb Weisshart và một số nhân viên CIA được biệt phái về Phái bộ Quân sự HK tại VN, Military Assistance Command Vietnam, hay MACV, để xúc tiến kế họach OP 39 tại cơ quan Nghiên cứu và Thám sát SOG, Studies & Observation Group, do Đại tá Clyde Russell. chỉ huỵ cho đến ngày chấm dứt vào tháng 11.1968, dưới thời Tổng thống Lyndon Johnson, kế hoạch OP 39., (còn được mệnh danh, Chương trình dương đông kích tây, Diversionary Program) đã thực hiện một số công tác khá độc đáo về chiến tranh tâm lý chống Bắc Việt. 
 Căn cứ vào hồ sơ vừa giải mật của Ngũ Giác Đài, quyển sách "The Secret War Against Hànội" của Richard H. Shultz, Jr., giáo sư chính trị học tại Fletcher School of Law and Diplomacy, đã phân tích khá tinh vi những công tác ấỵ Mặt trận Gươm Thiêng Ái Quốc, Sacred Sword of the Patriots League. 
Một trong những mục tiêu phức tạp nhất của kế hoạch OP 39 là thử cấy trong tâm trí người dân Miền Bắc ý niệm một tổ chức chống cộng, Về tình báo, tổ chức này cần dựa vào một sự tích khả tin. Weisshart đã phỏng vấn nhiều người Việt và nhờ họ, được biết chuyện "kiếm thần" của vua Lê Lợi. 
 Năm 1406, vua Minh xua quân Tàu xâm chiếm và đô hộ VN một cách dã man khiến Lê Lợi, một chủ trại giàu có, khởi nghĩa tại Thanh Hóa. Lê Lợi nhờ có những sáng kiến tuyệt vời về chính trị, tâm lý lẫn quân sự để tạo chính nghĩa và thu hút sự ủng hộ của toàn dân. Sử chép rằng ngài dùng một bút nhọn thấm mỡ súc vật viết "Lê Lợi là vì vua" trên các lá cây trong rừng. Khi kiến ăn hết mỡ, câu này lộ ra, dân chúng cho rằng đây là điềm Trời. Họ tung hô Lê Lợi và ào ạt tham gia kháng chiến. 
 Vì thế địch quá mạnh, Lê Lợi phải rút vào vùng núi Hà Tịnh để đánh du kích. Năm 1428, quân Minh đại bại, rút lui, Lê Lợi xưng vương với danh hiệu Lê Thái Tổ và thành lập triều đại nhà Lê, trị vì VN hơn ba thế kỷ. Ngoài công trình dựng nước hiễn hách, vua Lê Lợi còn là đầu đề của một huyền thoại khác. Tục truyền rằng một ngày nọ Ngài du thuyền trên Hổ Lục Thuỷ giữa đế đô Hànội, bổng có kim quy nổi lên mặt nước, vua liền phóng kiếm, kim quy lặn mất mang theo thanh kiếm.. Theo dân chúng truyền tụng, Lê Lợi đã nhận thần kiếm để dẹp giặc và thống nhất sơn hà, nay sứ mạng hoàn tất, kiếm phải trả lại Thượng Đế. 
 Để tưởng nhớ câu chuyện vừa nói, Hồ Lục Thủy được đổi tên thành Hồ Hoàn kiếm, The Lake of the Returned Sword. Dân Việt, già trẻ, đều thuộc nằm lòng sự tích, họ hãnh diện về Lê Lợi, người anh hùng quốc gia điển hình, xuất thân từ cái nôi cách mạng Hà Tịnh, đã dùng du kích đuổi kẻ thù nghìn kiếp Trung hoa ra khỏi xứ. 
 Đảng CS cũng kính nể nhưng xếp Lê Lợi sau "Bác" Hồ! 
 SOG chọn cốt chuyện Lê Lợi để đặt tên cho Mặt trận Gươm Thiêng Ái quốc, MTGTAQ, (The Sacred Sword Patriots League, gọi tắt SSPL) vì nghĩ rằng kỷ niệm của vị minh chúa nhà Lê có đủ hấp lực để phát động một phong trào bí mật chống cộng sản vong quốc và thu hút quần chúng Bắc Việt vẫn câm thù vụ cải cách ruộng đất đẫm máu từ 1953 đến 1956, theo lệnh của Bắc Kinh. 
 SOG sắp xếp lớp lang chi tiết để tạo tính cách khả tin cho tổ chức giả tưởng vừa nói: "Trong phiên Đại hội vào tháng chạp 1961, Mặt Trận đồng thanh bầu Lê Hưng Quốc - nhân vật ma -làm Chủ tịch; Mặt trận ra Tuyên ngôn chống sự can thiệp của tất cả ngoại bang vào nội tình VN và yêu cầu mọi lực lưọng võ trang, cố vấn và ảnh hưởng của các nước ngoài phải rút khỏi hai Miền Nam, Bắc; đặc biệt, Tuyên ngôn đả kích nhóm lãnh đạo Hànội làm tay sai cho Trung cộng, tái diễn trò nô lệ của thời xưa và đẩy đất nước vào thế nạn nhân trong cuộc tranh chấp Mỹ- Hoa.
 Kết thúc MTGT kêu gọi Hànội thay đổi gấp chính sách" Về mặt tuyên truyền, MTGT rêu rao không ngừng phát triển mạnh trong lãnh vực chính trị lẫn quân sự, đã cho thành lập nhiều tổ ở khắp nơi và năm 1965, có 10,000 đảng viên, trong đó 1,600 được võ trang. Chứng minh thư có đóng dấu triện "MTGTAQ Xứ Ủy Nam Bộ", do Uûy viên Thường vụ Lê Hùng Cường ký tên, được phát cho một số "cán bộ quân sự nồng cốt... sinh họat với các Tổ Tỉnh trên toàn xứ". 
 Tiến thêm một bước, vào tháng tư 1965, Đài Tiếng nóí của Mặt Trận, Voice of the Secret Sword of the Patriots League,VOSSPL, tự xưng đặt trên vùng núi Hà Tịnh, phát thanh thường xuyên về phiá Bắc Việt. SOG thuê một số phi công gốc Đài loan (từng côïng tác với CIA trong thập niên 50) dùng phi cơ không mang dấu hiệu rải truyền đơn ban đêm trên vĩ tuyến 17. Truyền đơn tung tin có khu giải phóng "dưới vĩ tuyến 19".
image056
            Để bên kia chiến tuyến tin MTGTAQ là một thực thể, kế hoạch OP 39 tổ chức quy mô - như trong phim giả tưởng Hollywood - một vùng tự do, liberated zone. Thiên Đàng đảo, Paradise Island. Làm thế nào cơ quan SOG có thể lập một khu giải phóng cho MTGT khi Hoa Thịnh Đốn từ chối cho phép giữa năm 1963 kế hoạch OPLAN 34A gài du kích vào Bắc Việt? OP 39 giải quyết trở ngại bằng cách chọn dưới vĩ tuyến 17, ngoài khơi Đà nẳng, Cù lao Chàm (được Mỹ đặt tên Paradise Island) và xây cất tại đây những làng giống hệt ngoài Bắc để cài giáo số ngư phủ gốc Bắc bị các thuyền mang cờ MTGT bắt được trong lãnh hải Bắc Việt kể từ tháng 5.1964.  
 Những thuyền này cất dấu tại Đànẳng, làm bằng cây để tránh bị radar địch phát hiện và được điều động bởi nhóm thủy thủ Việt hoá trang. Khi sa vào lưới của SOG, các ngư phủ bị bịt mắt và đưa về đảo. Họ ở đây ba tuần, tiếp xúc với dân làng toàn nói giọng Bắc (để họ có cảm tưởng sống trong một vùng giải phóng ở BV), được cho ăn uống no đủ, săn sóc sức khoẻ chu đáo và, đồng thời, được cung cấp tin tức về tình trạng tham nhũng, hủ hoá và bè phái trong giới lãnh đạo CS. 
Trước ngày bị bịt mắt lại để đưa trở về nguyên quán cũng bằng đường biển, mỗi ngư phủ nhận được một ra dô pin, đã gài sẵn băng tầng Đài Tiếng Nói MTGT, và vài món quà thực dụng như xà phòng, quần aó v.v... Họ được chỉ dẫn cách liên lạc bí mật với những tổ bạn hoạt động tại địa phương.   
image057
Năm 1966, có 353 dân BV được "huấn luyện" tại Thiên Đàng đảo. Từ 1964 cho đến 1968, tổng số lên đến 1.003. Để Hànội đừng khám phá ra mặt thật của kế hoạch, OP 39 áp dụng một số phương pháp khác, với sự đồng ý của Hoa Thịnh Đốn. Thí dụ: Một Toà án MTGT tuyên xử tử hình, vì tội phản quốc, các người bị bắt trong những trận đụng độ giữa thuyền bè Bắc Việt và Mặt trận nhưng sau đó, họ được Măt trận ân xá và cho học tập. Trước ngày hồi hương, họ tuyên thệ trung thành với MT. Một số nhận làm gián điệp và đưa tin. Nếu họ quyết định đào ngũ và rời vĩnh viễn BV thì họ được định cư trong Nam.  
 image058
Hoa Thịnh Đốn, mặt khác, bác bỏ một số dề nghị "quá khích" của OP 39 như dùng Đài phát thanh của MTGT cổ võ nổi lọan ở BV và ám sát vài lãnh tụ CS. Đầu năm 1968, Bộ Tư lệnh MACV đưa ý kiến MTGT nên chuyển qua giai đọan tổ chức đánh phá thật sự CS trên phần đất của họ, Toà Bạch ốc cũng không chịu vì bốn lý do: hoạt động bí mật phải phản ảnh chính sách công khai; không thể để tình thế vuột khỏi tầm tay kiểm soát; bị khiêu khích, Hànội sẽ tăng cường mức độ xâm lăng Miền Nam; và Trung cộng không ngồi yên trước cảnh đàn em BV tan rã.
 Chiến dịch tấn công bằng truyền thanh, truyền đơn và tặng phẩm.  

image060
Ngoài đài Tiếng Nói của MTGT, kế hoạch OP 39 còn xử dụng một số phương tiện truyền thông cho nhiều mục tiêu riêng biệt. Một trong các chủ đích là báo cho dân chúng trên vĩ tuyến 17 biết - để gây hoang mang - có hoạt động chống chính phủ Hànội tại BV. Bằng kỹ thuật đánh lừa mệnh danh snuggling, một đài phát thanh được đặt sát cạnh Đài radio CS Hànội, cùng chung một tầng số và mang cùng một tên, để khuấy phá.  

image061
Tháng 5.1965, Toà Bạch ốc cho thành lập cơ quan JUSPAO, Joint US Public Affairs Office, do Barry Zorthian chỉ huy, để phối hợp tất cả các công tác tâm lý chiến, dân sự và quân sự, kể luôn công tác mật tại BV và dài theo đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và Miên. Juspao điều hành đài rađô Tiếng Nói Tự Do, Voice of Freedom (VOF) phát thanh 75 giờ mỗi tuần bằng 5 ngôn ngữ, chuyên đả phá Radio Hànội và đưa vào BV tin tức của thế giới tự do, tin chiến trường xác thực, chương trình văn hoá và giải trí, bình luận so sánh đời sống hai miền Nam, Bắc…
 Hệ thống tuyên truyền SOG gồm có Radio Red Flag, mệnh danh là tiếng nói của nhóm chống đối trong đảng CS Bắc Việt. Đài này không gay gắt với Nga sô nhưng chỉ trích mạnh Chính trị bộ ngã theo Bắc kinh đem lại đau khổ và chết chóc cho dân tộc. Ra dô Hồng Kỳ, đặt ở ngoại ô Sàigòn, xử dụng một số cán bộ hồi chánh Việt và kỹ sư Phi Luật Tân. CIA điều hành từ Miền Nam đài phát thanh riêng mang tên Sao Đỏ, Red Star Radio, chủ trương đặc biệt tố cáo Mặt trận Giải phóng Miền Nam là công cụ của CS Bắc Việt. 
 Khẩu hiệu của đài là "Miền Nam của dân Nam". Đài Ra dô Hànội giả áp dụng kỹ thuật điện tử ghosting để phá những buổi phát thanh của địch và thay thế vào đó những tin tức hay chỉ thị trái ngược. Qua chiến dịch Peanuts, nhiều chục nghìn chiếc máy ra dô pin tí hon Nhựt, với tầng số xếp sẵn, được thả dù ban đêm bên kia vĩ tuyến hay đưa vào bằng đường biển, chung với truyền đơn và những gói tặng phẩm đựng viết, đèn cầy, sách..vv..  
Nhiều bức thơ giả mạo được viết và gởi từ Paris, Hongkong, Tokyo, Bangkok... về địa chỉ của một số cán bộ cao và trung cấp CS ở Hànội bịa ra những mối liên lạc mật hay chỉ trích Trung ương Đảng. Cơ quan kiễm duyệt gắt gao của BV có thể sa vào bẩy. Các cán bộ CS hồi chánh ở Miền Nam cũng được khuyến khích viết thơ cho thân nhân trên vĩ tuyến 17 đề cao đời sống ở Miền Nam. 
 Chương trình Soap Chips chuyên lo việc gắn vào xác của chiến binh BV thơ trối trăn (giả) của họ gởi về gia đình, mô tả cảnh sống cơ cực trong Quân đội Nhân dân và thái độ cư xử hống hách của cố vấn Tàu cộng. OP 39 cũng có chương trình Eldest Son mua lại từ quốc gia đệ tam loại súng AK-47 và súng cối 82 ly do Trung cộng chế tạo, để tháo gở ra, gài vào bên trong chất nổ, xong ráp lại để thả dù tại vùng CS ở Lào và Miên. Những võ khí này gây thiệt hại cho dối phương không ít. Trước khi qua đời vào năm 1969, Hồ Chí Minh có lệ hằng năm gởi thơ chúc Tết cán bộ tại ngũ.  
Quần chúng mỏi mệt và oán ghét Bắc kinh vì chiến cuộc kéo dài. Mùa Xuân 1971, OP 39 cho in và phổ biến ở Lào, Miên và Miền Nam 22.000 tấm thiệp ký tên Trường Chinh, nhân vật khét tiếng thân Trung cộng đề cao "trường kỳ kháng chiến nhất định thắng công". Theo sự tiết lộ của Bob Andrews, một chuyên viên Tâm lý chiến, SOG có đề nghị tràn ngập BV bằng giấy bạc giả để làm suy sụp nền kinh tế CS nhưng "thượng cấp" không chấp nhận. 
 

Thẩm lượng kế họach OP 39. Lý do thất bại:
image062
Hoa kỳ đã đầu tư rất nhiều tiền, sáng kiến và kỹ thuật vào tâm lý chiến chống Hànội. Tuy nhiên, phần kết trong phúc trình thẩm lượng tháng hai 1968 của nhóm MACV Ad Hoc Evaluation Group, do Thiếu tướng AR. Brownfield,Jr. chủ tọa, cho biết " Chương trình SOG không rõ ràng và quá rộng, not clear and too broad." Ba Đại tá chỉ huy liên tiếp SOG là Clyde Russel, Don Balckburn và Jack Singlaub cũng thú nhận kế hoạch OP 39 không đem lại kết quả mong muốn. Nếu đào sâu, sẽ thấy nhiều lý do:
 1 - Thiếu mục tiêu chiến lược, Lack of strategic purpose. Đúng vậy, Hoa Thịnh Đốn không cho phép SOG tổ chức một phong trào chống đối thật sự trên vĩ tuyến 17 hay khuyến khích dân chúng BV hành động. Năm 1956, vì Ngoại trưởng John Foster Dulles chống đối, HK đã bỏ qua cơ hội tổ chức dấy lọan để lật đổ CS Bắc Việt. Chủ trương của Tổng thống Kennedy năm 1961 tạo bất ổn ở Miền Bắc để trả đũa cũng lần hồi xuống giọng. Năm 1963, William Colby đề nghị áp dụng "bài học Hung gia Lợi" ở BV nhưng không được chấp nhận vì sợ Bắc kinh phản ứng. Chính sách "vừa đánh, vừa thủ" của HK làm cho Bob Andrews, một trong chuyên gia điều khiển OP 39, than trách: Think small, don’t think big, because if you think big, you’ll never get it done."
 2 - Thiếu sự phối trí và bổ sung, lack of coordinated planning and integration, giũa các phần bộ của kế hoạch OP 39 bị chia cách quá đáng, viện lẽ cần tích cực bảo mật. Không có một kế hoạch đầu não não, không ai trong OP 39 thật sự hiểu kế hoạch sẽ dẫøn đến đâu.
 3 - Nhân sự không có đủ kinh nghiệm về tâm lý chiến và không thông hiểu văn hoá Việt Nam. Quân nhân Mỹ và nhân viên CIA biệt phái qua kế hoạch OP 39 không được huấn luyện thích hơp để thi hành công tác đúng đắn. 
4 - Thẩm lượng không chính xác ảnh hưởng của những cuộc hành quân tâm lý chiến đối với mục tiêu Bắc Việt. 
Trong kế hoạch OP 39, Phòng Sưu tầm và Phân tích, Research & Analysis, có trách nhiệm thu thập, đối chiếu và giải thích tin tức từ Miên Bắc để một mặt, tìm ra các yếu điểm tâm lý của phe địch và mặt khác, ấn định hiệu quả của việc áp dụng kế hoạch.  
Mục đích thứ hai không hề thực hiện được. Bill Rydell, nguời điều khiển chót OP 39, cho rằng sự thẩm lượng này không dễ trong một chế dộ công an trị sau bức Màn sắt. Ít khi đối phương chịu tiết lộ hiệu quả thật sự hay phản đối công khai.
 Bắc Việt chống trả mãnh liệt.  
Vì bị gián điệp ám ảnh thường xuyên và lo ngại HK tấn công bằng chiến tranh tâm lý nên CS đề phòng bằng nhiều phương thức gắt gao như cho báo giới liên tục kêu gọi dân chúng cảnh tỉnh, siết chặt mạng lưới công an khắp nới, phổ biến sâu rộng tài liệu "Chỉ dẫn và Biên pháp" và ban hành luật phạt tối đa (tử hình, khổ sai) những hành động "phản quốc, phá rối trật tự." 
 Đặc biệt, từ 1965 đến 1967, CS tạo trong xứ một bầu không khí căng thẳng tối đa ố hơn cả tình trạng bị xâm nhập thật sự - để thức tỉnh dân về chiến dịch bí mật của Mỹ. Tháng sáu 1967, hai tờ báo Học Tập và Nhân Dân công khai tố Mặt trận Gươm Thiêng Ái quốc là một tổ chức ma và cấm nhặt quần chúng lén nghe các "đài phát thanh lậu", đọc truyền đơn và nhận các góí tặng phẩm từ bên ngoài. Tuy nhiên có một điều mà Hànội không biết rõ là Hoa Thịnh Đốn không đồng ý cho lật đổ chính phủ CS bằng võ lực.
 Đầu tháng 11.1968, Tổng thống Lyndon Johnson ra lệnh chấm dứt hai kế hoạch OP 39 và OP 34 vì Bắc Việt chiụ bắt đầu nói chuyện hoà bình. 
image063
 Ngũ Giác Đài đợi nhiều thập niên mới bạch hoá hồ sơ chiến tranh bất quy ước chống Hànội sau khi thua cuộc chiến quy ước năm 1975. Đây là một bài học đắt giá khác cho Hoa kỳ bị đánh bại lần đầu tiên từ ngày lập quốc.
 Trong bao nhiêu tính toán sai lầm, ít nữa có một điều mà trùm CIA William Colby đự đoán không trật: Tâm lý chiến đã làm Cộng sản thật sự "phát điên" vì tạo cho họ một cuộc sống ngày đêm hoảng hốt. Cuộc chiến bằng trí óc này đáng lý đem lại kết quả khá hơn nếu thượng tầng lãnh đạo Hoa kỳ quyết tâm đánh để thắng và thông suốt tâm lý Á châu./ 
 

Lâm Lễ Trinh

Tuesday, December 18, 2018

SS7 LÀ GÌ TẠI SAO NÓ CÓ THỂ NGHE TRỘM iPHONE CỦA TỔNG THỐNG MỸ DONALD TRUMP

Hệ thống SS7 này đang là nơi kết nối các nhà mạng viễn thông toàn cầu lại với nhau, và đáng buồn thay, các lỗ hổng tồn tại trong nó hơn 20 năm nay có thể bị lợi dụng để nghe trộm bất kỳ ai.
Vừa qua, một báo cáo trên tờ New York Times cho biết tổng thống Mỹ, Donald Trump thường sử dụng một chiếc iPhone cá nhân, không được chỉnh sửa bảo mật để liên lạc với bạn bè, cũng như 2 iPhone khác đã được NSA chỉnh sửa bảo mật.
Theo báo cáo của Times, các quan chức giấu tên trong Tòa Bạch Ốc cho biết, ông Trump đã nhiều lần được cảnh báo về việc các cuộc gọi trên thiết bị của ông không bảo mật và rằng “các gián điệp Trung Quốc thường xuyên nghe trộm chúng.”
Năm ngoái, Bộ An ninh Nội địa Mỹ phát hiện ra rằng các thiết bị di động tạo ra một điểm yếu nghiêm trọng trong bảo mật thông tin của các nhân viên chính phủ. Đặc biệt, báo cáo đã xem SS7 (Signaling System 7), một giao thức được các công ty viễn thông sử dụng để phối hợp cách họ định tuyến dữ liệu smartphone và cuộc gọi trên toàn thế giới, như một mối đe dọa tiềm tàng.
Cho dù báo cáo trên tờ Times không cho biết về cơ chế nghe trộm các cuộc gọi của ông Trump, nhưng có lý do mạnh mẽ để tin rằng, nó có liên quan đến SS7, vốn từng được sử dụng nhiều lần để do thám người Mỹ và các quan chức chính phủ ở nước ngoài trong quá khứ.
Vậy SS7 là gì?
Năm 1980, Liên minh Viễn thông Quốc tế ITU đã lập nên hệ thống Signaling System 7 như giao thức quốc tế chuẩn cho tín hiệu điện thoại. Signaling (phát tín hiệu) là thuật ngữ kỹ thuật cho việc đưa thông tin tới mạng lưới để định tuyến cuộc gọi đó, ví dụ việc quay số điện thoại là một cách phát tín hiệu. Khi SS7 được chấp thuận như giao thức chuẩn cho việc định tuyến cuộc gọi điện thoại, nó đánh dấu một cuộc cách mạng trong việc gọi điện.


                   Các điểm trao đổi thông tin tín hiệu trên giao thức SS7.
Trước SS7, thông tin tín hiệu được gửi đi trên cùng kênh với cuộc gọi đó: người dùng quay một số nào đó (phát tín hiệu) và nói chuyện với nhau trên cùng một kênh dây dẫn. Trong khi đó, SS7 thiết lập nên các kênh riêng biệt cho phát tín hiệu và cuộc gọi thực. Điều này không chỉ làm tăng đáng kể tốc độ truyền tải dữ liệu, mà còn cho phép phát tín hiệu ở bất kỳ điểm nào trong khi gọi, thay vì phải thực hiện từ đầu cuộc gọi, giúp cải thiện chất lượng và độ ổn định của cuộc gọi.
Nhưng vào thời đại mới, việc bẻ khóa giao thức SS7 đã bắt đầu xuất hiện. Vấn đề chính với mạng SS7 là nó xem mọi thông tin được gửi qua mạng lưới là hợp lệ. Vì vậy, nếu kẻ xấu giành được quyền truy cập vào mạng lưới, chúng có thể lợi dụng sự tin tưởng của hệ thống để thao túng hoặc can thiệp vào thông tin tín hiệu được gửi đi.
Năm 1999, 3GPP (Third Generation Partnership Project), tổ chức chuẩn hóa các công nghệ mạng viễn thông, đã phát đi cảnh báo về các lỗ hổng trong SS7.
“Vấn đề với hệ thống SS7 hiện tại là các tin nhắn có thể bị thay đổi, bị đưa thêm vào hoặc bị xóa bỏ theo cách không kiểm soát được trong mạng lưới SS7 toàn cầu.” Tổ chức 3GPP cũng nhấn mạnh, trong quá khứ các tín hiệu SS7 được định hướng giữa một số lượng “tương đối nhỏ” các nhà mạng viễn thông, giúp việc kiểm soát truy cập tới kênh này trở nên khả thi hơn.
Những nhà thiết kế SS7 không lường trước được sự tăng trưởng bùng nổ của internet và di động, làm dẫn tới sự xuất hiện tràn lan các nhà mạng nhỏ để kết nối tới trụ cột cho mạng lưới viễn thông này.
Thay vì chỉ có một vài công ty và tổ chức viễn thông lớn để canh gác cẩn thận các lối vào SS7 của mình, giờ đây khi có đến hàng chục nghìn lối vào dành cho các nhà mạng, trong đó có những tổ chức với khả năng bảo mật nghèo nàn. Điều này gây ra rủi ro cho toàn bộ hệ thống.
Tổ chức 3GPP kết luận trong báo cáo của mình: “Khi không có biện pháp bảo mật tương xứng nào trong SS7. Các nhà mạng di động cần tự bảo vệ bản thân khỏi các cuộc tấn công của hacker và các hành động thiếu thận trọng có thể làm mạng lưới hoạt động sai hoặc dừng hoạt động.”
Các hacker và gián điệp có thể lợi dụng SS7 để làm gì?
Cho dù các vấn đề bảo mật đối với SS7 đã được phát hiện lần đầu tiên từ hơn hai thập kỷ trước, có rất ít nỗ lực để sửa lại chúng. Trên thực tế, ngành công nghiệp viễn thông đã làm mọi thứ có thể để tránh phải giải quyết các lỗ hổng của SS7, bất chấp thực tế rằng hệ thống này đã mở rộng sang giám sát mức độ sử dụng các cột thu phát sóng để thực hiện chuyển vùng khi người dùng ra khỏi mạng lưới của nhà cung cấp tín hiệu di động.
Theo một bài viết trên Wired, nguyên nhân khiến các ngành công nghiệp viễn thông không sửa chữa các lỗ hổng của SS7 là bởi nhiều nhà vận hành mạng “giả định rằng các rủi ro đó chỉ là lý thuyết.” Trên thực tế, theo báo cáo của 3GPP, cho đến năm 2000, vẫn chưa có cuộc tấn công có chủ đích nào nhắm vào SS7.
Thế nhưng đến 2008, tại hội nghị hacker Chaos Communication Conference ở Đức, nhà nghiên cứu bảo mật Tobias Engel trình diễn khả năng định vị điện thoại di động của một cá nhân với SS7. Trong năm 2014, ông thực hiện một màn trình diễn khác, cho thấy SS7 có thể bị lợi dụng để định vị, theo dõi và thao túng cuộc gọi của người dùng di động. Và Engel cũng nhấn mạnh rằng, nó rất dễ thực hiện.
Cùng năm đó, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, Victoria Nuland đã bị ghi âm trong cuộc gọi với Đại sứ Mỹ tại Ukraina. Trong báo cáo của nhà mạng viễn thông Ukraina, cuộc gọi diễn ra trên mạng viễn thông thông thường và đã bị can thiệp để điều hướng sang một đường dây điện thoại ở St. Petersburg, Nga. Cho dù không có gì khẳng định lỗ hổng SS7 đã bị sử dụng để can thiệp vào cuộc gọi, nhưng các chi tiết của nó cho thấy khả năng cao là như vậy.
Đến thời điểm này, rõ ràng rủi ro của một cuộc tấn công SS7 không còn là lý thuyết nữa. Nhưng bất chấp thực tế đó, ngành công nghiệp viễn thông vẫn đang trì hoãn việc thực hiện các biện pháp bảo mật cần thiết để giải quyết những lỗ hổng trong SS7.
Liệu có thể sửa các lỗ hổng trong SS7?
Trong chương trình 60 Minutes vào năm 2016, hai hacker người Đức đã trình diễn việc tấn công SS7 bằng cách nghe trộm cuộc gọi của Nghị sĩ Ted Lieu trên một chiếc iPhone (đã được ông cho phép). Hơn nữa họ còn có thể xác định được khách sạn ông Lieu đang ở vào đêm trước đó, ngay cả khi ông đã tắt định vị GPS trên điện thoại.
Trước những rủi ro liên quan đến an ninh quốc gia và quyền riêng tư của cá nhân do các lỗ hổng của SS7 gây ra ngày càng rõ rệt, năm 2016 Ủy ban Truyền thông Liên bang FCC của Mỹ đã thành lập một nhóm nghiên cứu vấn đề này và phát hành báo cáo của họ vào đầu 2017.
Theo đó, một giải pháp khả thi là từ bỏ mạng lưới SS7 để chuyển sang một giao thức phát tín hiệu được cập nhật. Một giao thức như vậy là Diameter, được phát triển từ cuối thập niên 90 để xác thực thông tin được gửi đi qua mạng lưới máy tính.
Trong khi FCC thừa nhận, “Diameter có các khả năng nhất định để làm nó khó bị tấn công hơn,” nhưng không thể bỏ qua thực tế rằng nó “có thể dẫn tới các lỗ hổng mới.” Quả thật, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra cách khai thác Diameter tương tự như trên SS7.
Một giải pháp khác là các nhà mạng viễn thông phát triển một “vòng tròn tin tưởng” (circle of trust), một hệ thống đánh giá mức độ đáng tin cậy của các thông điệp đi tới, dựa trên loại thông tin mà nó mang theo và nơi xuất phát của tin nhắn đó. Cuối cùng, FCC khuyến cáo các nhà mạng viễn thông nên hỗ trợ việc mã hóa cho người dùng của mình.
Khi bạn thực hiện cuộc gọi, cho dù là gọi bằng điện thoại cố định hay di động, nó đều không được mã hóa hai đầu end-to-end. Tín hiệu thường chỉ được mã hóa tại rất nhiều điểm trên hành trình của nó, nhưng nó không được bảo vệ trên phần lớn mạng lưới. Vì vậy, FCC khuyến cáo người dùng di động nên sử dụng các dịch vụ mã hóa thương mại như Signal, WhatsApp hay Tor.
Có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc, liệu mạng lưới SS7 có bị khai thác để nghe trộm ông Trump hay không nhưng chắc chắn, với một chiếc iPhone không được chỉnh sửa bảo mật và sử dụng trên các mạng viễn thông thương mại thông thường, thiết bị này đang tiềm ẩn nguy cơ là mồi ngon cho các hacker hoặc gián điệp trên toàn thế giới.
Theo genk

Tuesday, November 13, 2018

ĐIỆP VIÊN NGA VẪN DÙNG ĐIỆN TÍN TRUYỀN TIN ?

Lãnh đạo của BKA, ông Jorg Ziercke. (ĐVO)

Báo chí Đức dẫn tin từ cơ quan điều tra hình sự liên bang BKA (cơ quan có chức năng phản gián nội địa ở Đức) đưa tin về việc bắt giữ cặp vợ chồng Nga ở Marburg, bị vạch tội làm việc cho cơ quan tình báo.
Theo nguồn tin ở BKA, Haydrun và Andreas (họ của những người bị bắt không được tiết lộ) đã hợp tác với cơ quan tình báo đối ngoại Nga (SVR) hơn 20 năm.
Hai vợ chồng bị bắt quả tang đúng lúc Haydrun nhận điện mật từ Moscow. Cuộc liên lạc điện đài này bị người Đức chặn thu và xác định địa chỉ máy thu. Tình tiết cuối cùng này bị các chuyên gia Nga trong lĩnh vực tình báo và phản gián tiếp nhận một cách nghi ngờ.
Một trong những chỉ huy cũ của KGB (Ủy ban An ninh Quốc gia), ông Vladimir Rubanov nói: “Các phương pháp cổ xưa như vậy không thích hợp với thực tiễn hiện nay”. Thành viên Hội đồng Xã hội, Bộ Quốc phòng, biên tập viên Tạp chí Quốc phòng, ông Igor Korotchenko cũng có cùng quan điểm.
Khi trao đổi với Izvestia, ông này bày tỏ nghi ngờ: “Khó mà tin được là cô ta gõ ma níp để truyền tin. Bây giờ người ta sử dụng công nghệ liên lạc vệ tinh tức thời – bản tin mật được nén thành xung, xung này được bắn lên vệ tinh, sau đó được truyền về Trung tâm. Điện trả lời cũng được truyền đi như vậy”.
Korotchenko giải thích, công nghệ như vậy làm cho việc chặn thu của trinh sát vô tuyến đối phương là không thể thực hiện được. Chuyên gia này nói thêm: “Việc chặn thu và xác định địa chỉ máy thu – đấy là cách như trong phim về Stirlitz (*) và Gestapo, khi ôtô chở máy chặn thu đi vòng vèo qua các phố”.
"Điệp viên đóng hộp"
Cựu giám đốc xí nghiệp bảo vệ Atoll Sergei Sokolov cho rằng thất bại của điệp viên bất hợp pháp chỉ có thể do 2 nguyên nhân.
Ông này nhấn mạnh với báo Izvestia: “Nếu điệp viên bất hợp pháp bị phát hiện, thì hoặc là anh ta tự làm lộ mình, hoặc bị phản bội. Và còn điều này, khi phát hiện ra nhóm điệp viên bất hợp pháp trên lãnh thổ của mình, các cơ quan tình báo phản gián thường cố gắng không làm ầm ĩ, ngược lại, họ cố không gây ra sự chú ý và tuyển mộ những gián điệp đã bị lộ hoạt động cho mình”.
Còn nếu các cơ quan tình báo phản gián lại chia sẻ thông tin với các phương tịên thông tin đại chúng, cung cấp hàng loạt tiểu tiết, kể cả tên những kẻ bị bắt, điều đó chỉ có thể là chúng ta đang biết đến một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi, chứ lợi ích thu được từ việc tuyển mộ lại những điệp viên bất hợp pháp tiềm tàng này là không đáng kể so với hiệu quả của một vụ bê bối gián điệp. Chắc là đôi vợ chồng A. bị bắt ở ở Marburg thuộc loại các điệp viên này.
Một nguồn tin trong giới tình báo đối ngoại nhận định với
Izvestia
: “Ngoài các tổ điệp báo bất hợp pháp đang hoạt động, ở châu âu, chúng ta còn có các “điệp viên đã đóng hộp”. Theo người tiếp chuyện báo Izvestia không muốn xưng danh, những người này đã hoạt động từ thời Liên Xô, vẫn duy trì liên lạc với cơ quan tình báo Nga, nhưng do tuổi cao đã không can dự đến công việc nữa và được sử dụng như những “hộp thư”.
Nguồn tin của chúng tôi nhấn mạnh: “Đây không còn là vấn đề còn hoạt động tình báo nữa. Một điệp viên tốt qua thử thách trở thành như thành viên trong gia đình, không thể bỏ rơi người đó được. Người ta đã có giấy tờ cư trú hợp pháp, đã nghỉ hưu, có gia đình nhưng dẫu sao đôi khi họ vẫn đưa và nhận tin. “Hộp thư” nghĩa là như thế đó. Chúng ta không bỏ rơi họ”.
Gần như chắc chắn, các “điệp viên đóng hộp” như vậy bị cơ quan phản gián các nước tương ứng giám sát chặt chẽ nhưng kín đáo. Vậy thì tại sao phía Đức bây giờ lại quyết định gây ra vụ bê bối gián điệp này, công khai phanh phui các điệp viên xem ra chả gây hại gì.
Nhà chính trị học Đức Alexander Rahr giả định: “Có thể, việc này liên quan đến tương lai trở lại cương vị Tổng thống Nga của Vladimir Putin”. Ông này nói thêm: “Tuy nhiên, bất kể những người tổ chức rò rỉ tin cho các phương tiện thông tin đại chúng theo đuổi những mục đích gì đi nữa, rõ ràng là cho đến nay chưa có được một vụ bê bối đúng nghĩa từ câu chuyện này. Chưa có chính khách Đức nào sử dụng nguy cơ hoạt động gián điệp Nga, ngay các cơ quan tình báo phản gián Đức cũng chưa đưa ra bình luận chính thức nào”.
Ông Igor Korotchenko nhắc nhở, dẫu sao thất bại của tổ điệp báo, dù là đã “đóng hộp” vẫn là đòn đánh tác chiến và đòn đánh nghiêm trọng vào uy tín của các cơ quan tình báo phản gián. Ông này xác nhận: “Lưới điệp báo tiềm tàng từ chối hợp tác, còn những kẻ đã chấp nhận hợp tác, thường lặn xuống và hạn chế hoạt động tối đa để không bị rơi vào tay phản gián”.
Chuyên gia này tin rằng SVR ngày nay phải tập trung tìm ra kẻ phản bội mà nếu không có hắn ta thì các cơ quan tình báo phản gián Đức khó mà có thể phát hiện ra dấu vết các điệp viên Nga bất hợp pháp.
(*) Stirlitz: Tên nhân vật chính trong phim truyền hình nhiều tập của Liên Xô “Mười bảy khoảng khắc của mùa Xuân” nói về chiến sĩ tình báo Xô Viết hoạt động trong hang ổ phát xít Đức đầu năm 1945.