; }

Tuesday, August 16, 2022

NÓI VỀ NGƯỜI THƯỢNG, NGƯỜI VIỆT VÀ ĐÔNG TÂY NAM BẮC NGHE CHƠI…

NGUYỄN GIA VIỆT

Đọc được một đoạn của ông Bình-nguyên Lộc, ông viết:
"Chúng tôi tin rằng người Thượng Việt là gốc tổ của Lạc bộ Trãi và Thượng Nam Dương là gốc tổ của Lạc bộ Mã".
Hồi trước 1975 người Việt kêu những dân tộc thiểu số sống trên núi rừng là "người Thượng".
Rất đơn giản, chữ 上 (thượng) có nghĩa ở phía trên và chữ 下(hạ) có nghĩa ở phía dưới.
Ngoài Bắc họ kêu đầy đủ hơn là người ở miền thượng du, dân thượng du là Mường, Thổ, Thái và Mán.
Có vùng thượng du sẽ có miền trung du và hạ thu. Hạ du là đồng bằng, trung du là giữa đồng bằng và đồi núi.
Ông Nguyễn Đức Toàn có bài "Quê em miền trung du" nổi tiếng qua tiếng hát Thái Thanh:
"Quê em miền trung du
Đồng suối lúa xanh rờn
Giặc tràn lên thôn xóm
Dâu bờ xanh thắm
Nong tằm chín lứa tơ
Không tay người chăm bón"
Người Miền Nam không kêu thượng du, họ kêu thẳng là "Thượng" khi ám chỉ người Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông.
Ông Lê Dinh có bài "Chiều lên bản Thượng":
"Gió cuốn theo chiều xuống qua bao đồi nương
Nắng úa trên ngàn lá khi ánh chiều buông
Tiếng hát cô Mường vương trên rừng chiều bao la
Qua suối đồi khe lá"
Người Việt xưa xác định hướng là: Đông, Tây, Nam, Bắc và Thượng, Hạ.
Trong "Quan Âm Thị Kính" thằng mõ rao vầy:
"Chiềng làng chiềng chạ
Thượng hạ Tây Đông
Con gái phú ông
Tên là Mầu Thị
Tư tình ngoại ý
Mãn nguyệt có thai
Già trẻ gái trai
Ra đình ăn khoán."
Tất cả các làng Việt ở Bắc đều có người rao mõ.
Thằng Mõ là một nét đặc trưng của làng xã Miền Bắc, trong Nam không có Thằng Mõ.
Thằng mõ thường cầm cái mõ bằng đốt tre già khô và cái dùi tre, đi tới đâu gõ một hồi rồi cất tiếng rao cho mọi người biết những điều muốn thông báo.
Mõ đều là “dân ngụ cư”.
Dân chánh cư trong làng phải có hai điều kiện: đã cư trú ít nhứt 3-5 đời và có điền sản.
Còn ngoài ra là dân ngụ cư ráo trọi, dân ngụ cư phải dựng nhà ở rìa làng, ngoài đê không được vào đình, không được tham dự việc làng, không được hưởng ruộng công và sống bằng nghề làm mướn, phải đi rao mõ.
"Chiềng làng" là gì? Nhiều người nói chiềng là "thưa trình".
Một câu chèo cổ khác được Lương Thế Vinh thế kỷ XV ghi lại trong cuốn Hí phường phủ lục như sau:
“Trình làng trình chạ
Thượng hạ tây đông
Tư cảnh hoà trung
Nghe tôi giáo trống...”
Tuy nhiên có lẽ không phải!
Thái Lan có nhiều tỉnh tên Chiang (Chiềng) như Chiang Mai, Chiang Rai. Chiềng là thủ phủ của một mường. Bên Lào thì chiềng thành xiêng, thí dụ Xiêng Khoảng, Xiêng Khọ.
Vậy chiềng trong ngôn ngữ Việt là làng mà thôi. Tức chữ chiềng có bà con dân tộc Mường, Thái.
Văn hóa Việt cổ ở Bắc Kỳ có dính chút xíu với tộc Mường này. Người Mường hay người Mol, Mon, Mwon, Mwal, Mul và Mọi…
Mường là một từ tiếng Thái, được người Thái và người Mường dùng để chỉ một vùng, một địa phương, một làng của người sơn cước nói chung, sau này không hiểu sao dân tộc Mường lại có tên Mường?
Chiềng hay Xiềng là cái làng của người Thái. Bên Thái Lan có thành phố Chiang Mai đó. Mường là cái làng của người Mường.
Chạ là cái làng cổ của người Việt xưa ở Bắc Kỳ.
Như vậy “làng chạ” tức là làng xóm.
Thành ra các từ ngữ chỉ sự “ăn dầm nằm dề” như chung chạ, lang chạ, ăn chung ở chạ là có dính ở cái mé này.
Còn lang là gì? Thanh Hóa có huyện Lang Chánh. Lang là một ông đứng đầu mường.
Người Mường quan niệm rằng họ và Việt xưa có chung một tổ tiên trực hệ đều là người Lạc Việt.
Ai cũng nói Mường và Việt là hai dân tộc có dính nhau, bằng chứng là cách mặc váy và yếm của người đàn bà Mường và đàn bà Miền Bắc xưa cũng giống nhau.
Tuy nhiên điều này chưa ai chứng minh rõ vì bỡi ngày nay hai tộc Mường và Việt đã khác xa nhau và rất khác biệt nhau về mức độ văn minh.
Nói về Miền Nam đi.
Theo truyền thống lập làng, thường địa danh Nam Kỳ xưa theo nguyên tắc khi tách, chia làng thì sẽ thêm vô sau tên làng cũ chữ Nhứt, Nhì, Đông, Tây, Nam, Bắc và Thượng hoặc Hạ làm tên làng mới.
Bốn hướng Đông,Tây, Nam, Bắc xuất phát từ chữ tứ trấn (四 鎮) hay tứ chánh.
Nam Kỳ đọc thành "Tứ chiếng".
Đại Nam nhất thống chí đã nhận định: “Dân thôn dã thì chất phác, dân thành thị thì du đãng”.
Như vậy có thể hiểu thôn tứ chiếng là thôn có chợ và bến ghe thuyền ở bốn hướng tụ lại.
“Trai tứ chiếng, gái giang hồ
Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên”
Năm 1836 thời Nguyễn huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình (Gia Định) có 6 tổng là Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung, Bình Trị Hạ, Dương Hoà Thượng, Dương Hoà Trung, Dương Hoà Hạ.
       Địa danh Tân Thới Nhứt là một trong hai mươi thôn thuộc tổng Dương Hoà Thượng
Tân Thới Nhứt sau đó lên xã và tồn tại tới ngày nay.Nghe chữ là biết Tân Thới Nhứt là tách ra từ làng gốc Tân Thới.
Đó là vùng "Thập bát phù viên" (18 thôn vườn trầu).Từ 1698 có 6 thôn đầu tiên là:
Tân Thới Nhứt
Tân Thới Nhì
Tân Thới Trung
Tân Phú
Thuận Kiều
Xuân Thới Tây
Sau đó có thêm và tổng cộng là :
Tân Thới Bình
Tân Thới Đông
Tân Thới Tây
Tân Thới Trung
Tân Thới Nhứt
Tân Thới Nhứt Tây
Tân Thới Nhì
Tân Thới Nhì Tây
Tân Thới Tam
Tân Thới Tứ
Đệ nhứt chữ Nhứt ở đất Sài Gòn phải là Tân Sơn Nhứt.
Tân Sơn Nhứt là một giáp thuộc thôn Tân Sơn có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào Gia Định, sau nâng lên thành thôn Tân Sơn Nhứt.
Tân Sơn Nhứt thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định; phía đông giáp thôn Phú Nhuận, An Hội; phía Tây giáp thôn Tân Sơn Nhì; phía Nam giáp Phú Thọ và thôn Tân Sơn Nhì; phía Bắc giáp thôn Hạnh Thông Tây, thôn An Hội.
Sau thời Pháp, thôn Tân Sơn Nhứt thành làng rồi xã. Làng này rất cao ráo, không bao giờ ngập nước nên chúa Nguyễn Ánh đã lập lăng mộ linh mục Bá Đa Lộc ở làng này.

         Chừng năm 1920 Pháp đã giải tỏa lấy đất gần hết làng Tân Sơn Nhứt xây sân bay, và gọi là phi trường Tân Sơn Nhứt.
Phần đất còn lại nhỏ hẹp hợp với phần còn lại của làng Chí Hòa thành làng Tân Sơn Hòa.
 Tổng diện tích của Tân Sơn Nhứt khi đó là nó rộng hơn 3.600 ha. Phi trường Tân Sơn Nhứt vang danh thế giới, vậy mà phải ngậm đắng nuốt cay bị đổi tên thành Tân Sơn Nhất sau 30/4.
Người Nam Kỳ ngày xưa viết nhứt rõ ràng.
Nam Kỳ ta xưa kêu số đếm,chữ 一 là nhứt ,nhì (nhị ) 二 ,tam 三
"Nhứt gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối"
Ăn chơi có câu: "Nhứt lưỡi nhì râu tam đầu tứ củ".
Người Bắc không kêu được chữ Nhứt, kêu bị lẹo lưỡi.
Đất Bà Quẹo có con đường thiên lý từ cổng thành Sài Gòn trổ ra tới Tây Ninh khúc biên giới qua Cam Bốt, con đường này ngày nay là Trường Chinh, là ranh giới hai làng Tân Sơn Nhứt và Tân Sơn Nhì.
Ngày nay ở Hóc Môn vẫn còn đình Tân Thới Nhứt ở góc đường Phan Văn Hớn - Nguyễn Ảnh Thủ, đình Tân Thới Nhì ở đường Dương Văn Dương được dựng vào thời vua Tự Đức vẫn còn đình Tân Thới Trung ở xã Tân Trung, đình thần Xuân Thới Thượng.
Bà Điểm nay vẫn còn các địa danh ấp Trung Lân, Tiền Lân, Hậu Lân, Đông Lân, Nam Lân, Tây Bắc Lân.Tất cả các ấp có chữ Lân nầy xưa thuộc xã làng Tân Thới Nhứt của tỉnh Gia Định.
 
 
Trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"có câu:
“Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ“
Dân ấp,dân lân là cái gì?
Thời Nguyễn ở Nam Kỳ có 3 loại làng:
- Làng lớn còn gọi là đại thôn, còn gọi là xã.
- Làng vừa gọi là trung thôn.
- Làng nhỏ gọi là tiểu thôn, còn gọi là lân, ấp, phố, phường, mạn, nậu…
Mỗi xã có thể chia ra 2, 3 thôn. Mỗi thôn có thể chia ra 2 – 3 ấp hoặc 2 -3 lân
Dân ấp, dân lân là cái gì? Là dân ở xóm thôn nhỏ,xa xôi cách trở.
Nhà Nguyễn quy định mỗi xã, đại thôn và trung thôn phải có một cái đình và một quán canh tuần, còn lân, ấp thì không cần.
Biên Hòa còn đình Tân Lân thờ Đức ông Trần Thượng Xuyên.Long An ở Cần Đước còn xã Tân Lân.
Vậy đó!

Đình Thạnh Hòa Thốt Nốt

Tại xứ Long Xuyên xưa có địa danh Thốt Nốt là tên một cái chợ nhỏ tại làng Thạnh Hòa Trung thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn.
Pháp qua, làng Thạnh Hòa Trung được chia ra thành hai làng mới, lấy tên là làng Thạnh Hòa Trung Nhứt và làng Thạnh Hòa Trung Nhì.Khi đó, chợ Thốt Nốt thuộc về làng Thạnh Hòa Trung Nhứt.
Pháp cho lập quận Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên là lấy theo tên chợ Thốt Nốt.
 
      Gò Công là tỉnh nhỏ. Gò Công có 5 tổng và 40 làng,xứ này đất hẹp, người đông, phong thổ gần biển nên ruộng có nước mặn, nhiều phèn và mỗi năm chỉ làm ruộng có một mùa.
Gò Công xưa có làng Bình Phục Nhứt và Bình Phục Nhì, nguyên thủy là từ làng Bình Phục mà ra.
Ngày nay Bình Phục Nhứt thuộc Chợ Gạo, còn Bình Phục Nhì thì bị bỏ chữ Phục, thành xã Bình Nhì thì thuộc huyện Gò Công Tây.
Chữ Thượng và Hạ còn rất rõ ở tỉnh Long An, tỉnh này chia ra hai vùng thường và hạ.
Nhà thơ Hoài Vũ có bài thơ "Gửi người Miền Hạ" mà sau này được làm nhạc thành bài "Anh ở đầu sông em cuối sông" tả cảnh hoàng hôn đẹp chết ngất ở sông Vàm Cỏ khúc Miền Hạ Cần Đước như sau:
"Anh ở đầu sông em cuối sông
Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông
Thương nhau đã chin ba mùa lúa
Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông!
Ôi bát ngát chân trời miền hạ!
Tím tình yêu, tím cả ước mong
Gió nhớ thương ai mà lay bờ lá
Để bìm bịp kêu con nước lớn ròng"
Hóc Môn vẫn còn xã Xuân Thới Thượng và Trung Lập Thượng.
Cái chữ thượng và hạ còn rất rõ trong Quốc Hội, lưỡng viện.
Việt Nam Cộng Hòa từng có lưỡng viện Quốc Hội gồm Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện.
Trụ sở Hạ Nghị Viện nay là Nhà Hát Thành Phố, còn trụ sở Thượng Nghị Viện là Hội Trường Diên Hồng.
Hạ Viện có nhiệm kỳ 4 năm, bầu theo từng cá nhân, theo từng tỉnh. Hạ Viện có từ 100 đến 200 dân biểu. Hạ Viện phải có 6 ghế dành cho người Việt gốc Miên, 6 người Thượng, 2 người Chàm và 2 người thuộc dân tộc thiểu số Bắc Việt di cư vào Nam.
Dân Biểu thường là dân điền chủ, trí thức, bác sĩ, doanh nhân, nhà giáo lâu năm.
Thượng Viện có từ 30 tới 60 nghị sĩ, nhiệm kỳ là 6 năm, bầu theo liên danh, lấy toàn quốc làm đơn vị độc nhứt.
Bắc Kỳ kêu mùa nóng nhứt trong năm là mùa hạ,Nam Kỳ kêu mùa hè.
Hạ trong tiếng Hán có nghĩa là phía dưới và mùa hè.
Hạ là dưới,thượng là trên nên địa danh Nam Kỳ có Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ, sông Sở Thượng, sông Sở Hạ ở Đồng Tháp.
Rồi có câu chửi "đồ thượng đội hạ đạp" là trên nịnh dưới khinh của tiểu nhơn.
Hạ là hè xuất xứ từ tiết hạ chí của lịch Tàu, hạ chí nóng bức, bực bội.
Bắc kêu mùa nóng là mùa hạ.
Ở Nam Kỳ nhà nào cũng có cái hè nhà, hè là phần đất hai bên hoặc dưới cái nhà sau tương đối trống trải vì có ao hồ, kinh rạch, cây cối và gió mát.
Nam Kỳ thường cất nhà bếp, đặt mấy hàng lu chậu và chất củi chụm, cất chuồng trâu, đặt cây rơm bên hè nhà.
Câu đố vầy:
"Anh dắt em ra sau hè
Vừa đẩy vừa đè nước chảy re re"
Đó là mài dao.
Có bài hát "Còn thương góc bếp chái hè" thì hiểu là cái bếp nằm mé bên cái chái tạm sau hè
Mùa hạ chí nóng nên dân Nam Kỳ hay xách đít ra hè đón gió nên lâu ngày kêu mùa nóng là mùa hè.
"Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn".
Kêu mùa hè nhưng trong lịch dân Nam Kỳ vẫn đọc và ghi tiết "hạ chí" chứ không ghi "hạ hè" nha.
Người Thượng hay người Khmer, người Chàm đều mang quốc tịch Việt.
Chữ "Việt" là chữ linh thiêng.
Chúng ta qua nhiều triều đại,từ Nam Việt ,Đại Cồ Việt tới Đại Việt, Đại Nam (Đại Việt Nam) và Việt Nam đều đề cao chữ Việt. Trên bia mộ cổ thời chúa Nguyễn và cả thời Gia Long hay có chữ 越 故 (Việt cố)
Chữ 越 (Việt) trên bia mộ thời chúa Nguyễn không phải là một sự tùy tiện, nó có ý nghĩa rõ .
Hai chữ này được dịch: “nước Việt xưa”; “nước Cổ Việt”; “Nước Việt cổ”; “nước Việt ngày cũ”.
Nhìn sơ qua để thấy chữ Việt quan trong trong văn hiến nước ta cỡ nào, sống làm người Việt, chết làm kẻ cố lại Việt, làm ma Việt.
Người Việt thời phải là dân tộc Việt chứ.
"Duy, ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang
Sơn xuyên chi phong vực ký thù
Nam bắc chi phong tục diệc dị"
(Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác)
Khi sắp xếp các dân tộc thời có người Việt gốc Khmer, người Việt gốc Chàm, người Việt gốc Thượng m.
Duy nhứt, có người "Kinh" gốc Việt thiệt sự vô duyên. Sau 1975 chữ "Kinh" làm người Việt không hiểu ở đâu nó lòi ra.
NGUYỄN GIA VIỆT

Thursday, July 21, 2022

ĐÀ LẠT : CON ĐƯỜNG SẮT ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ CHÂU Á NAY CÒN ĐÂU ...

 Tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt được xem là con đường huyền thoại của châu Á, nhưng chỉ sau một thời ngắn đã bị mai một, hoang phế.

Con đường huyền thoại:

Được xây dựng từ năm 1902 - 1932, tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt được xem là con đường huyền thoại của châu Á.

Gọi là con đường huyền thoại vì đây là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của Thế giới: Một của Việt Nam và một của Thụy Sĩ. Nhưng con đường của Việt Nam kỳ vĩ hơn vì nó vừa dài lại có độ độ dốc lớn hơn con đường của Thụy Sĩ.

đu dây vượt thác

Người Pháp và Thụy Sĩ cùng với các thợ Việt đã mất gần 30 năm mới hoàn thành được tuyến đường răng cưa độc đáo, một trong hai đường răng cưa ngoạn mục nhất trên thế giới.


Đường sắt “leo núi”

Đường sắt răng cưa (được thiết riêng cho đầu máy hơi nước răng cưa), với thiết kế có răng cưa giữa đường ray là loại đặc chủng dùng để leo núi, giúp kéo đoàn tàu lên những đoạn đồi, dốc độc nhất vô nhị ở Châu Á.

đu dây vượt thác

Để đoàn tàu có thể hoạt động, người ta phải đốt lò than với nhiệt độ hơn 300 độ C, tăng nhiệt để đun 12 m3 nước, tạo ra sức kéo lên tới 700 tấn.


đu dây vượt thác

Các bánh răng cưa được thiết kế chuyên dụng cho việc leo núi


đu dây vượt thác

Bánh răng của đầu máy bám chặt vào răng cưa đường ray để tàu leo lên dốc và xuống dốc


Khi tàu chạy đến gần đoạn răng cưa, lái tàu giảm tốc độ, khởi động giàn bánh răng ở đầu tàu, cho móc vào đường ray răng cưa (nằm giữa 2 thanh ray trơn) rồi khóa hệ thống bánh răng. Bánh răng của đầu máy bám chặt vào răng cưa đường ray để tàu leo lên dốc và xuống dốc. Những bánh răng cưa này có thể tự điều chỉnh chiều cao phù hợp với độ mòn của các bánh xe mặt bằng.

 

Giấy phút huy hoàng chỉ trong chốc lát

Sau  năm 1975, sau khi được khôi phục, tàu đã kéo còi trở lại (5/1975). Nhưng chỉ chạy được chưa tới 30 chuyến thì đoàn tàu chính thức ngưng chạy. Sau đó bị tháo dỡ, đa phần dùng để đại tu cho tuyến đường Bắc - Nam (đường sắt Thống Nhất), nhưng vì đoạn đường sử dụng đầu máy thông thường, không khớp với các bánh răng cưa (được thiết riêng cho đầu máy hơi nước răng cưa) thì bị đem đi … bán phế liệu.

 

đu dây vượt thác

Đoạn đường sử dụng đầu máy thông thường, không khớp với các bánh răng cưa thì sau đó đã bị đem đi … bán phế liệu.


đu dây vượt thác

Tuyến đường có đi ngang cầu Dran, Đơn Dương Nhưng chỉ một thời gian sau cũng bị dỡ bỏ, bán phế liệu

 

đu dây vượt thác

Vua Bảo Đại và Toàn Quyền Pháp Rene Robin khánh thành tuyến xe lửa


Tất cả chỉ còn là hoài cổ?

Ngày nay ở Việt Nam đâu còn thấy hình ảnh đoàn tàu ì ạch “thở” phì phò leo núi! Còn đâu ngắm cảnh con tàu nhả làn khói than đá hay gỗ thông băng qua cánh rừng thông trong làn khói phản phất mùi nhựa thông, mùi than đá!

Các đầu kéo hơi nước, toa xe, cơ phận rời và thiết bị mà trọng lượng tổng cộng là 250 tấn rời khỏi Việt Nam.


Có ai còn nhớ tiếng va chạm kim khí răng của bánh răng đầu máy với răng của đường ray mà tưởng tượng cảnh con tàu ghì sát, ôm chặt vào đường sắt để leo lên hay tuột xuống núi vùng mù sương Langbiang Đalat? Có ai còn nhớ tiếng còi “hít”chói tai đặc trưng của tàu chạy bằng hơi nước xưa kia…?

Những thứ đó phải vượt hành trình nửa vòng trái đất để đến xứ Thụy Sĩ mà nghe, mà thấy, những đầu kéo của ta đang hoạt động trên “đất khách, quê người”.


Thực tại

Vào những năm cuối cùng của thế kỉ 20, các kỹ sư người Thụy Sĩ đã sang Việt Nam để tìm kiếm những đầu máy cổ nguyên gốc của họ. Họ mua lại tất cả 7 đầu kéo mà Việt Nam xử dụng tới năm 1967, cùng với 2 bộ sườn xe và một số thiết bị, toa chở hàng ... đem về Thụy Sĩ với chiến dịch mang tên “Back to Switzerland”.

tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt

Những đầu máy đã được tập kết về Thụy Sĩ và được tu sửa lại


tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt

Và đưa vào sử dụng từ năm 1993


tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt

Đầu máy chạy bằng hơi nước còn lại duy nhất của thế giới chuẩn bị vượt đèo Furka, Thụy Sĩ


tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt

Còn ở Việt Nam, đầu máy nằm trơ trọi, miễn cưỡng trở thành vật phẩm trưng bày tại ga Đà Lạt


Những đầu máy đó khi được chuyển về Thụy Sĩ thì như được tái sinh một lần nữa. Cụ thể là 3 trong số 7 đầu kéo được đưa vào sử dụng từ năm 1993, các đầu kéo và các thiết bị còn lại được tân trang như mới và được đưa ra trưng bày tại buổi triển lãm “Tuyến đường sắt miền núi Furka” tại Bảo tàng Vận tải ở Lucerne, Thụy Sĩ.


-----------------------------

Nguồn : https://thuthachviet.com/Bai-Viet/da-lat-con-duong-sat-doc-nhat-vo-nhi-chau-a-nay-con-dau...-222


CÂU CHUYỆN PHÁ HOẠI TUYẾN ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA THÁP CHÀM - ĐÀ LẠT

 Posted on Tháng Sáu 16, 2017 by Phan Ba
Hình: Áp phích xe lửa răng cưa Đà Lạt
Do địa hình phức tạp, người Pháp đã phải cần đến 25 năm để xây dựng tuyến đường sắt răng cưa đặc biệt từ Phan Rang lên đến Đà Lạt, tiêu tốn mất 200 triệu đồng Franc Pháp. Thế nhưng sau năm 1954, tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này nhiều lần đã là mục tiêu tấn công của MTDTGP. Việt Cộng đã đặt m.ìn tự n.ổ khi tàu chạy ngang qua chừng tám lần. Qua phá hoại, một chiếc đầu tàu đã trật đường ray, trong một lần khác, m.ìn n.ổ đã tạo ra một hố to cho tới mức đầu tàu đã sụp vào trong hố đó và không chạy được nữa.
Năm 1967, một nhóm bốn người có vũ trang chận đoàn tàu chở hàng lại trên đoạn Da Tho (Le Bosquet) và Cầu Đất (Entrerays). Nhóm điều hành đầu tàu bốn người bị bắt mang vào khu rừng gần đó. Tại lần này, tổ lái tàu chỉ bị hỏi cung. Hai tuần sau đó, cũng chiếc đầu tàu đó và cũng cùng tổ lái tàu đó đã bị cũng nhóm bốn người đó chặn lại ở giữa tuyến Cà Bơ (K’Beu) và Ei Gió (Bellevue). Lần này tổ lái cũng phải rời khỏi đoàn tàu và phải cung cấp thông tin bằng cách nào có thể phá hủy đầu tàu một cách hiệu quả nhất. Ý tưởng đầu tiên của nhóm du kích là muốn cho n.ổ ở nơi đốt lò. Nhưng người lái tàu đã có thể giải thích cho họ hiểu rằng cho nổ lò hơi trong lúc không có thời gian kịp chạy ra đến một khoảng cách an toàn là một hành động t.ự s.át. Người lái tàu đề nghị cho nổ những thùng dầu được gắn thêm trên tàu, nhưng lại đánh lừa bốn người du kích bằng cách chỉ vào một thùng đựng nước. Do vậy, sau vụ nổ và sau khi nhóm du kích đó rút đi, người lái tàu với máy liên lạc vô tuyến đã có thể gọi một đầu máy khác cộng với quân đội VNCH tháp tùng bảo vệ đi đến nơi mà mang chiếc đầu tàu hư hỏng nhẹ này về đến Đà Lạt.
Sau sáu tháng sửa chữa, một tổ lái khác đã lái đoàn tàu từ Đà Lạt về Sông Pha và lần này thì đầu máy 40-302 đã chạy trên một quả mìn có sức n.ổ mạnh cho tới mức lò hơi của đầu máy đã n.ổ tung. Ba thợ đốt lò Hữu, Bích và Ngọc bị phỏng nặng và ch.ết ngay tại chỗ. Người lái tàu tên An bị sức n.ổ hất văng lên một cành cây. Ông thoát ch.ết, “chỉ” bị gãy tay.
Đầu tàu 40-302 bị phá hủy hoàn toàn, sau đó được kéo về Cầu Đất. Tuyến đường sắt răng cưa độc đáo ngưng hoạt động sau đó.
---------------------------
Đầu máy xe lửa răng cưa trên đường trở về lại Thụy Sĩ
Sau năm 1975, trong lúc thiếu vật liệu để tái xây dựng đường sắt Thống Nhất, đường ray đặc biệt của tuyến đường sắt răng cưa cũng bị tháo dỡ nhằm lấy vật liệu mặc dù không phù hợp. Được chế tạo đặc biệt cho các yêu cầu cao của đường sắt leo núi, ngay từ bu lông đến đai ốc cũng đã khác với vật liệu thông thường rồi. Sau đó chúng bị trộm cắp và mang đi bán sắt vụn.
Đầu máy xe lửa sau khi được phục hồi
Rồi đến năm 1990, toàn bộ các đầu máy xe lửa răng cưa hay những gì còn sót lại từ chúng được bán phế liệu về cho Thụy Sĩ (là nước đã sản xuất ra các đầu máy này), chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại. Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).
Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại miền Nam vì ngu dốt và thiển cận!
Nguồn: Phan Ba
 
 TOÀN BỘ CÁC ĐẦU MÁY XE LỬA RĂNG CƯA ĐƯỢC BÁN PHẾ LIỆU VỀ CHO THỤY SĨ

 

Tuesday, March 22, 2022

CHIẾN TRANH UKRAINE : CHUYỆN BÊN.. LỀ ? NGHE LÉN ? VÀ PHÁ SÓNG ?

 Trấn Lý

Nghe lén ? :

      Truyện Phong Thần có ông  thần Thuận phong Nhĩ nghe xa hàng .. vạn dặm ?

(Chiến tranh Việt Nam có các đơn vị tình báo viễn thông VNCH nghe được tin tấn công của CSBV như trận VC tấn công Phi trường Phù cát .. bị đánh tan tác; Trận KonTum , quân VNCH chờ sẵn.. vì biết giờ CSBV tấn công..)

     Các ông chỉ huy ISIS tại Afghanistan bàn chuyện bằng.. phone cầm tay : drone Mỹ từ đâu bắn tới.. toi mạng !.. Bin Laden khôn hơn, ra lệnh cho quân bằng.. Thư do tay chân thân tín chuyển giao ..

    Coi chừng.. nghe lén ! Quân đội Hoa Kỳ có một binh chủng riêng mang tên là SIGINT 

chuyên lo nghe lén các làn sóng và .. nghe luôn cả của các bạn Đồng Minh..

Tin SkyNews (8 March 2022 :

“.. nhờ nghe lén cuộc nói chuyện của 2 Sĩ quan tình báo viễn thông Nga, nên Ukraine mới biết.. Tướng Nga bị.. tử trận !”

  Quân đội Nga tại Kharkiv đã bất ngờ tự tắt các hệ thống liên lạc viễn thông ( được mã hóa để bảo đảm an toàn) của họ.., xẩy ra do họ phá hủy nhầm những tháp 3G của chính họ.. Quân Ukraine đã vào được hệ thống liên lạc của Nga và nhận được  các báo cáo của Nga về cái chết của Tướng Vitaly Gerasimov qua cuộc nói chuyện của Sĩ quan tình báo cao cấp Nga tên Christo Grozev cùng các nhân viên ! Bộ Tư lệnh Nha muốn dấu nhưng bị lộ nên đành công bố !

  Sự kiện này cho thấy Quân đội Nga đang gặp phải các trục trặc về kỹ thuật và về  thiết bị viễn thông quân sự trong trận chiến đang diễn ra ?

  Tình báo quân đội Ukraine cho biết Tướng Gerasimov, Tham mưu trưởng Quân đoàn 41st đã bị giết tại ngoại ô Kharkiv, một thành phố phía Đông, cách biên giới Nga-Ukraine khoảng 30km, thành phố này đang bị Nga bao vây và pháo kích”

  Trong cuộc liên lạc mà Ukraine nghe được này , sĩ quan tình báo Nga được thông báo là Hệ thống viễn thông  bảo mật Era của Quân đội Nga.. đã không còn hoạt động ? Era được xem là một hệ thống liên lạc viễn thông mã hóa (crypto) tối tân và rất đắt tiền của quân đội Nga, Bộ Quốc phòng Nga mới chỉ đưa vào hoạt động vào  đầu năm vừa qua và bảo đảm là sẽ hoạt động được 24/24 trong mọi thời tiết.. : Hệ thống này cần có hệ thống kết nối dữ liệu 3G/4G để hoạt động (data connections) .. Quân Nga khi tấn công vào Kharkiv đã phá hủy các tháp 3G/4G này và thay vào bằng các trang bị viễn không.. không đồng bộ   (loại Stingray từng xài tai Syria ), do đó  Era..hết hoạt động ? (Lý do.. không ai hiểu được ?)

    Các quan sát viên độc lập ghi nhận : “quân Nga.. bỏ xe ra ngủ ngoài trời vì sợ bị tấn công, lý do là vì  họ đang phải dùng các trang bị viễn thông dân sự để liên lạc với nhau .. và có khi phải dùng cả điện thoại cầm tay di động để thông tin cho nhau ?

   Các máy vô tuyến quân sự của Nga , mà quân Ukraine thu hồi từ các quân xa Nga bỏ lại, cùng loại  với quân Ukraine được trang bị.. nhưng việc Nga dùng liên lạc viễn thông dân sự để truyền tin.. thì quả thật khó hiểu nổi ?

    Các tay ‘chơi vô tuyến tài tử, rà các làn sóng radio đều nghe được nhiều tin ‘bạch hóa’ giữa các sĩ quan Nga tại chiến trường ?

   Và quân đội Nga tại Krarkiv  còn đang liên lạc với nhau bằng.. phone di động (texting !), xài các thẻ sim địa phương có sẵn .Ukraine cứ nghe lén tự do ?

2- Phá sóng và gây nhiễu :

    Chiến tranh điện tử (Electronic warfare = EW), không tiếng súng nhưng lại vô cùng quan trọng vì sẽ quyết định thắng bại của trận chiến, chỉ bằng ..các trò chơi như các em nhỏ chơi.. games !

  EW có thể gây ‘kẹt’ (jam) các tín hiệu điện tử từ các dàn radar, phá các tần số vô tuyến (radio frequencies), làm các vũ khí có dẫn đường (guided).. bị ‘mù’ và dĩ nhiên là phá rối mọi cuộc hành quân của đối phương..

  Electronic Warfare (xin phân biệt với Cyber-warfare), theo định nghĩa của Bộ Quốc   Phòng Mỹ là “những hoạt động dùng năng lượng điện từ (electromagnetic energy) để kiểm soát ‘phổ điện từ’ (electromagnetic spectrum, gọi tắt là spectrum) để tấn công đối phương và spectrum bao gồm tất cả mọi làn sóng vô tuyến..các tia nhìn được và cả các tia gamma mất thường không thấy. EW đã diễn ra từ Thế chiến thứ 2 , bằng các radar và.. Các cách gây nhiễu radar..Trong chiến tranh VN : Mỹ và khối Cộng đã dùng nhiều thiết bị cảm ứng, thiết bị ngăn chặn làn sóng để cản trở việc hoạt động của các phi cơ chiến đấu..

   Tân tiến hơn , các tín hiệu GPS, tối cần thiết cho việc định vị của xe quân sự.. là những tín hiệu vô tuyến…Một máy phát sóng có thể ngăn chặn drone, không cho nhận tín hiệu của Trung tâm điều hành và drone không cất cánh được, Tại Syria, Nga đã dùng các xe quân sự gắn hệ thống Krasukha-4 để ‘gây loạn’ drone. TQLC Mỹ đã dùng hệ thống gây nhiễu MRZR LMADIS từ 2019..

      Quân đội Nga đã dùng các Hệ thống gây nhiễu GPS trong khu vực Đông Ukraine từ khi khởi động cuộc chiến Crimea (2014)

   Tướng hồi hưu Mỹ Lt Gen.Ben Hodges giải thích về vấn đề tại sao EW của Nga lại không hữu hiệu để chống Ukraine ?

“Quân đội Ukraine đã phân tán một số cơ cấu chỉ huy để tránh các phá hoại tập trung của Nga ?

EW của Nga đã được ghi nhận khi họ xâm lấn Vùng Donbass, phía Đông Ukraine từ 2014  và bài học Ukraine ứng dụng để chống đỡ  là phân tán, tránh tập trung các hệ thống ..vì  Nga rất có thể chưa có kinh nghiệm tấn công nhiều mục tiêu cùng một lúc :   Khi tập trung thành Trung Tâm Hành quân,, trung tâm này sẽ phát rất nhiều tín hiệu điện tử mà các cảm ứng= sensors của Nga dễ tìm ra. Nga có Hệ thống EW ‘rất tập trung’ nhưng lại rất yếu kém về cách thực hiện các chiến dịch phức tạp cần phối hợp đồng bộ ?

    Ukraine đang hoạt động với các hệ thống vô tuyến, không có thiết bị phối hợp chung (networking ) các cảm ứng điện tử ? và do đó tránh được sự theo dõi của EW  Nga khi Nga muốn định vị trí gọi là ‘line of bearing’ đánh dấu ‘vết điện tử’ (electronic signature). !

Khi một ‘dấu’ electronic signature, được phát sóng, nơi phát ra tín hiệu có thể bị địch quân tìm ra.. và Ukraine thường ‘tắt máy’ phát sóng khi không dùng đến, để Nga.. không truy tìm được.”

  • Quân đội Ukraine và EW ?

  Quân Ukraine đã được trang bị một số Hệ thống EW từ Mỹ và NATO  Đa số các trang thiết bị được gửi đến UKraine từ sau cuộc chiến Crimea khi Ukraine phải đương đầu với EW của Nga

Hệ thống căn bản và quan trọng của Ukraine là Bukovel-AD (anti-UAV system), hệ thống phòng vệ chống UAV (Counter-unmanned aerial vehicle) chống định vị, phá rối liên lạc vô tuyến và khiến đầu đạn ‘tinh khôn’ bị lạc.. Hệ thống  Bukovel được thiết kế để chống  các UAV Orlan-10 của Nga và  đã chứng tỏ khả năng hữu hiệu khi.. drone của Nga  hầu như vắng mặt trên không phận vùng Donbass

                                          Bukovel- AD R4 EW-system                                        

                        Bukovel tại Mặt trận

  • Hòa Lan gửi radar canh báo cho Ukraine (thêm một cuộc thi đua vỏ khí ?)

  Bộ QP Hòa Lan cung cấp cho Ukraine 2 dàn radar, di động 2D canh chừng dưới đất Thales Squire và 5 hệ thống võ khí AN/TPQ-36 Firefinder để xác định vị trí radar.

          Thales-Squire radar system                                                        

  Hệ thống Squire sẽ giúp pháo binh Ukraine xác định mục tiêu chính xác hơn, phát hiện bộ binh Nga di chuyển trong vòng 10 m và các xe tăng di động trong vòng 48km, Đạn pháo kích có thể biết trước biết trước khi đạn còn cách xa vị trí của quân trú phòng 20km và  nhận diện các UAV.. cách phe ta từ 5-6 km..

      AN/TPD-36 là loại radar di động 3D có khả năng định vị các ổ pháo của địch quân  cùng một lúc.. Quân đội Ukraine đã được US Army cung cấp 2 giàn này từ 2015..

                                     AN/TPD-36 vừa do Hòa Lan.. tặng

Trận chiến Ukraine , sau 2 tuần sẽ còn nhiều chuyện bất ngờ.. khó hiểu ?

                                                                    Trần Lý 10/ tháng 3

Nguồn : https://dongsongcu.wordpress.com/2022/03/12/chien-tranh-ukraine-chuyen-ben-le-nghe-len-va-pha-song-tran-ly/

Sunday, March 13, 2022

VIỆT NAM DÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀO NGÀY 11/3/1945 HAY 02/9/1945 ?

Đỗ Kim Thêm

Tìm hiểu lịch sử

VN-Map

Vấn đề

Theo đúng chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á đã đề ra từ trước, ngày 11/3/1945, Nhật thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu. Nhân dịp này, Bảo Đại tuyên bố là kể từ nay, chính phủ Việt Nam được hoàn toàn độc lập, có chủ quyền ở ba Kỳ, bãi bỏ các hiệp ước do Pháp bảo hộ và cùng hợp tác quốc tế để đạt được mục đích chung theo tinh thần của tuyên ngôn Đại Đông Á.

Về sau, lúc 2 giờ chiều ngày 2/9/1945, khi nhân danh đại diện cho phong trào giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh tuyên bố trước Quảng trường Ba Đình là Việt Nam từ nay thoát khỏi sự cai trị của chế độ thuộc địa của Pháp và tình trạng chiếm đóng của Nhật. 

Dựa theo nội dung trong Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 của Tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson, ông Hồ hô hào là tất cả mọi người được sinh ra bình đẳng, vì “Đấng Tạo hoá đã trao cho chúng ta quyền bất khả chuyển nhượng: quyền sống, quyền tự do và quyền hạnh phúc”. 

Như vậy, Bảo Đại và Hồ Chí Minh khai sinh ra nền độc lập cho Việt Nam trong hai ngày khác nhau. Đâu là sự thật của lịch sử? 

Nhìn lại đất nước lâm cảnh hỗn loạn theo trình tự của biên niên sử, thế hệ hậu chiến đã có những cách giải thích khác biệt.

 Nhật lật đổ Pháp

Sau khi không kích đột ngột Trân Châu Cảng vào ngày 7/12/1941, Nhật chiếm nhiều lãnh thổ khác tại châu Á. Nhìn chung, nếu so với các đế quốc khác như Pháp, Anh và Hà Lan, thực ra, Nhật đối xử với người dân thuộc địa tàn bạo và đẩm máu hơn. 

Từ tháng 8 năm 1944, Đồng minh giải phóng Paris. Việt Nam nhận ra ngay một vận hội mới: ngày tàn của chế độ Pháp đã bắt đầu và nguy cơ đang đến gần hơn bao giờ hết.

Khi phát hiện Pháp chuẩn bị chống Nhật trong lúc Đồng minh đổ bộ vào Đông dương, ngày 9/3/1945, Nhật nhanh chân lật đổ Pháp. 

Tại Sài Gòn, đại sứ Nhật Matsumoto trao cho Đô đốc Decoux một tối hậu thư đòi Pháp phải trao quyền lãnh đạo quân đội Pháp cho Nhật. Sau 2 giờ tham khảo, Đô đốc Decoux quyết định bác bỏ yêu cầu này. 

Trong vòng 48 giờ, Nhật tước quyền của Đô đốc Decoux, cùng lúc ra lệnh bỏ tù hoặc tập trung các nhân viên Pháp. Cũng tương tự như tại Sài Gòn, tại Hà Nội, Nhật tập trung nhiều người Pháp, nhưng có hành hạ một số cho đến chết. 

Do đó, chỉ trong hơn một ngày, chế độ thực dân Pháp trên toàn Đông dương không còn tồn tại và Nhật cai trị thay cho Pháp. 

Đế quốc Việt Nam với Hoàng đế Bảo Đại 

Nhật báo Sài Gòn loan tin Đế quốc Việt Nam tuyên bố độc lập.
Hai hôm sau, ngày 11/3/1945, Bảo Đại tuyên bố là kể từ nay, chính phủ Việt Nam có chủ quyền ở ba Kỳ, độc lập, bãi bỏ các hiệp ước do Pháp bảo hộ và cùng hợp tác quốc tế để đạt được mục đích chung theo tinh thần tuyên ngôn Đại Đông Á của Nhật.

Ngày 7/4/1945, Bảo Đại chuẩn y thành phần nội các đầu tiên do Trần Trọng Kim đề nghị. Ngày 17/4/1945 Thủ tướng Trần Trọng Kim nhậm chức và ngày 12/5 Bảo Đại tuyên bố giải thể Viện Dân biểu Trung kỳ. 

Thực tế cho thấy là có những cáo buộc cho rằng Bảo Đại không có thực lực, khi quyền tự trị tài chính và điều động nhân sự cho đất nước đều do Nhật nắm giữ. 

Cũng như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng, Bảo Đại có bù nhìn hay không, đó chỉ là một lối giải thích về bản lĩnh chính trị nhất thời của giới lãnh đạo, mà tình thế không cho phép có thể xảy ra khác hơn. Về sau, các nước khác cùng hoàn cảnh như Việt Nam cũng thoát ra khỏi sự lệ thuộc của Nhật.

 Về mặt pháp lý, ngày 11/3/1945 là một sự kiện quan trọng để cộng đồng quốc tế công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập và có chủ quyền ra đời mà Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng Kim là giới lãnh đạo đầu tiên.

Khi Việt Nam đã thành hình, thì Hồ Chí Minh một lần nửa lại khai sinh cho Việt Nam và tự quyền tuyên bố là Việt Minh giành độc lập vào ngày 2/9, thực tế đây là một diễn biến các cuộc bạo loạn thuộc về xáo trộn nội chính để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim.

Việt Minh cướp chính quyền 

Diễn biến đầu tiên là ngày 17/ 8, tại Quảng trường Nhà hát lớn Thành phố, Tổng hội Công chức của chính quyền Trần trọng Kim có tổ chức một cuộc biểu tình để ủng hộ chính phủ trong việc thu hồi chủ quyền. Trong khí thế hân hoan, đoàn người biểu tình hát vang bài Tiếng Gọi Thanh Niên và hô to khẩu hiệu "Việt Nam độc lập muôn năm", các thành viên của Việt Minh nhảy lên khán đài với súng ngắn trong tay và dồn các viên chức chính phủ vào một góc, hạ cờ Việt Nam xuống, trương cờ đỏ sao vàng lên và hô to "Ủng hộ Việt Minh". Tình trạng hỗn loạn cực độ trong buổi lễ làm cho ban tổ chức không thể tái lập trật tự. Nhân dịp này, các cán bộ Việt Minh kêu gọi quần chúng ủng hộ để đánh đổ chính quyền tay sai, đấu tranh cho độc lập dân tộc, phân phát cờ đỏ cho dân chúng để đón quân giải phóng sắp ở chiến khu về.

Sau đó, Việt Minh điều khiển hàng trăm người vào Bắc bộ phủ hô các khẩu hiệu đả đảo phát xít, hoan hô giải phóng, hô hào dân chúng đi chiếm các công sở.

Sáng ngày 18/8, Việt Minh chiếm nhà số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo) dùng làm trụ sở. 

Ngày 19/8, lúc 10 giờ rưỡi, Thanh niên tự vệ, một tổ chức của Việt Minh tại Hà Nội, huy động được nhiều dân chúng đến Quảng trường Nhà hát lớn, xâm chiếm Phủ Khâm sai và bắt giữ Khâm sai Bắc kỳ Nguyễn Xuận Chữ mà không gặp bất kỳ kháng cự nào. 

Tối 19/8, Việt Minh đạt được một thoả thuận với tướng Tsuchihashi, Tổng tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật, là phía Nhật sẽ không can thiệp vào các hoạt động của Việt Minh; đổi lại, Việt Minh sẽ không tấn công binh lính Nhật. 

Tại Huế, tình hình yên tĩnh hơn, nhưng đại diện của Nhật yết kiến vua Bảo Đại và tỏ ý muốn can thiệp chống lại Việt Minh để vãn hồi trật tự. Bảo Đại và Trần Trọng Kim không đồng ý với lý do là Nhật đang đầu hàng Đồng minh và đang chờ giải giới, mà cũng có thể giải thích là cả hai có khuynh hướng hiếu hoà trong hoàn cảnh bất ổn.

Đó là một thuận lợi cho Việt Minh trước tình thế này. Nếu Nhật được phép can thiệp quân sự, diễn biến chắc chắn sẽ khác hẳn, vì thực lực của Việt Minh lúc bấy giờ còn trong giai đoạn phôi thai. 

Không thể bảo vệ ngai vàng cho Bảo Đại và điều hành công việc nội chính, Trần Trong Kim xin từ chức. Việt Minh biết tận dụng thời cơ này bằng cách gây áp lực buộc vua Bảo Đại thoái vị trong ngày 22/8. Đó cũng là một thuận lợi khác. 

Ngoài mọi dự liệu, Bảo Đại chấp nhận thoái vị một cách đơn giản khi tuyên bố : “Muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị.” và muốn trở thành công dân Vĩnh Thuỵ. Vào ngày 25/8 tại Huế, khi công dân Vĩnh Thụy trao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Việt Minh và được gắn huy chương, buổi lễ thoái vị được kết thúc. 

Đây là một món quà vô giá mà Bảo Đại tặng cho Việt Minh và làm thay đổi triệt để lịch sử Việt Nam cận đại. Đế quốc Việt Nam với triều đại Bảo Đại chấm dứt và Việt Minh nhận trách nhiệm lịch sử trong một khởi đầu đầy giông bão. 

Nhìn lại biến chuyển này trong toàn cảnh, người hậu thế sẽ dễ nhận ra là Bảo Đại vẫn còn có những giải pháp tương ứng khả thi khi Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức.

Trước áp lực của buổi giao thời, Bảo Đại vẫn có thể tìm một chính khách khác bản lĩnh hơn Trẩn Trọng Kim để đảm nhiệm chức vụ, ngay cả việc mời Hồ Chí Minh hợp tác, thí dụ như để thành lập một chính phủ mới trong một khuôn khổ khác hơn. Điển hình là Bảo Đại có thể đứng ra kêu gọi thành lập chế độ Quân Chủ Lập Hiến mà nhiệm vụ là soạn hiến pháp, lập chính phủ lâm thời với chủ trương đại đoàn kết dân tộc.

Khi can đảm hơn, Bảo Đại có nhiều triển vọng thành công để thi hành sách lược này. Sự thật hiển nhiên là uy tín của hoàng triều vẫn còn vững vàng trong dân chúng trong khi Việt Minh không có ảnh hưởng nào đáng kể tại miền Trung và miền Nam. Dĩ nhiên đây là một giả thuyết không hơn và không kém.

Nhưng một đại bất hạnh cho Việt Nam trong giai đoạn này là 95% dân chúng mù chử và không ai am tường chính sự, nên không có một tiếng nói nào gây tiếng vang trong chính trường.

Việc Bảo Đại thoái vị, giải tán chinh phủ và triều đình, trao toàn quyền cho Việt Minh đang chưa có thực lực và thanh thế là một sai lầm nghiêm trọng về trách nhiệm chính trị và lịch sử.

Tình thế ngả nghiêng và dân chúng hoang mang. Tại miền Nam, Việt Minh cũng biết nắm lấy thời cơ. Ngày 25/8/1945 tại Sài Gòn một tổ chức của Việt Minh trá hình ra đời là Uỷ Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ, gồm có 9 Uỷ Viên trong đó Việt Minh chiếm đa số và Trần văn Giàu tự xưng là Chủ tịch. 

Tại miền Bắc, Việt Minh thuận lợi hơn khi nhanh chóng chiếm được sáu tỉnh và gây ảnh hưởng mạnh đến các chính quyền thân Nhật trong khu vực.

Có nhiều lý do để giải thích về sự thành công khá nhanh chóng và lan rộng của Việt Minh, không phải chỉ vì chiếm đóng của Nhật lỏng lẻo, Nhật không can thiệp giúp cho Đế Quốc Việt Nam làm cho tình thế ổn định và Bảo Đại và Trần Trọng Kim bất lực, mà còn nhiều lý do khác. Điển hình nhất là vì chính sách kinh tế Nhật phục vụ cho chiến tranh nên gây lạm phát cao độ, chính sách nông nghiệp có nhiều sai lầm là lo thu mua thóc để xuất cảng nên gây ra nạn đói tràn ngập tại miền Bắc trong năm 1944 và 1945. Kết qủa là trên hai triệu người chết đói và hàng trăm ngàn người nghèo có lý do để đi theo Việt Minh. 

Kết luận 

Nhìn lại bối cảnh của đất nước theo biên niên sử, ngày 11/3/1945 ngày Bảo Đại tuyên bố Việt Nam giành độc lập phải được xem là ngày chính thức chế độ thực dân Pháp cáo chung. Sự thật này phải đến trước ngày 19/8/1945 và ngày 2/9/1945. 

Các diễn biến được sử gia Việt Minh gọi chung là Cách mạng tháng Tám đánh Pháp đuổi Nhật giành độc lập không thể xảy ra theo đúng như sự thật của tiến trình lịch sử  trong khi Việt Minh giành quyền của chính phủ Trần Trọng Kim trong sự thoả hiệp công khai với Nhật. 

Tóm lại, Hồ Chí Minh không có căn bản nào để khai sinh độc lập cho Việt Nam và đây cũng là lý do để chứng minh là Việt Nam giành được độc lập vào ngày 11/3/1945, không thể khác hơn.

 Đỗ Kim Thêm

Nguồn : https://vietbao.com/a311432/viet-nam-gianh-doc-lap-dan-toc-vao-ngay-11-3-1945-hay-2-9-1945-