; }

Friday, June 21, 2019

PHÁI ĐOÀN CỘNG SẢN BẮC VIỆT Ở TRẠI DAVIS



 Nhóm nghiên cứu vô tuyến 509 (The 509th Radio Research Group), tổ chức Tình báo và Truyền tin của Quân đội Hoa Kỳ, đã rời trụ sở tại Trại Davis (đặt tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt) vào tháng 3 năm 1973 khi Hoa Kỳ rút quân cuối cùng khỏi Việt Nam.   

Trớ trêu thay, sau đó nó trở thành ngôi nhà cho phái đoàn Bắc Việt trong Ủy ban Liên hợp Quân sự (Joint Military Commission). 

JMC, bao gồm cả người miền Nam, được thành lập như một phần của Hiệp định hòa bình Paris để giám sát cái gọi là "ngừng bắn".  

Theo lời mời của phái đoàn Bắc Việt, các phóng viên đã tham dự một cuộc họp báo tại Trại Davis, nơi phái đoàn Bắc Việt phàn nàn về điều kiện sống tồi tàn ở đó, nói rằng đó là một 'trại tập trung', một người đàn ông của Nhóm nghiên cứu vô tuyến 509 cảm thấy buồn cười. 

JMC, giống như tất cả các thể chế và thỏa thuận của Hiệp định Hòa bình Paris, đã thất bại.


THỚI TÍN chuyển dịch

Wednesday, June 5, 2019

NHIỆM VỤ "VÔ TUYẾN TRẮC GIÁC - ARDF" TRÊN KHÔNG ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM

Ngày 22 tháng 3 năm 1962, Cơ quan An ninh Quân đội (ASA) đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm hướng phát thanh trên không đầu tiên tại Việt Nam. Đó là một chiếc máy bay một động cơ bay thấp, chậm và chỉ có chỗ cho một vài người. Nhiệm vụ này đã bay định hướng các máy phát Việt Cộng ở phía đông Sài Gòn.

Máy bay DF
(direction finding) chưa từng được thử trước đây. Những thách thức là rất nhiều, từ việc tạo ra một hệ thống trên không có thể phân biệt giữa sóng trực tiếp và sóng trời đến việc chọn loại máy bay phù hợp cho nhiệm vụ.
Tuy nhiên, đến mùa xuân năm 1962, một năm sau khi đến Việt Nam, Đơn vị nghiên cứu vô tuyến 3rd cuối cùng đã có thể cung cấp hỗ trợ tình báo tín hiệu (SIGINT) tốt hơn cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa với khả năng tìm kiếm hướng phát thanh trên không (ARDF) của ASA 

Ngày 22 tháng 03 năm 1962 ASA đã thực hiện nhiệm vụ DF đầu tiên tại VietnamB

Toán điện tử ARDF có thể tiến gần hơn đến máy phát mục tiêu mà không khiến bản thân gặp nguy hiểm. Một máy bay có thể di chuyển đủ nhanh và đủ diện tích để loại bỏ nhu cầu về mạng lưới các đội DF. Đáp ứng với các yêu cầu của chỉ huy chiến thuật là nhanh hơn so với thiết bị DF mặt đất và quan trọng nhất là ARDF chính xác hơn. Nó có thể nhắm chính xác vào vị trí của kẻ thù, dẫn đến sự theo dõi của pháo binh, không kích và các hoạt động trên bộ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

 

THỚI TÍN chuyển dịch

Nguồn: cryptologicfoundation.org

Monday, May 6, 2019

QUÂN NHÂN MỸ ĐẦU TIÊN TỬ TRẬN TẠI VIỆT NAM

ĐÂY LÀ MỘT TRONG NHỮNG CỐ VẤN ĐẦU TIÊN CÙNG CÁC TOÁN VÔ TUYẾN TRẮC GIÁC CỦA "CƠ QUAN NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT" TIỀN THÂN CỦA "PHÒNG 7 BỘ TỔNG THAM MƯU"

Công việc của quân báo Mỹ nguy hiểm không kém lính tác chiến, đặc biệt tại một chiến trường mà lính Mỹ "bị đột kích nhiều hơn mặt đối mặt kẻ thù" -  John F. Kennedy.
SP4 James T. Davis, USA, KIA
June 1, 1936 – December 22, 1961

Một trong những người Mỹ đầu tiên bị tử trận tại Việt Nam. SP4 Davis là một nhân viên vô tuyến trắc giác (định hướng vị trí máy phát truyền tin) (
direction finding DF).
Vào ngày 13 tháng 5 năm 1961, đội ngũ nhân viên Cơ quan An ninh Quân đội đầu tiên đã đến Nam Việt Nam (thành lập một tổ chức tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt) để hỗ trợ cho Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ và giúp huấn luyện Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. 

Trong những năm đầu của cuộc chiến tranh, Cơ quan an ninh quân đội ASA tại Việt Nam được giao cho Đơn vị nghiên cứu vô tuyến số 3. Nhiệm vụ chính của họ là xác định vị trí các máy phát Việt Cộng hoạt động ở phía nam. Nhiệm vụ này đang ở giai đoạn đầu khi một trong những nhân viên vô tuyến trắc giác (DF) của họ, SP4 James T. Davis, bị giết trong một cuộc phục kích của Việt Cộng trên một con đường bên ngoài Sài Gòn. Ngày 22 tháng 12 năm 1961, Davis trở thành người lính Mỹ đầu tiên tử trận trong Chiến tranh Việt Nam.
Việt Nam Cộng hòa, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt
Tháng 12 năm 1961, Chuyên gia James T. Davis thuộc Đơn vị Nghiên cứu Vô tuyến số 3 tích cực làm việc. Kể từ khi đến căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt gần Sài Gòn vào tháng 5, anh và 92 thành viên khác trong đơn vị đã đối phó với bất kỳ thử thách khó khăn nào. Cuộc sống của một nhà mật mã học quân đội Hoa Kỳ chưa bao giờ dễ dàng, nhưng nhiệt độ 100 độ F và ngập nước liên tục trong nhà chứa máy bay cũ khiến nhiệm vụ của họ trở nên khó khăn hơn.


Trên thực địa, tình hình thậm chí còn khó khăn hơn. Trong nhiều thập kỷ, miền Bắc Cộng sản, do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã chiến đấu để thiết lập một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, thoát khỏi ảnh hưởng của nước ngoài. Lực lượng của Hồ đã đạt được thành công lớn trước Nhật Bản vào những năm 1940 và Pháp vào những năm 1950. Đến đầu những năm 1960, nhiều người lo sợ rằng nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, thì toàn bộ Đông Nam Á có thể sẽ đi theo. Mao Trạch Đông đã từng lưu ý rằng cách để giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh phi truyền thống là bảo đảm lực lượng của bạn có khả năng "bơi giữa nhân dân như cá bơi dưới biển". Lực lượng của Hồ đã làm theo lời khuyên của ông và bằng những nỗ lực của mình đã có thể chiếm được một phần dân số miền Nam.
"Tham vọng không giới hạn... Số phận không rõ..."


Một loạt các sự kiện đã đưa James T. Davis - những người bạn của anh ta gọi anh ta là Tom Tom - đến vùng đất kỳ lạ và nguy hiểm này là bất cứ điều gì ngoài điển hình. Năm 1958, ông đã được theo đuổi các nghiên cứu của mình tại Đại học
Tennessee Technological University (TTU) ở Cookeville, khoảng 20 dặm từ nhà thời niên thiếu của ông Livingston. Con trai lớn của một dược sĩ địa phương, bản thân là cựu chiến binh của chiến trường châu Âu trong Thế chiến thứ hai, thời thơ ấu của Tom, giống như một bản in của Norman Rockwell. Khi anh ấy không xuất sắc trên sân bóng cho Học viện Livingston, Tom đã dành phần lớn thời gian rảnh của mình để săn bắn và câu cá trong những khu rừng sâu bao quanh quê hương. Tại một số thời điểm trong năm cuối tại TTU, anh đã quyết định chấm dứt việc học tập để gia nhập Quân đội Hoa Kỳ. Sau khi nhập ngũ, anh được gửi đầu tiên đến Ft. Jackson để đào tạo cơ bản và sau đó đến Ft. Dành cho hướng dẫn trong việc tìm hướng hướng vào. Vào tháng 5 năm 1961, ông nhận được lệnh tham gia Đơn vị nghiên cứu vô tuyến thứ 3, Việt Nam Cộng hòa. Khi còn học trung học, Davis đã từng viết rằng tham vọng của tôi là không giới hạn, số phận của tôi không rõ. Lời nói của anh ấy sẽ chứng tỏ là tiên tri.
Đơn vị nghiên cứu vô tuyến thứ 3

 
Đơn vị Davis, đã có một công việc khó khăn và nguy hiểm. Kể từ Thế chiến thứ nhất, Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng công nghệ định hướng trên chiến trường. Việt Nam cũng không ngoại lệ với truyền thống này. Đơn vị nghiên cứu vô tuyến số 3 cố vấn kỹ thuật cho các đơn vị Việt Nam
Cộng Hòa trong việc định vị tín hiệu của kẻ thù và cung cấp huấn luyện và hướng dẫn có giá trị về các cách để có được một bản xác định vị trí đóng quân. 

 Máy PRD - 1

Các toán Vô tuyến trắc giác (PRD )Việt Nam này, như họ được gọi (họ được đặt tên theo phần thiết bị được sử dụng trong chiến dịch), hy vọng sẽ tăng tỷ lệ tìm thấy các đơn vị Cộng sản lén lút và đánh du kích gây khó khăn cho Quân đội Cộng hòa của miền Nam Việt Nam.
Nhưng trong khi việc định hướng đã được chứng minh là một công cụ có giá trị trong quá khứ, giống như bất kỳ quy trình kỹ thuật nào, thành công của nó phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố bên ngoài nào.
Ở Đông Dương, khí hậu và địa hình khiến nghệ thuật tìm đường trở nên vô cùng khó khăn. Trong nhiều lĩnh vực hoạt động trên toàn thế giới, nhiệm vụ của họ sẽ ít khó khăn hơn nhiều. Tuy nhiên, do cảnh quan núi non và độ ẩm cao trong khu vực, 
Chuyên gia F rất khó để họ tiến hành công việc của họ ở một vị trí an toàn và an toàn, Davis của chúng tôi cách xa mặt trận. Sự thật phũ phàng, là lạnh lùng, giống như rất nhiều nhà tìm kiếm mật mã vô tuyến trong quá khứ và hiện tại, Davis và các đơn vị mà anh ta làm việc cùng đã phải "tiếp cận" để thành công.

Phục kích tại Cầu Xáng

 Ngày 22 Tháng 12, Chuyên gia Davis nhận được lệnh để dẫn dắt một toán PRD-1 Việt Nam đến một khu vực khoảng 12 dặm từ cơ sở trong một nỗ lực để xác định vị trí một lực lượng du kích Việt Cộng hoạt động trong khu vực. Họ di chuyển bằng xe tải đến khu vực, thiết lập và phối hợp với một đội tương tự, cố gắng xác định vị trí của kẻ thù. Ngay cả trước khi thực hiện nhiệm vụ vào ngày 22, 
Tom đã hiểu được sự nguy hiểm của công việc của anh ta, lưu ý trong một thư về nhà rằng, "...những kẻ địch họ dường như đã bắt đầu cho chúng tôi biết rằng ...nó có thể trở nên hơi nguy hiểm".
Ban đầu, hoạt động dường như là thường lệ; Tuy nhiên, 10 dặm bên ngoài căn cứ, gần đồn
Pháp cũ tại Cầu Xáng, thợ săn trở thành bị săn. Chiếc xe tải chở đội đâm vào một mô đất được đặt ở vị trí chiến lược và bị buộc ra đường. Nhóm ngay lập tức bị tấn công. Davis và người của anh ấy đã chiến đấu anh dũng, nhưng cuối cùng đã bị khuất phục trước hỏa lực của kẻ thù. Một đơn vị dân vệ miền Nam tuần tra đã nhanh chóng cứu viện, nhưng đã quá muộn. Davis và chín thành viên trong đội của anh nằm chết. Ông là người Mỹ đầu tiên mất mạng trong chiến đấu, trong cái được gọi là Chiến tranh Việt Nam. Hai tuần sau, để tưởng nhớ đến sự phục vụ và hy sinh của Davis, trụ sở đơn vị của anh ta ở Tân Sơn Nhứt được đặt tên là " Trại Davis ".

Và bây giờ chúng ta tham chiến một lần nữa

 Thậm chí ngày nay, các sự kiện xung quanh Chiến tranh Việt Nam đang có nhiều tranh cãi. Nhưng có những sự thật nhất định về cuộc xung đột vẫn không thể chối cãi. Một trong số đó là trong thời gian khó khăn và đau thương này - một thời gian đầy nghi ngờ và tranh cãi - có hàng ngàn binh lính, thủy thủ, lính không quân và Thủy quân lục chiến, như James Davis, vẫn ở trên cuộc đấu tranh chính trị và chỉ đơn giản là đi và làm nghĩa vụ cho đất nước của họ.
Sự hy sinh của Davis sẽ chứng minh rõ ràng rằng những người bảo vệ nước Mỹ không được chọn thời điểm và nơi họ chiến đấu. Họ được đưa ra mệnh lệnh và có nghĩa vụ ràng buộc phải tuân theo khả năng tốt nhất của họ. Tom và tấm gương mà anh ta đặt ra là những lời nhắc nhở nghiêm túc về nghĩa vụ nghiêm trọng này và thực tế là tương lai của nền cộng hòa của chúng ta dựa trên sự sẵn lòng của những người đàn ông và phụ nữ đó để trả lời lời kêu gọi vũ trang để bảo vệ tự do.



Đối với những quốc gia mới mà chúng ta chào đón trong hàng ngũ tự do, chúng tôi cam kết rằng một hình thức của chính quyền thực dân sẽ không qua khỏi chỉ để được thay thế bởi một chế độ chuyên chế lớn hơn rất nhiều. Bây giờ, chúng tôi một lần nữa tham chiến để chịu gánh nặng của một cuộc đấu tranh kéo dài, hết năm này qua năm khác, vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong cơn hoạn nạn.

John F. Kennedy
Ngày 20 tháng 1 năm 1961



THỚI TÍN chuyển dịch
 Hình ảnh : sưu tầm internet

Nguồn tham khảo :
https://stationhypo.com/2016/06/01/remembering-sp4-james-t-davis-usa-kia/ 
SP4 James T. Dave Memorial Wall

 


 

Remembering SP4 James T. Davis, USA, KIA


 SP4 James T. Davis, USA, KIA
June 1, 1936 – December 22, 1961
One of the first Americans to be Killed In Action in Vietnam.  SP4 Davis was a direction finding (DF) operator.
On 13 May 1961, the first contingent of Army Security Agency personnel arrived in South Vietnam (setting up an organization at Tan Son Nhut Air Base) to provide support to the U.S. Military Assistance Advisory Group and help train the South Vietnamese Army. During the early years of conflict, ASA troops in Vietnam were assigned to the 3rd Radio Research Unit. Their primary mission was to locate Viet Cong transmitters operating in the south. This mission was in its early stages when one of their direction finding (DF) operators, SP4 James T. Davis, was killed in a Viet Cong ambush on a road outside Saigon. The date of the ambush, 22 December 1961, made Davis the first American soldier to lose his life during the Vietnam War.
Tan Son Nhut Air Base, Republic of Vietnam
December of 1961 found Specialist James T. Davis of the 3rd Radio Research Unit hard at work. Since his arrival at Tan Son Nhut Air Base near Saigon in May, he and the 92 other members of his unit had dealt with any number of difficult challenges. Life as a U.S. Army cryptologist was never easy, but the 100-degree temperatures and constant flooding in the old hangar they called home often made their task even more difficult.
In the field, the situation was even more demanding. For decades, the Communist North, led by the resourceful Ho Chi Minh, had battled to establish an independent and united Vietnam free from foreign influence. Ho’s forces had met with great success against the Japanese in the 1940s and the French in the 1950s. By the early 1960s, many feared that if Indochina fell to the Communists, then the whole of Southeast Asia might follow. Mao Zedong had once noted that the way to win an unconventional war was to ensure that your forces had the capacity to “swim among the people as fish swim in the sea.” Ho’s forces had followed his advice and through their efforts had been able to overtake portions of the population of the South.
“Ambitions Unlimited… Fate Unknown…”
The series of events that had brought James T. Davis – his friends called him “Tom” – to this strange and dangerous land were anything but typical. In 1958, he had been pursuing his studies at Tennessee Technological University (TTU) in Cookeville, about 20 miles from his boyhood home of Livingston. The oldest son of a local pharmacist, himself a veteran of the European Theatre in WWII, Tom’s childhood resembled a Norman Rockwell print. When he was not excelling on the football field for Livingston Academy, Tom spent most of his free time hunting and fishing in the deep woods that surrounded his hometown. At some point in his senior year at TTU, he made the decision to end his academic studies to join the United States Army. After enlisting, he was sent first to Ft. Jackson for basic training and then to Ft. Devens for instruction in “direction finding.” In May 1961, he received orders to join the 3rd Radio Research Unit, Republic of Vietnam. During high school, Davis had once written that “my ambitions are unlimited, my fate unknown.” His words would prove to be prophetic.
The 3rd Radio Research Unit
Davis’ unit had a difficult and dangerous job. Since the First World War, the American Army had utilized direction-finding technology on the battlefield. Vietnam was no exception to this tradition. The 3rd Radio Research Unit provided technical advice to South Vietnamese units on locating enemy signals and provided valuable training and guidance on ways to get a “fix” on the insurgents’ locations. These Vietnamese PRD teams, as they were called (they were named after the piece of equipment used in the operation), hoped to increase the odds of finding the stealthy and quick-hitting Communist units that were making life difficult for the Army of the Republic of South Vietnam.  But while direction finding had proved to be a valuable tool in the past, like any technical process, its success was dependent on any number of external factors. In Indochina, climate and terrain made the art of direction finding extremely tricky. In many areas of operation throughout the world, their mission would have been far less difficult. However, due to the mountainous landscape and the high levels of humidity in the area, it Specialist F was difficult for them to conduct their work in a safe and secure location our Davis with his far from the battlefront. The cold, hard truth was that, like so many cryptologists radio direction finder past and present, Davis and the units he worked with had to “get in close” to be successful.
Ambush at Cau Xang
On the 22nd of December, Specialist Four Davis received orders to lead a Vietnamese PRD-1 team to an area approximately 12 miles from the base in an effort to locate a Viet Cong guerilla force operating in the area. They would move by truck to the area, set up, and in concert with a similar team, attempt to locate the enemy. Even prior to the mission on the 22nd, Tom had understood the dangers of his work, noting in a letter home that “…it looks like the bad guys have gotten the word to start giving us hell…it could become a bit dangerous.”
Initially, the operation appeared to be routine; however, 10 miles outside the base, near the old French Garrison of Cau Xang, the hunter became the hunted. The truck carrying the team hit a strategically-placed land mine and was forced off the road. The group immediately came under attack. Davis and his men fought bravely, but eventually succumbed to enemy fire. A patrolling South Vietnamese Civil Guard unit quickly responded to the area, but it was too late. Davis and nine members of his team lay dead. He would be the first American to lose his life in combat, in what would come to be known as the Vietnam War. Two weeks later, in tribute to Davis’ service and sacrifice, his unit’s headquarters in Tan Son Nhut would be named “Davis Station.”
“And Now the Trumpet Summons Us Again”
Even today, the events surrounding the Vietnam War are roundly debated. But there are certain facts about the conflict that remain indisputable. One of them is that during this difficult and painful time – a time full of doubt and controversy – there were thousands of soldiers, sailors, airmen, and Marines, who, like James Davis, remained above the political fray and simply went and did their duty for their country.
Davis’ sacrifice clearly demonstrates that those who defend America do not get to choose when and where they fight. They are given orders and are duty bound to follow them to the best of their ability. Tom and the example he set are stark reminders of this solemn duty and of the fact that the future of our republic rests on the willingness of such men and women to answer the call to arms in defense of freedom.
To those new states whom we welcome to the ranks of the free, we pledge our words that one form of colonial government shall not have passed away merely to be replaced by a far greater tyranny… Now the trumpet summons us again… to bear the burden of a long twilight struggle, year in and year out, rejoicing in hope, patient in tribulation.
John F. Kennedy
January 20, 1961





http://www.oldspooksandspies.org/davis/womack15.jpg




Thursday, April 25, 2019

30/04 : VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỂ LẠI NHIỀU DI SẢN QUÝ CHO NGÀY NAY VÀ TƯƠNG LAI


Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc rễ của chính quyền mới sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc. Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không có lệnh cấm giới hạn nữa.
  
Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là "nhạc vàng" tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.
                                                                                                                        
Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi "NÓ". Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của "giấc mơ xưa" ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn "dung thân" để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái "phần hồn ngày xưa" của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng "từ chương" lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ.

Nhất là thời kỳ "vàng son" 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975 - của những người trẻ tuổi bây giờ.
Giới trẻ VN đang hướng về tương lai

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia.

Họ hét to "Việt Nam vô địch" như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là "non trẻ" này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những "mô tô bay" như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường "đi bão, xuống đường" tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng "kẻ địch".

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương.
Nồng nhiệt đón người Mỹ trở lại Sài Gòn: Vợ của diễn viên Hollywood, bà Pamela Hasselhoff bắt tay các cô gái Việt Nam trong lễ đón chiếc phi cơ của United Airlines, Boeing 747-400 trong chuyến bay thương mại đầu tiên của một hãng hàng không Hoa Kỳ trở lại Tân Sơn Nhất tháng 12/2004

Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

Di sản cộng hòa cho Việt Nam nay là gì?

A. VNCH và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã biết sớm theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 44 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" mà không ai chứng minh được.

Các thay đổi lớn sau ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 44 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách "Cải Cách Điền Địa" dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi "Người Cày Có Ruộng" dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới "Thần Nông" trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1980.

Từ khi chính phủ trung ương ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng "ngòi bút" từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc "cách mạng xanh" nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó "lột xác" toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng đã được phân phối rộng và công bằng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa "Thần Nông" đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

VNCH đã tìm ra vài "túi dầu" đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN bây giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm cho dân chúng và nguồn lực phát triển, đáng tiếc là một phần tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

B. Nền dân chủ của VNCH

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.
Một ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là chuyên viên kỹ trị.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Quốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Quốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

C. Các tổ chức Xã hội Dân sự

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật lập hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã duy định trong "quyền tự do ngôn luận" ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết:

"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định."
Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 44 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách "chim quay về tổ" trong 12 năm để tò mò xem xứ mình ra sao.

Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người "mới", tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc "Bên Thua Cuộc" với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự phản bội của nước bạn "đồng minh" Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973.

Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước không khá kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

  Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về "legacy" của "Bên Thắng Cuộc" (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại "chiến thắng" của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như "món quà chuộc" lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung cộng.

Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một "legacy" thôi và nếu họ biết "góp vốn" bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Nhưng nếu các nhà lãnh đạo hiện nay chỉ biết nắm giữ quyền hành toàn trị, gậm nhắm quá khứ "vinh quang" của chiến thắng 1975 thì "di sản" đó sẽ bị lịch sử xóa đi nhanh chóng.

Đã trải qua thời VNCH, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: "Cùng tắc biến, biến tắc thông…"

Nhiều người lãnh đạo cũ của VNCH ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đều đã nằm xuống.

Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của VN bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

  
Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản 'kháng chiến' gần đây và sắp tới cho thấy họ đang thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể "tắc" mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ "THÔNG" mà thôi.

Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á.

Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả Vũ Thăng Long, gửi bài tới Diễn đàn BBC News Tiếng Việt từ California, Hoa Kỳ