Friday, August 15, 2025
NỮ ĐIỆP VIÊN DO THÁI CÀI TRONG LÒNG ĐỊCH IRAN
Wednesday, August 6, 2025
Saturday, July 26, 2025
QUỐC GIA VIỆT NAM PHẢN ĐỐI HIỆP ĐỊNH GENÈVE 20 THÁNG 07 NĂM 1954
Kỳ 1: Chính phủ Quốc Gia Việt Nam từ 1948 đến tháng Bảy 1954
Lời tòa soạn: Cách đây
70
năm, vào ngày 20 tháng 7, Hội nghị quốc tế về tình hình Đông Dương nhóm
họp tại Genève đã kết thúc sau gần 3 tháng thảo luận. Văn kiện chính
được công bố tại hội nghị này là Hiệp định đình chiến ở Việt Nam với 47
điều chia làm 5 chương. Nội dung chính của Hiệp định là thành lập tại vĩ
tuyến 17 đi qua sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, một giới tuyến quân sự tạm
thời và phân chia đất nước Việt Nam ra hai khu phi chiến ở hai bên giới
tuyến đó: từ phía Nam vĩ tuyến 17 là lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của
chính phủ Quốc Gia Việt Nam (trở thành Việt Nam Cộng Hòa kể từ 26 tháng
10/1955); từ phía Bắc vĩ tuyến 17 trở ra do chính quyền Cộng sản Việt
Nam kiểm soát. Trước khi Hiệp định được ký kết, đại diện cho Chính phủ
Quốc Gia Việt Nam là Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã ra tuyên ngôn phản đối
với những điểm chính được tóm lược như sau: “Việc ký kết hiệp định giữa
Pháp và Việt Minh trong đó có những điều khoản mang nặng những nguy hại
cho tương lai của dân tộc Việt Nam. Việc hiệp định đã nhường cho Việt
Minh những vùng mà Quân đội Quốc Gia còn đóng quân và việc tước mất của
Việt Nam quyền bất khả xâm phạm để tổ chức phòng thủ... Việt Nam long
trọng phản đối việc ký Hiệp định Genève, Chính phủ Quốc gia Việt Nam
hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của dân tộc
Việt Nam trong cuộc thực hiện thống nhất, độc lập và tự do cho xứ sở.”
70
năm đã qua đi, các sử gia chân chính luôn nhận định rằng ngày 20 tháng 7
năm 1954 là ngày Quốc hận của Dân tộc Việt Nam. Trong tình thần tưởng
niệm ngày lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt, Việt Báo trân trọng giới thiệu
đến bạn đọc loạt bài tổng hợp về sự hình thành của chính phủ Quốc Gia
Việt Nam và diễn tiến hiệp định Genève.
* 1948: Chính phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam thành lập
Ngày 2 tháng 6/1948, một đại hội nhân sĩ và đại diện các đảng phái
nhóm họp tại Sài Gòn. Tại hội nghị, sau khi nghe Thủ tướng Nam Kỳ là
Trung tướng Nguyễn Văn Xuân trình bày, và sau khi nghe chiếu thư của
Hoàng đế Bảo Đại, tất cả đã đồng thanh bầu Trung tướng Nguyễn Văn Xuân
làm Thủ tướng lâm thời Quốc gia Việt Nam. Ngày 5 tháng 6, Hoàng đế Bảo
Đại từ Hồng Kông đến vịnh Hạ Long trên một phi cơ đáp trên nước của hãng
hàng không Anh Hồng Kông Calatina, phi cơ hạ cánh trên một chiến hạm
Pháp. Trên chiến hạm này, Hoàng đế đã cùng Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và
đại diện chính phủ Pháp ký Hiệp định Hạ Long. Theo hiệp định, chính phủ
lâm thời không có quyền về ngoại giao, nhưng Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân
nói với ông Tổng thư ký nói rõ một điểm: Nếu cần, chánh phủ Lâm Thời
Trung Ương có thể chỉ định một số đại sứ ở ngoại quốc. Hoàng đế Bảo Đại
đã ở lại Hạ Long một đêm, sau đó đã đi Bangkok, từ Bangkok đổi lấy phi
cơ dân sự để qua Pháp.
* Năm 1949: Quốc trưởng Bảo Đại về nước chấp chánh
Ngày 15-3, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân qua Pháp. Sau mấy ngày tiếp xúc
với các yếu nhân trong chính phủ Pháp, Thủ tướng Xuân đã xuống miền Nam
nước Pháp và yết kiến Hoàng đế Bảo Đại để trình bày tình hình đất nước
và thỉnh cầu Hoàng đế về nước để trực tiếp điều khiển quốc gia. Đầu
tháng 4/1949, Thủ tướng Xuân tổ chức một đại hội với 1,000 đại biểu là
cư dân Nam Kỳ và 700 đại biểu là kiều dân Pháp tại Nam Kỳ, quyết định
xin sát nhập miền đất Nam Kỳ vào nước Việt Nam. Thuộc địa Nam Kỳ được
xóa bỏ ngày 25 tháng 4 năm 1949 do biểu quyết của đại diện các đoàn thể
tôn giáo, chính trị và đồng bào các giới dự họp. Dựa trên quyết định đó,
Quốc hội Pháp chấp thuận hủy bỏ quy chế thuộc địa Nam Kỳ. Tại Pháp,
Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố sẽ về nước vào ngày 28 tháng 4/1949 và chọn Đà
Lạt làm nơi đặt văn phòng thay vì Huế.
Ngày 26 tháng 8/1949, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân cùng phái đoàn chính
phủ lâm thời bay qua Singapore để rước Hoàng đế Bảo Đại về nước. Hoàng
đế muốn được đón tiếp ở Singapore thay vì ở Pháp để tránh tốn kém cho
phái đoàn. Ngày 1 tháng 7/1949, thành phần chính phủ Quốc gia Việt Nam
được chính thức công bố do Quốc trưởng kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng, với
các thành viên: Phó Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng: Trung tướng
Nguyễn Văn Xuân; Tổng trưởng Ngoại giao: Nguyễn Phan Long; Tư pháp:
Nguyễn Khắc Vệ, Kinh tế và kế hoạch: Trần Văn Văn, Nội vụ: Vũ Ngọc Trân;
Tài chánh: Dương Tấn Tài; Ngoại giao: Lê Thăng; Quốc Phòng: Trần Quang
Vinh; Thương mại và Kỹ nghệ: Hoàng Cung; Canh Nông, Xã hội, Lao động:
Phan Khắc Sửu; Công chánh, Giao thông, Kiến thiết: Trần Văn Của; Quốc
gia Giáo dục: Phan Huy Quát; Y tế: Nguyễn Hữu Phiếm; Thông tin: Trần Văn
Tuyên. Thủ hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí. Trung Việt: Phan Văn Giáo, Nam
Việt: Trần Văn Hữu.
* Năm 1950: Pháp công nhận quyền độc lập của Quốc gia Việt Nam
- Ngày 21 tháng 1/1950, Trung tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức Phó Thủ
tướng, nhân dịp này Quốc trưởng Bảo Đại bỏ chức vụ Thủ tướng kiêm nhiệm,
chỉ giữ chức Quốc trưởng, và cử ông Nguyễn Phan Long giữ chức Thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Ngoại giao và Nội vụ. Ông Nguyễn Phan Long giữ chức Thủ
tướng chỉ được hơn 3 tháng thì xin từ chức, Thủ hiến Nam Việt Trần Văn
Hữu được chỉ định giữ chức Thủ tướng kiêm tổng trưởng Ngoại giao và Quốc
phòng.
- Ngày 29/6/1950, Pháp chính thức công nhận Quốc Gia Việt Nam là một
thành viên có chủ quyền trong khối Liên Hiệp Pháp. Sự công nhận này được
công bố theo thỏa ước Pau. Cuối năm 1950, chánh phủ Pháp cử Đai tướng De
Lattre de Tasigny sang Việt Nam với chức vụ Toàn quyền về Quân sự và Dân
sự.
Về ngoại giao, ngày 7 tháng 2/1950, Hoa Kỳ và Anh cùng một số
quốc gia chính thức công nhận và lập bang giao với Quốc Gia Việt Nam.
Riêng Mỹ, tòa đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn do ông Donald
Heath, một nhân vật ngoại giao kỳ cựu làm đại sứ. Ngày 6 tháng 3/1950,
Hoa Kỳ đặt phái bộ quân sự. Ngày 9 tháng 3/1950, ông Achelon, một đặc
sứ của Tổng thống Mỹ Truman đã yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ viện trợ quân sự
cho Việt Nam.
* Năm 1951: Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam; Quốc gia Việt Nam gửi
đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc...
- 16/2: Thủ tướng Trần Văn Hữu trình diện nội các mới sau khi nội
các cũ do ông làm Thủ tướng bị giải tán.
-19/3: Chính phủ Quốc gia Việt Nam phê chuẩn Hiệp định của Hoa Kỳ
gồm 16 triệu Mỹ kim dành cho 3 quốc gia Đông Dương.
- 15/7: Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 12 ban hành quy chế quân dịch.
- 18/12: Quốc gia Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc do
đại diện Pháp tại Liên Hiệp Quốc Chauvel chuyển cho Tổng thư ký Liên
Hiệp Quốc.
* Năm 1952: hai lần thay đổi nội các; Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội
Quốc Gia Việt Nam chính thức thành hình.
-8/3: Thủ tướng Trần Văn Hữu lại cải tổ chính phủ lần nữa, ông kiêm
nhiệm Tổng trưởng Quốc phòng và Tài chánh.
-1/5: Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam chính thức thành
lập sau khi các quân chủng và một số binh chủng, binh đoàn đã được thành
lập từ năm 1950 đến tháng 4/1952. Tổng tham mưu trưởng đầu tiên là Thiếu
tướng Nguyễn Văn Hinh (thăng Trung tướng 1953)
-6/6: Thân phụ của Tướng Nguyễn Văn Hinh là ông Nguyễn Văn Tâm,
nguyên Tổng trưởng bộ Nội vụ của nội các Trần Văn Hữu được Quốc trưởng
Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ tướng, Thủ tướng Tâm vẫn kiêm Tổng trưởng Nội
vụ.
* Năm 1953: Quân đội Quốc gia Việt Nam phát triển; cải tổ chính
phủ.
- 8/1: Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ chính phủ, ông vẫn kiêm nhiệm
bộ Nội vụ, Tổng trưởng Quốc phòng là ông Lê Quang Huy.
- Ngày 24-2, Hội đồng quân sự Việt Pháp nhóm họp quyết định thành
lập 54 tiểu đoàn commando và 14 đại đội trọng pháo với sự yểm trợ về vũ
khí, quân dụng của Hoa Kỳ. Các tiểu đoàn commando sau đổi thành tiểu
đoàn Khinh quân.
- 1/9: Thành lập 4 liên đoàn Bộ binh đầu tiên của
Quân đội Quốc gia Việt Nam.
* Năm 1954: Chiến sự sôi động, Pháp thất thủ Điện Biên Phủ, Hiệp
định Genève chia đôi đất nước. Hai lần thay đổi nội các.
- 11/1: Hoàng thân Bữu Lộc được cử giữ chức Thủ tướng thay ông
Nguyễn Văn Tâm. Tân Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, Tổng trưởng Quốc
phòng là bác sĩ Phan Huy Quát (năm 1965 là Thủ tướng).
- Ngày 6-7, ông Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ và chính thức chấp
chánh ngày 7-7 (Song Thất), Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ và Quốc
phòng.
- Ngày 20 tháng 7/1954: Hiệp định Genève ký kết chia hai đất nước,
Cộng sản chiếm phía Bắc vĩ tuyến 17, phía Nam là lãnh thổ Việt Nam Tự
Do, đường ranh giới là sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị. Phái đoàn của Quốc
gia Việt Nam do ngoại trưởng Trần Văn Đỗ làm trưởng đoàn đã phản đối
việc việc ký hiệp định này.
Vương Hồng Anh
Nguồn: Việt Báo
Monday, July 7, 2025
PHẢI BIẾT BAO NHIÊU NĂM MỚI XÂY DỰNG ĐƯỢC MỘT NỀN VĂN HÓA?


Thursday, June 19, 2025
NHỮNG NGƯỜI CHA CAN TRƯỜNG
Nguyễn Diễm Nga
Trong lòng tôi, họ là những người cha can trường.
Có thể lúc ấy, họ vẫn là những chàng trai độc thân mang nợ nước trên vai và nợ tình trong tim, cầm súng lên đường xông pha vào chiến tuyến.
Có thể lúc ấy, họ đã là những người cha nhưng chưa hề biết mặt đứa con thơ của mình còn đang nằm trong bụng mẹ.
Họ đã mạnh mẽ gạt tình riêng, từ biệt vợ dại con thơ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm” vang vang trong tâm tưởng của những người trai thời chiến.
Đã có lúc tôi từng muốn lịch sử ngủ yên!
Quay ngược dòng ký ức để làm gì khi lúc ấy chúng tôi chỉ là những đứa trẻ?
Không ai yêu thích chiến tranh, nhưng nếu hiểu rõ về một cuộc chiến, hiểu rõ được sự can trường của những người lính Việt Nam Cộng Hoà, hiểu rõ được “tầm vóc” của họ trong đôi mắt và suy nghĩ từ những ngòi bút chân chính khắp nơi trên thế giới, tôi tin mình sẽ trưởng thành hơn.
Hôm nay, tôi muốn viết về cảm xúc của mình khi đọc bài viết “Heroic Allies” của tác giả Harry F. Noyes III. Tác giả là một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng chiến đấu tại Việt Nam trong quân chủng Không Quân. Sau cuộc chiến trở về, ông lấy được văn bằng cao học về Nghiên Cứu Á Châu từ trường Ðại Học Hawaii. Bài này (Heroic Allies) được đăng trong tạp chí Vietnam, số tháng 8, 1993.
“They were small, talked in sing-song squeaks, put a smelly fish sauce on their food, and often held hands with each other.”
Ông Noyes bắt đầu bài viết của mình bằng một câu như vậy: “Họ (người lính VNCH) vóc dáng nhỏ con, nói chuyện líu lo như chim hót, ưa thêm nước mắm vào mọi món ăn, và thường hay nắm tay nhau.”
Chính những điều lạ lẫm, thiếu hiểu biết về xứ sở, về văn hoá của một đất nước, một dân tộc với những con người xa lạ này đã khiến cho đa số những người lính viễn chinh Mỹ khó lòng thông cảm với những người mà họ bất đắc dĩ gọi là “đồng minh”, những người lính Việt Nam Cộng Hòa.
Và rồi từ sự thiếu thông cảm này dẫn đến những kỳ thị, những đánh giá thiếu công bằng cho Quân Đội Miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là hình thức bao biện cho sự bỏ rơi “đồng minh” một cách phũ phàng, nếu không muốn nói là “vô nhân đạo” của Quân Đội Hoa Kỳ.
Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Tôi nhớ đến hai câu ca dao trên và bất giác mỉm cười chua chát.
Ôi, những câu ca dao Việt sao mà đúng từ ngàn xưa cho tới ngàn sau.
Những điều ông Noyes viết, không phải chúng ta chưa từng nghe, từng đọc trước đây về những tội danh mà truyền thông Mỹ đã “gieo tiếng dữ” cho Quân Đội Miền Nam Việt Nam như “bất tài, phản trắc và hèn nhát…vv…và vv…” Tuy nhiên, ông đã lập luận gãy gọn và đưa ra những bằng chứng hết sức xác đáng “từng quan điểm một” để so sánh và phân tích vị thế và khả năng tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà với những đội quân khác trên thế giới bao gồm Quân Lực Hoa Kỳ thời chiến tranh Ðộc Lập của Hoa Kỳ (American War of Independence) với nước Anh Vĩ Đại (The Great Britain) vào cuối thế kỷ 18.
Theo ông Noyes, trong cuộc Chiến Tranh Cách Mạng (Revolutionary War) ấy,
Quân Đội Mỹ đã có nhiều thuận lợi hơn Quân Đội Miền Nam Việt Nam ở những
điểm sau:
• Quy mô của cuộc chiến ấy nhỏ hơn và dễ chi phối hơn (khác với Chiến Tranh Việt Nam tuy chịu tiếng là “nồi da xáo thịt” nhưng thực chất chính là một cuộc đối đầu giữa hai khối tư tưởng chính trị gây ảnh hưởng toàn cầu: Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Cộng Sản.)
• Quá trình thuộc địa Hoa Kỳ đã giúp hình thành được những chính quyền tự phát địa phương, cho phép đất nước này hun đúc nên những vị lãnh tụ tài ba thật sự (trong khi Miền Nam Việt Nam chỉ là một nền Cộng Hòa đang phát triển, mới vừa thoát khỏi ách thuộc địa Pháp lại phải lao đầu ngay vào một cuộc chiến sinh tử với một đối thủ hùng mạnh được cả một khối Cộng Sản hỗ trợ phía sau)
• Quân Anh không quá ngoan cố như Cộng Sản Bắc Việt.
• Quân đồng minh Pháp thời bấy giờ đã không bỏ rơi nước Mỹ non trẻ như kiểu người Mỹ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Chúng ta hãy cùng với ông Noyes điểm qua một vài trận đánh sau đây để ngậm ngùi chịu tiếng oan “bất tài, phản trắc, và hèn nhát” cùng với những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà:
Trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968, Cộng Sản Miền Bắc tưởng rằng sẽ đập tan được ý chí chiến đấu của Nam Việt. Tuy nhiên, thay vì bỏ cuộc, Quân Đội Miền Nam Việt Nam đã kháng cự mãnh liệt và hữu hiệu: không một đơn vị nào tan rã hay tháo chạy. Ngay cả cảnh sát cũng chiến đấu, họ đương đầu với quân chính quy đối phương trang bị bằng vũ khí hùng hậu với chỉ bằng những khẩu súng cầm tay. Dựa theo báo cáo, sau trận này, tinh thần chiến đấu của người miền Nam dâng cao, số người xin đăng lính cao đến nỗi chính quyền của quốc gia này phải đình hoãn bớt việc thu nhận thêm tân binh.
Trong cuộc Tổng Tấn Công năm 72, lực lượng trú phòng của Quân Đội Miền Nam Việt Nam bị vây hãm tại An Lộc đã giữ vững được vị trí của mình trước một lực lượng ghê gớm của quân thù cả về người lẫn hỏa lực kinh hồn của đại pháo và hỏa tiễn. Chúng ta đã đọc rất nhiều, đã nghe rất nhiều những hồi ký về Trận An Lộc từ những nhân chứng sống người Việt. Thiết tưởng nay dưới một góc nhìn khách quan của một nghiên cứu gia người Mỹ đã từng góp mặt trong cuộc chiến, liệu nỗi oan của họ có rửa được chăng?
Sau trận này, ông Noyes kể đã được tiếp xúc với một cố vấn Mỹ để nghe tường thuật lại mẩu chuyện một tiểu đội lính VNCH trong vùng được lệnh thanh toán ba chiến xa, đã hành động như thế nào. Họ hạ được một chiếc, rồi quyết định tìm cách bắt sống hai chiếc còn lại. “Theo tôi nhớ thì họ chộp được một chiếc còn một chiếc bỏ chạy, thế là mấy người lính chạy bộ rượt theo đến cuối đường.”
Ông Noyes cho rằng việc thi hành thượng lệnh của mấy người lính này có thể không đúng tác phong quân kỷ, nhưng lối hành xử cho thấy tinh thần chiến đấu cao của họ và thế chủ động mà mọi binh sĩ VNCH đều có.
Cho đến năm 1975 khi Quốc Hội Mỹ đã quyết định không ra tay cứu giúp VNCH thêm nữa về cả nhiên liệu lẫn đạn dược, thế mà một đơn vị quân VNCH tầm cỡ một sư đoàn đã cầm chân được bốn sư đoàn BV trong suốt hai tuần giao tranh ác liệt tại Xuân Lộc. Một chọi bốn! Theo ông Noyes, chỉ riêng một trận này thôi sự anh dũng còn nổi bật hơn bất kỳ một chiến công nào có thể tìm thấy trong chiến sử Hoa Kỳ. Nhưng… ngậm ngùi thay, đội quân Miền Nam sau đó đành phải lui binh vì Không Quân của họ không còn bom để yểm trợ.
Đến đây, tôi muốn bạn hãy đọc một đoạn bằng nguyên bản tiếng Anh của ông Noyes:
Remember: The United States had cut aid to South Vietnam drastically in
1974, months before the final enemy offensive. As a result, only a
little fuel and ammunition were being sent to South Vietnam. South
Vietnamese air and ground vehicles were immobilized by lack of spare
parts. Troops went into battle without batteries for their radios, and
their medics lacked basic supplies. South Vietnamese rifles and
artillery pieces were rationed to three rounds of ammunition per day in
the last months of the war.
The situation was so bad that even the North Vietnamese commander who
conquered South Vietnam, General Van Tien Dung, admitted his enemy’s
mobility and firepower had been cut in half. Aside from the direct
physical effect, we must take into account the impact this
impoverishment had on South Vietnamese soldiers’ morale.
Bởi vì tôi e sợ bạn sẽ không tin tôi nếu như lược dịch những điều này qua tiếng Việt.
Tôi đã khóc khi đọc đến đây!
Tôi đã khóc cho một quân đội bất hạnh khi hình dung ra ông ngoại tôi, bố tôi, các chú bác của tôi, hai cậu tôi cùng biết bao đồng đội của họ đã phải chiến đấu trong một hoàn cảnh tồi tệ như vậy. Bởi vì có hai thứ mà một người lính cần nhất trên mặt trận đó là vũ khí và tinh thần. Tinh thần thì vẫn cao ngất, nhưng vũ khí và sự hỗ trợ từ “đồng minh” thì cạn kiệt. Thương thay!
Hai luận điểm quan trọng nhất mà ông Noyes đã dùng để minh chứng cho ý chí chiến đấu kiên cường của quân nhân Miền Nam và để thấy rõ sự thất bại và đổ lỗi của người Mỹ tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất: Chiến tranh Việt Nam đã khởi sự khoảng bảy năm trước khi lực lượng Hoa Kỳ chính thức đổ bộ đổ và sau đó lại tiếp tục thêm chừng 5 năm sau khi quân Mỹ rút đi. Quân đội Miền Nam Việt Nam đã-vẫn-và luôn luôn kiên cường chiến đấu, không ai khác hơn!
Thứ hai: Quân đội Miền Nam Việt Nam bị thương vong một phần tư triệu binh sĩ trên chiến trường. Theo “tỉ lệ dân số” thì tương đương hai triệu lính Mỹ chết (một con số gấp đôi tổn thất của Mỹ trong tất cả các chiến tranh gộp lại).
Vì vậy, nếu cho rằng Quân Đội Miền Nam hèn nhát và không chịu chiến đấu thì tại sao họ lại hy sinh nhiều như vậy?
Tuy nhiên còn có một luận điểm nữa trong bài viết mà ông Noyes đã nói đến không chút tránh né khiến cho tôi vô cùng vì nể đó là khi ông phân tích về sự “bất tài và hoảng loạn, về động thái “bỏ chạy” trên chiến trường.
Ông dẫn chứng bằng những mẩu chuyện sau:
“Khi một phụ nữ Anh hỏi viên công tước xứ Wellington rằng lính Anh có bao giờ bỏ chạy trên chiến trường không?”
Viên công tước đáp, “Ngoài chiến trường người lính nào cũng có bỏ chạy cả, thưa bà.”
Cuộc Nội Chiến (Civil War) của nước Mỹ cũng đã cho thấy sự can trường lẫn sợ hãi liên tục trồi lên sụt xuống. Những đơn vị của cả hai phe Confederate lẫn Union đều có lúc xông pha rất hăng hái và rồi có lúc phải “bỏ chạy” trước hỏa lực kinh hồn trước khi tập hợp lại tiếp tục chiến đấu. Họ cũng có lúc giao động chạy tán loạn nơi một chiến trường quá đẫm máu.
Hoặc như trong Thế Chiến Thứ Hai, khi cảm tử quân Nhật vừa tấn công vừa hò hét đã khiến cho một đơn vị bộ binh Hoa kỳ hoảng hốt “bỏ chạy”, trong khi đơn vị thứ hai trụ lại quyết chiến và sau khi tiêu diệt đội cảm tử quân Nhật gồm 10 tên thì mới biết đa số quân Nhật không có vũ khí.
Ông kết luận rằng, nếu một biến cố đơn thuần không thể đem ra mà gán cho cả quân lực Hoa Kỳ là hèn nhát, thì thỉnh thoảng có sự tan hàng của một vài người lính hay tướng lãnh VNCH cũng không có nghĩa là tất cả chiến binh miền Nam đều hèn nhát.
Riêng tôi, tôi tự hỏi: tấm gương của Ngũ Hổ Tướng tuẫn tiết trong giờ
phút thứ 25 cùng với biết bao Quân Dân Cán Chính Miền Nam Việt Nam kiên
cường ở lại cùng quê hương, sẵn sàng đối mặt với sự trả thù hèn hạ của
Cộng Sản trong các trại tù từ Nam ra Bắc, những điều này mang ý nghĩa gì
đối với truyền thông một chiều của nước Mỹ?
…..
Văng vẳng đâu đây lời tình ca ai viết sao tôi nghe như một câu hỏi day dứt:
Em ru gì, lời ru cho đá núi
Đá núi tật nguyền, vết sẹo thời gian…
Biết bao giờ thời gian mới xóa nhoà và xoa dịu vết thương chiến tranh trong lòng họ, những người cha can trường của thế hệ chúng tôi?
Nguyễn Diễm Nga
Saturday, May 17, 2025
CÓ MỘT NICK ÚT MÀ TÔI BIẾT
| Nick Út trong một lần về Việt Nam, ra sách và tặng riêng cho ông Trương Tấn Sang (VietnamNet) |
Câu chuyện về nhà nhiếp ảnh Nick Út và bức ảnh “Em bé Napalm”, trước khi bị đưa ra ánh sáng, đã có nhiều bài viết khẳng định rằng bức ảnh này không phải của ông ta. Năm 2015, nhà bình luận Đức Hồng viết trên BBC tiếng Việt, đã khởi đi rất nhiều tranh luận của người Việt trong và ngoài nước về sự thật ai là tác giả của bức ảnh này. Bằng giọng văn thuyết phục và quả quyết, ông Đức Hồng cho thấy sau bức ảnh “Em bé Napalm” đó còn nhiều điều chưa nói hết, khiến lâu nay nhiều người Việt Nam vẫn lầm tưởng.
Bài viết đặt một câu hỏi – rất hiển nhiên – mà cũng rất cay đắng, vì sao cái gọi là nạn nhân chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Mỹ, cô Kim Phúc, cuối cùng đã tìm cách đào thoát và được giúp tỵ nạn ở phương Tây, chứ không ở lại Việt Nam. Nạn nhân đó cũng không muốn được hưởng vinh quang như một biểu tượng chống chiến tranh. Câu hỏi đặt ra là cô Kim Phúc, nhân vật chính trong bức ảnh đó, có hài lòng cho cuộc đời trở thành điểm tựa đẹp nhất về tuyên truyền cho quân đội miền Bắc Việt Nam hay không?
Sự thật là năm 1992, cô Kim Phúc đã thoát khỏi Việt Nam, tỵ nạn ở Canada để không biến mình thành công cụ truyên truyền cho một phía, cũng như tác giả Đức Hồng đặt lên một câu hỏi rất đáng chú ý rằng năm 1972, những người lính Cộng sản Bắc Việt đang làm gì ở đất của miền Nam trong một hiệp định phân chia đất nước vẫn còn hiệu lực. Và vì sao “các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?”.
Sự thật ít người biết là gia đình cô Kim Phúc cũng bị đánh tư sản vào năm 1975. Cả nhà sống rất khó khăn. Năm 1982 khi một phóng viên người Đức đến Việt Nam để tìm lại nhân vật lịch sử trong bức ảnh “em bé Napalm” thì Kim Phúc bị đẩy thành một nhân vật tuyên truyền cho giai đoạn sau chiến tranh. Mọi thời gian sinh hoạt của cô Kim Phúc lúc bấy giờ đều bị công an kiểm soát chặt chẽ. Thậm chí Kim Phúc bị buộc thôi học trường đại học Y khoa ở Sài Gòn, về sống ở quê Trảng Bàng để tiện dễ kiểm soát ngôn ngữ tuyên truyền.
Sau đó, khi lấy chồng là một du học sinh sống ở Cuba, nhân một chuyến đi, máy bay ngừng chặng ở Gander, Newfoundland (Canada), Kim Phúc cùng chồng trốn khỏi sự kiểm soát của công an viên đi kèm và xin tị nạn. Mọi sự kiện này không là lời kể miệng, mà được bày tỏ công khai trên trang web riêng của Kim Phúc tên là Kim Foundation, quỹ từ thiện do cô sáng lập và cũng như trong quyền hồi ký The Girl in the Picture, hiện vẫn còn bán online trên các nhà sách lớn, như Amazon.

Cùng với những câu hỏi của tác giả Đức Hồng, cũng có một câu hỏi khác được đặt ra, là một người phóng viên của AP, vì sao từ vị trí là một nhiếp ảnh gia ghi chép sự kiện một cách trung dung, ông Nick Út dần dần biến mình thành một người quảng bá sai ý nghĩa của bức ảnh, biến mình thành một nhân vật tuyên truyền hơn cả cô Kim Phúc?
Trong cuộc tranh cãi về sự kiện ông Nick Út trở lại Việt Nam hồi Tháng Sáu 2015, họa sĩ Trịnh Cung nêu một ý kiến khác. “Nếu là một phóng viên có đạo đức, Nick Út đã phải có một thái độ khác. Trái lại, ông Út đã biến cơ hội giữ lại khoảng khắc thương đau của một sinh mệnh, tạo hào quang cho mình, mà không đứng về sự thật của nạn nhân trong suốt nhiều năm liền”, họa sĩ Trịnh Cung nói, ”giả sử khi được trao giải Pulitzer, ông Nick từ chối và trao tặng cho nạn nhân mà ông chụp được, có lẽ ông đã giải bày được một cách khiêm tốn về cơ may – hơn là tài năng – và tỏa sáng gấp bội lần hơn lúc này”.
Nhưng điều quan trọng là bên cạnh sự thật ít ai biết về cô Kim Phúc khi phải đào thoát sang Canada – trong số ít đó có ông Nick – thì dường như ông cũng tảng lờ việc đứng về phía nỗi khổ và khó khăn của cô Kim Phúc, và chỉ bám chặt vào bề mặt bức ảnh, lấy câu chuyện để nuôi ánh hào quang cho mình, phản bội lại đạo đức nghề nghiệp báo chí, là phải nói thật về điều mình thấy, trình bày sự thật mà mình biết.
Đạo đức nghề nghiệp đó, đã từng được chứng minh như chuyện nhà nhiếp ảnh Eddie Adams với bức ảnh chấn động thế giới về tướng Nguyễn Ngọc Loan khi bắn phục binh Bắc Việt Bảy Lốp vào năm 1968. Sau khi biết được sự thật, nhất là khi nghe tin tướng Loan qua đời, Eddie Adamas đã nói với báo chí rằng ông đã rất hối hận vì bức ảnh đó làm hại một tướng quân và làm hại một chế độ.
Đạo đức con người cũng đã được thể hiện, khi diễn viên Jane Fonda đi ra miền Bắc Việt Nam cổ vũ cho cuộc chiến tranh tương tàn vào năm 1972. Nhiều năm sau, nhiều lần, người diễn viên này đã bày tỏ sự hối hận vô bờ bến về hành động của mình khi biết rõ tác hại từ chuyến đi của mình. Bà Jane Fonda vẫn lập lại lời xin lỗi đến các cựu chiến binh Mỹ, mỗi khi có dịp.
Nhưng Nick Út thì khác. Ông quay lại Việt Nam để làm triển lãm riêng, ra sách chụp hình với các quan chức và đặc biệt là tảng lờ về cuộc đời thật của cô Kim Phúc mà ông lúc nào cũng quảng bá là thương mến và thân thiết.
Trong các buổi ra sách, và ký tặng, ông Nick cũng chưa bao giờ nói về sự thật của cuộc đời cô Kim Phúc, cũng như luôn mỉm cười im lặng, như một sự tán đồng với hệ thống truyên truyền Nhà nước rằng đó chính là bức ảnh ông chụp như để tố cáo tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ.
Khi được hỏi về việc bị thế giới phát hiện ông là “kẻ cắp” của bức ảnh lừng danh, Nick Út nói ông sẽ đòi công lý “với nỗi đau của mình”. Nhưng có nỗi đau nào bằng chuyện công sức của một người bị cưỡng đoạt suốt nửa thể kỷ, và ông Nick Út thì bao giờ cũng cười tươi che hết ống kính khi nghe nhắc về bức ảnh này. Cũng như có nỗi đau nào diễn đạt được thành lời, khi cô Kim Phúc luôn bị ông giấu trong bóng tối, để làm sáng lòa hơn gương mặt của ông trước báo chí và ống kính truyền thông Việt Nam?
Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/ben-tach-tra/co-mot-nick-ut-ma-toi-biet/





