; }

Tuesday, January 31, 2023

55 NĂM TẾT MẬU THÂN - MỞ HỒ SƠ MẬT CIA

 Quỳnh Kim Quang


Tai lieu Tet Mau Than_TT Johnson 04A
Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson (giữa) lắng nghe Tướng Greighton Abrams và Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam trong cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia vào tháng 3 năm 1968, chỉ 4 ngày trước khi ông tuyên bố không tái tranh cử TT. (LBJ Library)

 

Tháng Giêng năm 2023 là thời điểm đánh dấu 55 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, khi mà Cộng Sản Bắc Việt cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức bù nhìn do Hà Nội dựng lên để làm tay sai tuyên truyền và phá rối địa phương tại Miền Nam Việt Nam, đã mở cuộc tấn công trên nhiều thành phố khắp Miền Nam ngay trong giờ phút thiêng liêng của Lễ Giao Thừa đón Tết cổ truyền của dân tộc.

Hệ quả của cuộc tấn công đầy dã tâm đó đã làm cho CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thảm bại chua chát trước sự kháng cự và phản công oanh liệt của toàn quân dân Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh Hoa Kỳ quyết giữ vững từng tấc đất tự do. Có tới 36,000 du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bộ đội CS Bắc Việt đã bị giết chết trong trận tấn công Tết Mậu Thân. Nhưng nạn nhân đau thương nhất vẫn là hàng ngàn người dân Miền Nam vô tội đã chết trong bom đạn của trận chiến, hoặc đã bị du kích Mặt Trận Giải Phóng và quân đội Miền Bắc thảm sát, kinh hoàng nhất là những vụ chôn sống người tập thể tại Thành Phố Huế.

Năm mươi năm qua nhiều tài liệu viết về cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã được biên soạn và phổ biến bởi các bên tham chiến tại Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và CS Bắc Việt.

Nhưng, các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đã nghĩ gì, làm gì đối với trận tấn công Tết Mậu Thân? Quân đội Hoa Kỳ và VNCH có biết trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng và CS Bắc Việt? Tình báo Mỹ và VNCH biết gì, nói gì và làm gì đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

Vào ngày 28 tháng 4 năm 1997, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã giải mật hồ sơ “tuyệt mật,” nhận được từ Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) gửi tới ngày 3 tháng 4 năm 1968.(1) Thêm vào đó, vào ngày 19 tháng 3 năm 2007 Cơ Quan Tình Báo CIA cũng đã phổ biến bản phân tích của Tiến Sĩ Sử Học Đại Học Chicago là Harold P. Ford, cũng là cựu viên chức tình báo CIA làm việc từ năm 1950 tới năm 1974. Bản phân tích này của Harold P. Ford là một phần của nỗ lực liên tục của Trung Tâm Nghiên Cứu Tình Báo để cung cấp sự minh bạch các hồ sơ về những hoạt động của CIA. Bản phân tích này đã được cập nhật vào ngày 12 tháng 4 năm 2016.(2) Bản phân tích này được Harold P. Ford in thành tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968.”(3)

Bài viết này dựa trên hai tài liệu nói trên của Cơ Quan Tình Báo CIA và một số tài liệu khác để góp thêm tài liệu liên quan đến biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Điều quan trọng cần nói ngay ở đây là tài liệu CIA cho thấy rằng Hà Nội đã đánh giá và lượng định sai lầm về mục tiêu và thành quả chiến lược của cuộc tấn công Tết Mậu Thân của họ. Tài liệu của CIA cho biết Hà Nội tin chắc rằng người dân Miền Nam sẽ hưởng ứng, ủng hộ cuộc tấn công của Cộng quân, đồng thời đứng lên lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khi du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và bộ đội của Cộng Sản Bắc Việt bất thần tấn công toàn diện vào các thành phố gồm Thủ Đô Sài Gòn vào đúng ngày Mùng Một Tết Mậu Thân. Nhưng, Hà Nội đã thất bại vì điều đó không hề xảy ra.

Vậy, tài liệu mật của CIA vừa được giải mật vào ngày 28 tháng 4 năm 1997 nói gì về cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

 

Hồ Sơ Mật Của CIA Về Cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân

 

Mau Than
1. Bản chụp lại trang web tài liệu của CIA có bản phân tích của Tiến Sĩ Harold P. Ford. 2. Trang bìa saùch "CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 -1968."



Câu hỏi được đặt ra trước tiên là liệu các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và VNCH có biểt trước rằng Cộng quân sẽ mở cuộc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân?

 

Phái Đoàn Các Cơ Quan Tình Báo Mỹ Điều Tra

 

Tài liệu cho biết rằng từ ngày 16 tới 23 tháng 3, các đại diện từ Cơ Quan Tình Báo CIA, Cơ Quan Tình Báo Quân Đội DIA, và Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ đã đến Việt Nam để điều tra về cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Cộng quân. Họ đã gặp Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương (CINCPAC), Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) và trạm CIA tại Sài Gòn. Để giúp cho việc thu thập nhiều tài liệu thích đáng, phái đoàn đã có những cuộc họp để nghe báo cáo tin tức và thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn, tại Sài Gòn và tại các chiến trường, với nhiều viên chức cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa.

Về phía Hoa Kỳ, các thành viên của phái đoàn nói trên đã trao đổi với Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker, Đại Tướng Westmoreland, Đại Tướng Abrams, Đại Sứ Komer, Trung Tướng Cushman, Trung Tướng Rosson, Thiếu Tướng Peers, Thiếu Tướng Eckhardt, và các tướng chỉ huy trưởng Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 4 Bộ Binh. Họ cũng đã phỏng vấn nhân viên tình báo của Quân Đoàn I và II và nhân viên tình báo của Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Quân Đoàn III, và các cố vấn tình báo và viên chức CIA Khu Vực tại tất cả 4 Vùng Chiến Thuật. Họ đã nghe báo cáo từ Cơ Quan Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam MACV J-2 và trạm CIA tại Sài Gòn, và đã gặp Giám Đốc Tình Báo, Đơn Vị Không Quân Số 7, Đại Diện Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ NSA tại Việt Nam, Bộ Tư Lệnh Quân Khu Tại Sài Gòn.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, phái đoàn nói trên đã phỏng vấn các tướng tư lệnh Quân Đoàn  I và II, Cơ Quan J-2 của Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân và phụ tá, và phó giám đốc Quân Cảnh. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ cũng đã đích thân đến Phú Bài, Đà Nẵng, Pleiku, Camp Enari, Nha Trang, Biên Hòa, Long Bình, và Cần Thơ để tìm hiểu tình hình tại chỗ.

 

Những Phát Hiện Tổng Quát

 

Qua cuộc điều tra của phái đoàn đại diện nhiều cơ quan tình báo quốc gia Mỹ nói trên đưa tới một số phát hiện cho thấy như sau.

1/ Cơ Quan CIA đã thông báo cho Hội Đồng Cố Vấn Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống [Hoa Kỳ] vào tháng 2, có bằng chứng, tại Sài Gòn và Washington, rằng địch quân (CS) đang tiến hành “chiến dịch đông-xuân” ồ ạt và đang chuẩn bị hàng loạt vụ tấn công có phối hợp điều binh, có thể trên phạm vi lớn chưa từng có từ trước tới nay. Có bằng chứng trong tháng 1 rằng một số vụ tấn công tại cao nguyên có thể sẽ được thực hiện trong dịp nghỉ lễ Tết. Một phần báo cáo sau đó trong tháng này cho thấy có chứng cứ rằng nhiều cuộc tấn công khác sắp xảy ra, và một số mục tiêu đã được xác định. Tại Sài Gòn và Washington báo cáo tình báo này đã được trình cho các giới chức quân sự và chính trị cao cấp. Kết quả, hàng loạt hành động đã được thực hiện tại Việt Nam đưa tới việc giảm bớt ảnh hưởng của cuộc tấn công của địch quân.

2/ Việc cảnh báo đã được cung cấp như thế cho thấy không có thành tích nhỏ nào đạt được đối với bộ máy tình báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nó cho thấy không có sự xâm nhập bí mật cấp cao nào vào trong hệ thống cấp bậc lãnh đạo Cộng Sản và các cơ quan truyền thông Cộng Sản cao cấp là phần không thể biết được nhiều nhất. Do đó, nó phải dựa vào các kỹ thuật đặc trưng cổ điển. Cách này thì thật là khó thực hiện ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Tự thân tổ chức tình báo quân đội và dân sự của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa thì phức tạp và rộng lớn để nó đảm đang. Vì vậy, những báo cáo từ nguồn tình báo nhân sự đã không được chú ý.

3/ Địch quân đã sơn phết rất giỏi để che đây ý định của chúng. Nhận biết được các kế hoạch của chúng hoàn toàn bị ngăn chận và lệnh tấn công thực sự đã được phổ biến cho các đơn vị tấn công chỉ từ 24 tới 72 giờ sau cùng trước cuộc tấn công. Dù các viên chức thẩm quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã nhận được một số báo cáo về các kế hoạch tấn công riêng rẽ, có thể không một lãnh đạo Cộng Sản cấp thấp của Cục Trung Ương Miền Nam (COSVN), mặt trận, hay quân khu nào biết được toàn bộ phạm vi cuộc tổng tấn công. Đại Tướng Westmoreland tin rằng Cộng Sản đã hy sinh sự phối hợp điều quân cho sự bảo mật an toàn, và đây là chứng cứ trong các cuộc tấn công sớm bởi nhiều đơn vị của Quân Khu 5 (MR 5) trong đêm 29-30 tháng Giêng năm 1968, nhờ các cuộc tấn công sớm này đã đóng vai trò cảnh báo các chỉ huy Hoa Kỳ đối với nhiều cuộc tấn công mở rộng trong đêm tiếp theo.

tai lieu CIA ve Tet Mau Than 02A
Bản chụp lại trang 1 hồ sơ mật của CIA được giải mật ngày 28 tháng 4 năm 1997.



4/ Bất kể các biện pháp an ninh bí mật của Cộng quân, thông tin tình báo cũng có thể cung cấp cảnh báo rõ ràng rằng các cuộc tấn công, có thể trên diện rộng lớn nhất từ trước tới nay, được đưa ra. Nhiều thông điệp của địch quân bao gồm các cấp trung bình và thấp đã được đọc. Những thông điệp này xuất hiện tại nhiều vùng của Nam Việt Nam. Chúng bao gồm những ám chỉ các cuộc tấn công sắp xảy ra, rộng lớn và nhiều hơn bất cứ khi nào trước đó. Chúng cho thấy một ý nghĩa khẩn cấp, cùng với sự nhấn mạnh qua kế hoạch và bí mật chưa từng thấy trước đây trong các thông tin như thế. Tuy nhiên, các biểu thị đó đã không đủ để tiên đoán thời gian chính xác của cuộc tấn công.

 

Ảnh Hưởng Của Cuộc Tổng Tấn Công

 

Dù việc cảnh báo đã được đưa ra như thế, nhưng cường độ, sự phối trí điều quân, và thời gian của cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên đoán. Yếu tố quan trọng nhất là thời gian. Có rất ít giới chức Hoa Kỳ hay VNCH tin rằng địch quân sẽ tấn công trong ngày Tết, quần chúng Việt Nam cũng không tin như thế. Tết là ngày lễ quan trọng nhất tại Việt Nam, là dịp mà tất cả thành viên trong gia đình bất kể là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, hay Cộng Sản đều giữ gìn. Rõ ràng là Cộng Sản tin rằng họ có thể khai thác sự đồng nhất này để tạo ra cuộc nổi dậy chống chính quyền, chống quân đội ngoại nhập, chống chiến tranh. Nhưng điều này đã không xảy ra. Do đó, địch quân đã phải trả giá đắt trong sự đối kháng mà họ tạo ra trong các thành phố đông dân, nhưng họ đã thu hoạch rất lớn trong 2 cách: Quân số hiện diện của quân đội và cảnh sát VNCH rất thấp so với mức ổn định bình thường, và thông lệ sinh hoạt nhộn nhịp của ngày Tết làm cho Cộng quân có thể đưa một số lượng lớn Việt Cộng vào các thành phố mà không bị phát hiện. Đại tướng Westmoreland dự đoán các cuộc tấn công quy mô trước hoặc sau Tết, và khi gần Tết và nhiều vụ tấn công lớn đã không được thực hiện, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH đã cho 50% lính về nghỉ Tết. Vì vậy sức mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại những vùng cho phép binh sĩ về nghỉ Tết đã bị sút giảm.

Yếu tố lớn thứ hai không tiên liệu được là số vụ tấn công xảy ra cùng một lúc. Tình báo Hoa Kỳ có cho biết địch quân có khả năng tấn công tất cả các địa điểm mà thực tế họ đã tấn công và việc nối kết cảc cuộc tấn công có phối hợp tại nhiều vùng. Tuy nhiên, tình báo Mỹ đã không nói đến khả năng đặc biệt các vụ tấn công có phối hợp trên tất cả khu vực cùng một lúc. Điều quan trọng hơn nữa là tính chất của các mục tiêu đã không được tiên liệu trước. Washington và Sài Gòn đã dự đoán các vụ tấn công tại một số thành phố, nhưng họ đã không dự đoán được cuộc tấn công để chiếm một số cơ sở trong thành phố như bộ chỉ huy dân sự và các trung tâm kiểm soát, các đài phát thanh và các trụ sở cảnh sát như là những mục hàng đầu. Sau cùng, phẩm chất của các loại vũ khí mới, tối tân được Lực Lượng Việt Cộng Chính Quy và Địa Phương sử dụng trong các cuộc tấn công là điều vượt xa dự đoán. Súng AK-47 và lựu đạn chống xe tăng RPG-7 đặc biệt có hiệu quả chống lại các đơn vị chính quy và Lực Lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của Quân Lực VNCH.

Nằm dưới những vấn đề đặc biệt này là điều cơ bản hơn: hầu hết các vị tư lệnh và viên chức tình báo, ở tất cả các cấp, đều không thấy được địch quân có khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra như chúng xuất hiện trong tuyên truyền và trong các tài liệu đã tịch thu được của chúng. Các phỏng đoán phổ biến về sự hao hụt, thâm nhập và tuyển dụng người tại địa phương, các báo cáo tinh thần xuống giốc, và hàng loạt những vụ bại trận đã hạ thấp hình ảnh của địch quân. Bức tranh toàn cảnh được trình bày là một kẻ thù không có khả năng thực hiện một cuộc tấn công trên phạm vi và cường độ mạnh như thế. Các vị chỉ huy và các viên chức tình báo đã nhìn những lời kêu gọi được phổ biến về một “cuộc tổng nổi dậy” chỉ như là lời hô hào, và không phải là bản kế hoạch cho việc sắp làm. Hơn nữa, trong quá khứ nhiều “cuộc tấn công lớn” đã được công bố trong tuyên truyền của Cộng Sản nhưng thực tế đã không được thực hiện.

 

Phản Ứng Với Những Cảnh Báo

 

Washington và Sài Gòn, như đã trình bày ở trên, đều hiểu rõ rằng địch quân đã đặt kế hoạch cho một cuộc tấn công lớn, có thể là những cuộc tấn công có phối hợp tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật, tại Dak To trên cao nguyên Vùng II Chiến Thuật, và hướng về Sài Gòn từ tất cả mọi phía tại Vùng III Chiến Thuật. Vào ngày 10 tháng 1 năm 1968, Đại Tướng Westmoreland đã hủy bỏ một số hoạt động đã được lên kế hoạch tại phía bắc Vùng III Chiến Thuật để tái bố trí lại các lực lượng Hoa Kỳ tới gần Sài Gòn hơn. Trong những ngày kế tiếp, ông đã đưa ra hàng loạt cảnh báo cho các vị tư lệnh của ông, và cho các cơ quan Hoa Kỳ, rằng địch quân đang chuẩn bị tấn công. Dù ông ấy đã không dự đoán từ đầu các cuộc tấn công trong dịp Tết, ông ấy đã nhận thức được tầm quan trọng của các cuộc tấn công sắp xảy ra tại Quân Khu 5 [của Việt Cộng] và trong thông báo gửi cho tất cả các vị tư lệnh của ông vào ngày 30 tháng 1 dự đoán các cuộc tấn công vào đêm đó. Kết quả, tất cả các đơn vị Hoa Kỳ đều được cảnh giác đầy đủ, dù trong hầu hết trường hợp họ đã không có thì giờ hay thông tin để thực hiện các biện pháp phản công chống lại địch quân trước khi chúng tấn công thực sự. Tất cả các căn cứ của Đơn Vị Không Quân Số 7 đều được đặt trong tình trạng cảnh giác tối đa, và Giám Đốc Tình Báo của Đơn Vị Không Quân Số 7 đã xác thực rằng bước này để “bảo toàn Phi Trường Tân Sơn Nhất.” Có lẽ chứng cứ tốt nhất mà các biện pháp của Bộ Tư Lệnh Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại VN là hiệu quả và rằng tình báo chiến lược của địch quân là sai lầm đó là, với ngoại trừ Huế ra, địch quân đã thất bại trong việc giữ được bất cứ mục tiêu quân sự chính nào trong một khoảng thời gian đáng kể.

Tet Mau Than_Cau Trang Tien tai Hue bi gay do 06A
Cầu Tràng Tiền tại Thành Phố Huế bị gãy đổ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân.( www.tripadvisor.com )



Tuy nhiên, cảm giác khẩn trương tại Sài Gòn thì không được cảm nhận đầy đủ tại Washington ngay thời điểm trước cuộc tấn công. Kết quả, báo cáo tình báo được phổ biến tại Washington đã không chứa đựng không khí khủng hoảng hiện hữu tại Sài Gòn. Điều sai lầm này không phải do bất cứ ai. Thông tin sẵn có đã được truyền đạt và được phân tích hợp lệ, nhưng không khí thì không thể chuyển qua đường dây điện thoại. Dù các viên chức cao cấp tại Washington đã nhận được các cảnh báo vào thời gian từ ngày 25 đến 30 tháng 1, họ đã không nhận được trọn vẹn cảm giác tức thì và mãnh liệt đã hiện hữu tại Sài Gòn. Mặt khác, với Sài Gòn đã cảnh giác, hầu như không có gì có thể được làm thêm nữa tại Washington mà sự trễ nãi trong cuộc chơi đã có thể ảnh hưởng đến kết quả.

Trong bức tranh tổng quát này, có nhiều khác biệt đáng kể trong số 4 quân khu. Sư Đoàn III Thủy Quân Lục Chiến [Hoa Kỳ] được dự đoán sẽ bị tấn công tại Khe Sanh và Quảng Trị. Tin tình báo đó đã nhận được từ cơ sở CIA địa phương về chiến dịch mà địch quân sẽ tấn công Đà Nẵng, nhưng không có ngày giờ. Tướng Cushman nói rằng ông dự đoán sẽ bị tấn công vào dịp Tết, và các hoạt động của địch quân tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật đã làm cho giới chức cao cấp hủy bỏ ngưng bắn dịp Tết tại Vùng I Chiến Thuật. Kết quả, các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã được chuẩn bị tốt hơn những nơi khác. Hầu hết các đơn vị quân đội VNCH đều có quân số gần như đầy đủ. Sự kéo dài và phối hợp của các cuộc tấn công của địch quân, đã vượt quá mức dự đoán, như địch quân đã chiếm cứ lâu dài tại Huế. Tuy nhiên, nhìn chung, các cuộc tấn công của Cộng quân đã dễ dàng bị phản công.

Tại Vùng II Chiến Thuật, lực lượng đồng minh tại các vùng ven biển là phần bị tấn công nhiều nhất trong đêm 29-30 tháng Giêng bởi các đơn vị Việt Cộng. Họ đã không có lợi thế của việc báo trước mà những cuộc tấn công này cung cấp nhiều đơn vị đi xa xuống phía nam, họ cũng không ở trong tư thế “cảnh giác” các lực lượng Đồng Minh tại Quân Khu I. Các lực lượng Đồng Minh thì ở trong tình trạng cảnh giác cao hơn bình thường, tuy nhiên, họ đã được điều hướng để chống lại những vụ vi phạm ngưng chiến chắc chắn xảy ra hơn là với các cuộc tấn công tại các thành phố. Tại các vùng cao nguyên, không giống bất kỳ khu vực nào khác, tình báo sẵn sàng từ thông tin liên lạc, tù nhân, phản ánh các kế hoạch cụ thể đối với các cuộc tấn công trong dịp Tết. Thí dụ, các kế hoạch của Việt Cộng cho việc tấn công Dak To, Pleiku, và Kontum đều được biết trước rõ ràng, và Sư  Đoàn 4 Hoa Kỳ đã có thể liên kết chúng với các cuộc bố trí quân của địch. Điều này cung cấp một trong vài cơ hội cho lực lượng Hoa Kỳ để thực hiện các biện pháp năng động chống lại địch quân; Pleiku là chiến dịch tấn công của Hoa Kỳ thành công nhất. Tình báo tại những nơi khác ở cao nguyên thì không tốt bằng, nhưng đã có đủ thông tin để khiến cho 2 trong số 3 tư lệnh sư đoàn của Quân Đội VNCH tại Vùng II Chiến Thuật hủy bỏ tất cả các cuộc nghỉ phép. Tuy nhiên, chúng ta không tin rằng các lệnh này có hiệu quả toàn diện trong việc phục hồi nhân lực mà đã đi trước.

Như đã đề cập ở trên việc tái bố trí quân đội Hoa Kỳ tại Vùng III Chiến Thuật đã bắt đầu vào giữa tháng 1. Các hoạt động này được bắt nguồn bởi việc tập trung của 3 sư đoàn địch quân dọc theo biên giới Cam Bốt nằm ở phía bắc và tây bắc Sài Gòn và bởi các chỉ dấu rằng những đơn vị này bắt đầu điều động quân xuống phía nam hướng về thành phố [Sài Gòn]. Hơn nữa, các sĩ quan tình báo của Hoa Kỳ và VNCH suy đoán trước đó từ sự tái tổ chức của cơ cấu chỉ huy của địch quân tại Quân Khu 4 [của VC], bao quanh khu vực Sài Gòn, mà mục đích của họ là để cải thiện việc chỉ huy và kiểm soát cho việc phối trí một cuộc tấn công vào thành phố [SG]. Quân Khu III và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã được đặt trong tình trạng cảnh giác chung vào ngày 30 tháng 1 (Các hành động của Tướng Westmoreland bắt nguồn từ các cuộc tấn công tại Quân Khu 5 [VC] vào đêm trước đó), và trong thời gian của ngày đó đã nhận được tin cụ thể rằng Sài Gòn sẽ bị tấn công vào đêm đó. Tại hầu hết các đơn vị Quân Đội VNCH tại Quân Đoàn III binh sĩ có vẻ ở trong tình trạng ăn Tết bình thường.

Tại Vùng 4 Chiến Thuật, tính chất và mức độ của các cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên liệu. Các lực lượng Đồng Minh đã ý thức rằng khả năng của Việt Cộng đã được cải thiện. Một phúc trình của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (NSA) vào ngày 25 tháng 1, đã cảnh báo về khả năng có thể có các cuộc tấn công sắp xảy ra tại những khu vực khác, nói rằng các đơn vị  tại “vùng Nam Bộ,” gồm Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long], cũng có thể bị tấn công. Việc cung cấp các loại vũ khí tối tân đã gia tăng và Việt Cộng cho thấy khả năng thực hiện hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp trên khắp Vùng Đồng Bằng. Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, điều này có thể được diễn giải như là các phản ứng đối với tư thế mạnh mẽ hơn của đồng minh tại vùng này. Tại các thành phố trong Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long] sự hiện diện của Việt Cộng trong dịp Tết là rất truyền thống vì được chấp nhận như là thói quen. Tướng Eckhardt, Cố Vấn Cao Cấp, nói rằng cảnh giác duy nhất mà ông nhận được là lời cảnh giác của Tướng Westmoreland vào ngày 30 tháng 1. Tướng Eckhardt đã có thể cảnh giác các đơn vị hỗ trợ và hậu cần Hoa Kỳ tại Vùng Đồng Bằng, nhưng không thể có thời gian để phục hồi lại đủ quân số các đơn vị Quân Đội VNCH. Tư Lệnh Quân Đoàn của VNCH và 3 tư lệnh sư đoàn của ông ấy đã có mặt tại tổng hành dinh khi cuộc tấn công nổ ra, nhưng các đơn vị của họ thì quá yếu ớt.

 

Các Công Điện Giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn

 

            Sau đây là một số công điện báo cáo và trao đổi giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn từ Tổng Thống Johnson, Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, CIA, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam để cho thấy thêm một số chi tiết về các cảm nhận, nhận định và phản ứng của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng. Tài liệu này trích dịch từ văn kiện của Phòng Lịch Sử của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên, “Các Quan Hệ Ngoại Quốc Của Hoa Kỳ, 1964-1968, Tập VI, Việt Nam, Từ Tháng 1 đến tháng 8 năm 1968.”(4) Xin trích dịch mấy điểm đáng quan tâm như sau.

 

44. Ghi Nhớ Được Chuẩn Bị tại Cơ Quan CIA

 Washington, Ngày 2 Tháng 2 Năm 1968

 Chủ đề: Việt Nam – Cú Sốc Của Cuộc Tấn Công

 

1/ Trận tấn công Tết Mậu Thân rõ ràng cho thấy sức mạnh của Việt Cộng vấn tiếp tục mà qua đó kêu gọi cái nhìn mới trong phương thức của chúng ta [Mỹ] đối với chiến tranh Việt Nam và đối với Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa. Qua nhiều năm các nhà lãnh đạo Việt Nam [Cộng Hòa] đã phát triển sự chắc chắn tự mãn rằng sự hậu thuẫn của người Mỹ là bất biến. Hệ quả là họ đã cảm thấy thoải mái để tiến hành cuộc chiến từ từ, hài lòng trong vòng lẩn quẩn của các nhân vật lãnh đạo và chỉ chú ý ngẫu nhiên đối với việc huy động sự hậu thuẫn và tham gia rộng rãi của dân chúng một cách tích cực vào cuộc chiến. 

Trận tấn công Tết Mậu Thân có thể được sử dụng trong cuộc tấn công trực diện vào các thái độ và thói quen này, bởi vì nó biểu thị một cách áp lực rằng Chính Quyền VNCH mất một số đặc tính chính của chủ quyền. Họ [VNCH] không thể bảo vệ các mặt trận nếu không có nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ và ngay cả không thể làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ sử dụng Tòa Đại Sứ của mình.

Cuộc tấn công này khẳng định lập trường từ lâu rằng nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam chỉ để giúp người dân Việt Nam tự giúp họ, không phải để chiến đấu thay cho họ. Quan điểm này đã được trình bày trong một cuộc phỏng vấn nhanh chóng trước đây giữa Đại Sứ Bunker, có sự tham dự của Tướng Westmoreland, Tổng Thống Thiệu và Phó Tổng Thống Kỳ.

2/ Cuộc tấn công Tết Mậu Thân bởi Việt Cộng cũng cho thấy sự yếu kém của nền an ninh của Chính Quyền VNCH và sự thiếu vắng giải pháp phổ biến góp phần chống Việt Cộng, với ám chỉ rằng các viễn kiến thành công và những kế hoạch lâu nay là không đủ. Điều này cần được hiểu rằng chủ nghĩa từ từ không còn được chấp nhận như là phương thức về phía chúng ta đối với cuộc chiến và nó cần được nói ra một cách áp lực rằng từ nay Chính Phủ VNCH phải theo sự chỉ thị của Hoa Kỳ trong một kế hoạch điều chỉnh tình trạng của chiến tranh.

3. Trong kế hoạch nói trên, Hoa Kỳ đòi hỏi Tướng Nguyễn Đức Thắng phải được công cử làm Tổng Trưởng Nội Vụ và Quốc Phòng, với “toàn quyền” hành xử cơ chế quân sự, cảnh sát và bộ binh.

Tham Mưu Trưởng Liên Quân Tướng Cao Văn Viên phải được chỉ thị rằng tất cả quân lực VNCH từ nay sẽ được sử dụng để hỗ trợ trực tiếp trong việc tham gia chương trình do Tướng Thắng chỉ huy.

5. Tổng Thống Thiệu phải tìm kiếm sự chấp thuận của Quốc Hội để thành lập Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết. TT Thiệu phải làm Chủ Tịch Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết, và Phó TT Kỳ làm Phó Chủ Tịch và Giám Đốc Hoạt Động, Tướng Thắng làm Phó Giám Đốc Hoạt Động, và có các đại diện của các Bộ, Quân Đội cũng như Thượng và Hạ Viện. Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết phải có các Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết ở các cấp tỉnh và quận, có sự tham gia của các hội đồng tỉnh và quận.

7. TT Thiệu phải được cho biết rằng chúng ta [Hoa Kỳ] xem chương trình này phải có các thành quả tích cực trong vòng 100 ngày sau Tết (tức đầu tháng 5). Nếu không như vậy hay TT Thiệu từ chối đề nghị này, thì phải cho ông ấy biết rằng Hoa Kỳ sẽ thay đổi lập trường tôn trọng Chính Phủ VNCH. Trong trường hợp này, TT Thiệu nên hiểu là Hoa Kỳ có thể tìm một Chính Phủ VNCH khác thay thế.

 

48. Công Điện Tình Báo Từ Giám Đốc Sở Tình Báo và Nghiên Cứu (Hughes) Gửi Cho Ngoại Trưởng Rusk

Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968

Số 97, chủ đề: Việt Nam: Phỏng Đoán Chiến Lược Của Cộng Sản Trong Những Tháng Tới

 

Các sự kiện trong nhiều ngày qua cho thấy rằng Cộng Sản đã lao vào một chiến dịch được hoạch định rất kỹ lưỡng của những nỗ lực có sự hậu thuẫn nhiều mặt về quân sự, chính trị và ngoại giao để làm sụp đổ hoàn toàn vị thế của Chính Phủ VNCH và xóa sổ nền tảng chính trị đối với sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nếu điều này đã được phát triển, thì những cuộc thương lượng đã có thể bảo đảm thành công hơn là con đường dẫn tới tình cảnh mà trong đó sự thành công có thể đạt được. Trong khi đó, họ sẽ tiếp tục mở ngỏ khả năng thương thuyết.

 

49. Ghi Nhớ Từ William J. Jorden của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Gửi Cho Phụ Tá Đặc Biệt (Rostow) của Tổng Thống

 Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968,

Chủ đề: Tình Hình Tại Việt Nam

 

Trước hết, quan điểm của tôi là hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp tốt của Cộng Sản Bắc Việt/Việt Cộng trên tất các vùng trên toàn quốc cho thấy sự thất bại rõ ràng đối với Chính Phủ tại Sài Gòn và đối với chúng ta. Tôi cho rằng những sự kiện này là thất bại bởi vì:

-chúng phản ảnh sự thất bại tồi tệ nhất của tình báo chiến tranh. Nếu Việt Cộng và CS Bắc Việt có thể di chuyển có lẽ 30,000 lính đến nơi để tấn công tại tất cả các vùng trên toàn quốc mà không bị phát hiện, thì có điều gì đó sai lầm với hệ thống tình báo của Chính Phủ VNCH.

-cuối cùng, rõ ràng từ báo cáo tình báo trong vòng một hai ngày qua rằng nhiều người dân Việt Nam đã được chuẩn bị để tin và để tung tin đồn hoang đường về người Mỹ -- rằng chúng ta đã giúp Việt Cộng vào Sài Gòn, rằng chúng ta đang làm việc với VC để dựng lên một chính phủ liên hiệp, mà chúng ta đang tìm cơ hội để rút khỏi [VN], v.v… Điều này đối với tôi có nghĩa là tuyên truyền của VC cực kỳ ảnh hưởng.

 

53. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 4 tháng 2 năm 1968,

1100Z; Số 17920. Từ Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker gửi cho Tổng Thống Hoa Kỳ. Kèm theo báo cáo hàng tuần lần thứ 37 của tôi

 

7. Rằng những cuộc tấn công lan rộng có phối hợp sẽ có kết quả thất bại quân sự to lớn đối với địch quân mà bằng chứng cụ thể là trong số lượng tử thương được báo cáo vào sáng Thứ Bảy. Từ 6 giờ chiều ngày 29 tháng 1 lúc bắt đầu thời điểm ngưng bắn dịp Tết, tới nửa đêm, ngày 2 tháng 2, theo số liệu của chúng tôi, 12,704 địch quân bị giết chết, và 3,576, đa phần sẽ trở thành tù bình chiến tranh, bị bắt giam; 1,814 người và 545 toán quân sử dụng vũ khí bị bắt. Đồng Minh có 983 người bị tử thương mà trong đó 318 binh sĩ Hoa Kỳ, 661 binh sĩ VNCH, và 4 quân nhân thuộc Thế Giới Tự Do; số quân đồng minh bị thương là 3,483 người. Số tử thương của địch quân trong vài ngày này được xem là lớn hơn bất cứ tháng nào trước đây trong cuộc chiến. Dựa trên số địch quân bị giết, tôi đã hỏi Tướng Westmonreland về con số phỏng đoán tổng số địch quân bị giết và ông ấy cho biết ông nghĩ là con số này có thể lên tới 36,000.

 

62. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam gửi Bộ Ngoại Giao

Sài Gòn, ngày 8 tháng 2 năm 1968, số 1115Z.

Số 18582. Gửi cho Tổng Thống từ Đại Sứ Bunker. Kèm theo báo cáo hang tuần lần thứ 38 của tôi

 

B) Số lượng địch quân tham gia trận tấn công được xem là lớn hơn phỏng đoán mà tôi đã báo cáo trong phúc trình lần trước của tôi. Phỏng đoán hiện nay là 52,000 quân địch, cộng với 10,000 du kích, tổng cộng có tới 62,000 quân địch, tham chiến trong các cuộc tấn công khắp nơi.

E) Từ sáng sớm ngày 31 tháng 1 cho tới nửa đêm ngày 7 tháng 2, địch quân đã mất gần 25,000 quân, gần 5,000 quân bị bắt, hơn 5,500 người và gần 900 toán quân sử dụng vũ khí. Về phe ta thì 2,043 binh sĩ tử vong (gồm 703 binh sĩ Hoa Kỳ, 1,303 binh sĩ VNCH, và 37 binh sĩ Thế Giới Tự Do), ít hơn 1/12 tổn thất của địch quân. Tướng Westmoreland cho biết rằng số quân địch bị giết nói trên là chưa kể số địch quân bị chiến đấu cơ và đạn pháo giết chết.

H) Sáng nay, ngày 8 tháng 2, số người tị nạn tại khu vực thành phố Sài Gòn là 93,000 và trên toàn quốc là khoảng 190,000 người. Tới giờ này, có 31 tỉnh trong số 50 tỉnh báo cáo, tổng số người di tản có thể đạt tới từ 250,000 tới 300,000 người. Khoảng 15,000 căn nhà bị phá hủy được báo cáo, chắc chắn sẽ còn gia tăng. Số thường dân bị thiệt mạng qua báo cáo sơ khởi là 800 người chết, 7,500 người bị thương, dù thực tế nhiều hơn.

Ngoài ra, trong tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968,” nói trên, Harold P. Ford cho biết rằng chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, địch quân đã tấn công vào 39 trong số 44 thành phố của Nam Việt Nam, trong số đó 5 trong 6 thành phố lớn đông dân đã bị tấn công, 71 trong số 242 quận lỵ bị Cộng quân tấn công. Tại Thủ Đô Sài Gòn, 11 tiểu đoàn Việt Cộng địa phương đã tấn công vào dinh tổng thống, Phi Trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, và nhiều địa điểm khác; không ít, họ đã xâm nhập và tràn vào một khoảng thời gian nào đó trong khuôn viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Harold P. Ford cho biết thêm rằng CIA phỏng đoán cho tới tháng 5 năm 1968, Cộng quân có khoảng từ 450,000 tới 600,000 quân tại Miền Nam VN.

Trong tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên “Foreign Relations, 1964-1968, Volume VI, Vietnam, January-August 1968,” số 32-49, từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2: Trận Tấn Công Tết, ghi chú của ban biên tập số 33, cho thấy rằng có tới 84,000 Cộng quân gồm quân đội Bắc Việt và Việt Cộng tham gia vào các cuộc tấn công Tết Mậu Thân trên toàn Miền Nam.(5)

Theo tài liệu “Vietnam War: Tet Offensive, Cia - Department Of Defense - State Dept Files, South Vietnamese Army History - U.S./South Vietnam Army Photos, nói về trận tấn công Tết Mậu Thân tại Huế cho biết rằng Cộng quân đã chiếm giữ 26 ngày, với khoảng 12,000 lính gồm bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng địa phương. Báo cáo cho biết có từ 2,000 tới 3,000 công chức, cảnh sát của chính quyền VNCH, và những thành phần khác mà Cộng Sản gọi là phản cách mạng đã bị Việt Cộng thảm sát tại Huế trong thời gian đó. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chưa tới 2,500 binh sĩ đã chống cự và đánh bại hơn 10,000 Cộng Quân và đã giải phóng thành Phố Huế.(6)

Tài liệu này cũng nói rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân về mặt chiến thuật đã đánh bại các lực lượng Việt Cộng và Bắc Việt. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng được mọi người xem như là khúc quanh trong chiến tranh Việt Nam dù tổn thất của Cộng Sản rất lớn lên tới 32,000 quân bị giết và khoảng 5,800 lính bị bắt.

Một trong những hệ quả của trận tấn công Tết Mậu Thân, theo tài liệu này, là chính phủ Johnson nhận ra rằng muốn chiến thắng cuộc chiến VN thì Hoa Kỳ phải tăng quân số -- quân số lính Mỹ tại VN lúc đó đã lên tới 525,000 -- và chi phí nhiều hơn là những gì người dân Mỹ muốn. Vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, Johnson tuyên bố không tái tranh cử nhiệm kỳ kế tiếp, công bố ngưng ném bom Bắc Việt, và thúc giục Hà Nội đồng ý hòa đàm.

Vào đầu tháng 1 năm 1969, hòa đàm Paris bắt đầu diễn ra với sự tham dự của đại diện 4 bên, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt, và Mặt Trận Giải Phóng. Tháng 6 năm 1969, Hà Nội lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (PRG).

 

Kết Luận

 

Năm mươi lăm năm trôi qua, sự thật về cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 đã được phơi bày ra ánh sáng bởi rất nhiều tài liệu giá trị, đúng đắn và đáng tin cậy, gồm hồ sơ mật của CIA, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhưng, chính quyền CSVN cho đến nay vẫn không dám công khai thừa nhận thất bại và sai lầm của họ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà trong đó họ đã lợi dụng ngày Tết cổ truyền thiêng liêng nhất của dân tộc để mở các cuộc tấn công và giết hại thường dân vô tội, như trường hợp thảm sát hàng ngàn sinh mạng tại Huế.

Tại sao? Một chế độ không dám nhìn nhận sự thật như thế, dù đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận, thì có phải là một chế độ đáng để người dân tin cậy chăng?

Xin cầu nguyện cho tất cả những nạn nhân của biến cố Tết Mậu Thân được siêu thoát.

Huỳnh Kim Quang

 

Chú Thích:

 

* Bài được viết và đăng lần đầu nhân 50 năm tưởng niệm Mậu Thân, trên báo xuân Việt Báo Tết 2018; được hiệu đính lại và đưa lên vietbao.com Xuân Quý Mão tưởng niệm 55 năm Tết Mậu Thân.

 

(1)  https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/DOC_0000097712.pdf

 

(2)  https://www.cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and-monographs/cia-and-the-vietnam-policymakers-three-episodes-1962-1968/epis3.html

 

(3)  https://www.cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and-monographs/cia-and-the-vietnam-policymakers-three-episodes-1962-1968/index.html

 

(4)  https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v06

 

(5)  https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v06/d33

 

(6)  http://www.paperlessarchives.com/vw_tet_offensive.html

 Nguồn : https://vietbao.com/p190a314801/55-nam-tet-mau-than-mo-ho-so-mat-cia-

Sunday, November 6, 2022

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM MỘT GIA ĐÌNH THANH BẦN

 

Nhìn tấm hình này ai cũng thấy làm lạ ,sao gia đình ông cựu thượng thơ Ngô Đình Khả nhìn “bần” dữ vậy,ba đứa con trai trong đó có ông tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm sau này chưn đất ,áo quần xốc xếch phát rầu ,nhà này nghèo chứ không giàu
Ngô Đình Khả (1850–1923) quê quán ở làng Đại Phong, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nghèo
Đại Phong là làng Công giáo do linh mục thừa sai Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) lập ra
Ông Ngô Đình Khả nhà nghèo nhưng hiếu học,được các cố đạo gửi qua tận đại chủng viện Penang Mã Lai du học
Ông Ngô Đình Khả giỏi tiếng Pháp, thạo chữ Hán và biết chữ La Tinh nên về VN làm thông ngôn ở Tòa Khâm Sứ tại Huế
Từ từ ông Ngô Đình Khả lên tới Thượng Thư Bộ Công, rồi làm Phụ Đạo cho vua Thành Thái
Tức ông là thầy dạy của vua Thành Thái vậy.
Vua Thành Thái khẳng khái thế nào thì cũng nên nhìn ông thầy của vua một chút
Trong cuốn “Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt”, tác giả Nguyễn Văn Minh đã viết về ông Ngô Đình Khả như sau:
“Cụ áp dụng một đường lối giáo dục con cái rất đặc biệt. Ngay từ khi còn tại chức, trong cuộc sống hàng ngày, cụ không chỉ nghiêm khắc với các con mà chủ yếu là nghiêm khắc với chính mình, nêu gương một nếp sống cần kiệm, liêm khiết, trung nghĩa.
Cụ bắt các con sống đúng theo khuôn mẫu ấy, nhằm hun đúc, xây đắp cho họ một lý tưởng sống vững chắc trên nền tảng một Đức Tin tôn giáo bất biến và một tinh thần nho học Khổng-Mạnh thâm sâu.”
Vào năm 1923, trước Tết
Khi biết mình sắp chết, ông Ngô Đình Khả gọi các con đến bên giường trối họ phải tiếp tục thực hiện lý tưởng .
Đặc biệt với ông Ngô Đình Diệm ông trối:
“Diệm, con có đủ đức tính cần thiết để trở thành người lãnh đạo tốt. Con phải lãnh đạo.”
Và cụ nói với tất cả các con:
“Các con phải cùng với nó (ông Diệm) tranh đấu dành lại cho được một nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện công cuộc cải tạo xã hội xóa bỏ bất công được
Ông Ngô Đình Khả qua đời ngày 18.2.1923, nhằm ngày mồng ba tháng giêng năm Quý Hợi
Sau này,khi cuộc đảo chánh 1-11-1963 thành công ,TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết chết,Đệ Nhứt Cộng Hòa sụp đổ thì chưa có ai kết án rằng hai anh em TT tham nhũng hay tham lạm làm giàu,không có một lời nào
Người ta đồn rằng bà Trần Lệ Xuân ôm hàng tỷ USD chạy trốn,nhưng thực tế bà Nhu sống ở cảnh nghèo mấy chục năm trên đất khách.
@Nguyễn Gia Việt

Wednesday, September 14, 2022

TÁI CHIẾM QUẢNG TRỊ, TRẬN CHIẾN DÀI NHẤT

 JOHN D. HOWARD

ĐINH YÊN THẢO dịch

Tìm hiểu lịch sử

qtri 6
Cờ vàng ba sọc đỏ lại tung bay trên mặt cổ thành Quảng Trị.

Lời người dịch: Trận đánh tái chiếm cổ thành Quảng Trị kéo dài 81 ngày trong mùa Hè đỏ lửa 1972 là một trong những trận đánh dài và khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Trong tạp chí tháng Tư  trên trang mạng khảo cứu lịch sử historynet năm nay, Thiếu Tướng hồi hưu John D. Howard, một sĩ quan West Point và cựu cố vấn tại chiến trường Việt Nam vào năm 1972 đã kể lại diễn biến toàn bộ chiến dịch và trận tái chiếm lịch sử này. Xin giới thiệu lại bài viết này nhân kỷ niệm 50 năm trận tái chiếm cổ thành kết thúc vào ngày 16 tháng 9 năm 1972.


* 
 

Chiến Dịch Phục Sinh 

Nằm gần các mật khu phía Bắc khu phi quân sư (DMZ) và giáp Lào, Quảng Trị là một chiến trường đụng độ liên tục trong chiến tranh Việt Nam. Các ủy viên Bộ Chính Trị Bắc Việt gọi đây là "mặt trận rực lửa" và Lê Duẩn xem Quảng Trị là “thành phố cách mạng anh hùng” khi tái thiết lại cổ thành này vào năm 1980. Các hướng dẫn viên du lịch tại đây thường giới thiệu với du khách ngoại quốc và ca ngợi sự anh hùng của những người cộng sản trong cuộc Tổng tấn công Xuân-Hạ 1972. Nhưng họ không hề nhắc đến rằng, quân cộng sản đã chiếm được cổ thành này vào ngày 1 tháng 5 năm 1972 và lính Thủy Quân Lục Chiến của miền Nam Việt Nam đã tái chiếm lại sau đó năm tháng. 

Cuộc tấn công mở màn của Bắc Việt diễn ra vào ngày 30 tháng 3, tức ngày thứ Năm trước lễ Phục Sinh. Nó thường được gọi là Chiến Dịch Phục Sinh (người dịch: The Easter Offensive, theo cách gọi của sách báo Mỹ, và Mùa Hè Đỏ Lửa của VNCH), là chiến dịch lớn nhất trong cuộc chiến. Quân cộng sản tấn công bằng các đơn vị chủ lực trong mục đích giành chiến thắng quyết định, không đánh du kích và dùng các đơn vị nhỏ  làm tiêu hao lực lượng khiến quân Mỹ  mệt mỏi và rút quân như trước kia. Chiến lược đánh dai dẳng bị loại bỏ để Bắc Việt dốc một canh bạc “được ăn cả, ngả về không” (go-for-broke) nhằm đánh bại quân lực Việt Nam Cộng Hòa và lật đổ chính phủ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. 

Quân Bắc Việt tràn qua khu phi quân sự (DMZ) và băng qua Lào dọc theo Quốc lộ 9, hướng đến cố đô Huế, khởi đầu chiến dịch bằng ba cuộc tấn công vào các vùng khác nhau của Nam Việt Nam. Rạng sáng ngày 3 tháng Tư, cộng quân tấn công vào các căn cứ hỏa lực vùng cao nguyên, mở màn với trận đánh vào Kontum với mục tiêu tiêu tối hậu là cắt đôi Nam Việt Nam ở trung lộ. Ở phía Nam thì bốn ngày sau, tại khu vực quanh Sài Gòn, cộng quân tràn qua Lộc Ninh, một khu vực tiền đồn được phòng thủ chắc chắn tại vùng biên giới Campuchia và bao vây An Lộc, chỉ cách Sài Gòn khoảng 60 dặm.

Lực lượng tấn công của quân Bắc Việt có khoảng 30,000 đến 40,000 quân từ ba Sư Đoàn thiện chiến là 304, 308 và 325C, đã cùng với 200 chiến xa và các khẩu đội phòng không, tấn công vào một Lữ Đoàn mong manh của quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3 quân lực VNCH. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, người đứng đầu Quân đoàn I đóng tại Đà Nẵng đã bỏ qua các báo cáo tình báo cho thấy kẻ thù đã tập trung lực lượng lớn khắp DMZ và ra lệnh chuyển quân giữa hai căn cứ hỏa lực của Sư đoàn 3 vào ngày 29 tháng 3. Mệnh lệnh sai thời điểm của ông đã góp thêm vào tình trạng hỗn loạn khi cộng quân tấn công vào ngày hôm sau. 

Thủy Quân Lục Chiến và Sư đoàn 3  ở ngay phía Nam DMZ và ở chân đồi phía Tây đều bị tấn công dữ dội vào Chủ nhật Phục Sinh ngày 2 tháng Tư. Trung tá QLVNCH Phạm Văn Đính, chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3, đã đầu hàng toàn bộ đơn vị của mình cùng căn cứ Carroll, một căn cứ hỏa lực cũ của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Trung Tá Đính cũng không cho phá hủy kho đạn lớn hoặc vô hiệu hóa hơn 20 khẩu pháo, trong đó có 4 khẩu 175 mm. 

Các cố vấn Mỹ là Trung tá Bill Camper và Thiếu tá Joe Brown đã gửi một tin vô tuyến ngắn gọn cho biết họ sẽ rời khỏi căn cứ. Vì lý do an ninh, họ không cho biết Trung đoàn 56 đã đầu hàng hàng loạt. Một Trung tá Mỹ mới được thuyên chuyển đến gởi ra một mệnh lệnh  "Không được rời căn cứ!" Camper và Brown bất chấp mệnh lệnh nhằm tránh bị bắt sống và đã rời trên chiếc trực thăng Chinook CH-47 do Đại úy Harry Thain lái, người về sau đã nhận được huân chương cho cuộc giải cứu táo bạo này.

Việc mất căn cứ Carroll dẫn đến một cuộc triệt thoái quân về các vị trí gần thị xã Đông Hà. Các cuộc không kích của Hoa Kỳ đã giúp làm chậm bước quân Bắc Việt. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm thiết lập một hàng phòng thủ liên hoàn đã bị thất bại bởi Tư Lệnh Quân đoàn I liên tục ra các lệnh thiếu sự phối hợp. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà thất thủ. Ba ngày sau thành Quảng Trị tan hoang, quân đội triệt thoái. 

Tình trạng hỗn loạn đã diễn ra. Thủy Quân Lục Chiến VNCH giữ vững kỷ luật và chặn đứng đường tiến quân của cộng quân bằng một tuyến phòng thủ kiên cố dọc theo sông Mỹ Chánh, cách Huế 15 dặm. 

Những thành công ban đầu của phe cộng sản đã củng cố sự lạc quan của những lãnh đạo diều hâu trong Bộ Chính trị Bắc Việt và gạt qua những thành viên muốn có sự thận trọng. Lê Duẩn, thủ lĩnh của phe chủ chiến, cương quyết cho rằng môi trường chính trị tại Hoa Kỳ sẽ ngăn cản Tổng thống Richard Nixon có phản ứng mạnh mẽ vì năm 1972 là năm bầu cử tổng thống và công chúng Hoa Kỳ bị xem là đã mệt mỏi với chiến tranh. Đó là một suy đoán hoàn toàn sai lầm về tổng thống Hoa Kỳ.

qtri 2
Cuộc tấn công của quân đội cộng sản đã gây làn sóng di tản của dân Quảng Trị đổ vào Huế. Ai nấy gồng gánh bồng bế nhau chạy loạn.

Tuy nhiên, vào thời điểm này trong cuộc chiến, các chọn lựa đáp trả mạnh mẽ từ Hoa Kỳ bị hạn chế. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1972, có 68,100 lính Mỹ ở Việt Nam, giảm từ mức cao nhất là 543,100 quân vào tháng 4 năm 1969. Năm đó, chính quyền Nixon khởi xướng chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, rút ​​dần quân đội Mỹ để chuyển giao trách nhiệm chiến đấu cho miền Nam Việt Nam. Chỉ còn lại hai lữ đoàn chiến đấu của Mỹ, một ở phía Bắc Nam Việt Nam và một ở khu vực Sài Gòn với nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ các căn cứ không quân và cơ sở hậu cần của Hoa Kỳ. 

Nixon loại trừ việc điều quân bộ binh mà tấn công bằng không quân. Ông điều động thêm phi cơ đến Đông Nam Á, tiếp tục ném bom ra mạn Bắc và ra lệnh thả mìn phong toả các cảng của Bắc Việt. Không Quân Hoa Kỳ và các chiến đấu cơ trên các hàng không mẫu hạm, với 206 phi cơ B-52 ném bom và hơn 800 phản lực chiến đấu đã sẵn sàng cho cuộc chiến. Vào đầu tháng Năm thì tình thế tại miền Nam Việt Nam bị xem là lâm vào tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng. 

Việc mất Quảng Trị và hỗn loạn tại Huế đã dẫn đến quyết định từ Tổng Thống Thiệu là tướng Lãm phải bị thay. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lịnh vùng đồng bằng sông Mekong và được xem là một trong những tướng tài nhất của miền Nam Việt Nam sẽ thay thế. Tướng Trưởng cùng các sĩ quan tùy tùng bay ra vùng Một trong vòng 24 tiếng. Quân lực VNCH chuẩn bị phản công.

Những cuộc giao tranh đẫm máu  

qtri 1
Súng 40 ly M42A1 gắn trên chiến xa M41 của quân lực VNCH đang nã đạn vào các vị trí của cộng quân Bắc Việt trên Quốc lộ Một.

Trung tướng Ngô Quang Trưởng cùng các sĩ quan tùy tùng thân tín bay ra Quân đoàn I trong vòng chưa đầy 24 giờ sau lệnh bổ nhiệm từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vị tân tư lịnh thể hiện một phong cách riêng khi chuyển bộ chỉ huy chính của Quân đoàn I từ Đà Nẵng ra Huế, nơi chỉ là một sở chỉ huy tiền phương nhỏ do một số sĩ quan và cố vấn Hoa Kỳ chỉ huy nhưng ông vẫn bay về Đà Nẵng đánh tennis và ăn tối ở nhà.  

Tuyến quân tại sông Mỹ Chánh cần được tăng viện. Tướng Trưởng đề nghị Tổng Thống Thiệu cho bổ sung quân số. Ngày 8 tháng 5, Lữ đoàn 2 Nhảy Dù đến tăng viện và củng cố lại tuyến đường mặt biển. Hai tuần sau, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù và bộ chỉ huy sư đoàn Dù bay đến Huế. Các đơn vị thiện chiến nhất bao gồm sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, sư đoàn Dù và sư đoàn 1 QLVNCH lúc này xem như đã nằm dưới quyền chỉ huy của tướng Trưởng.

qtri 3
Trung tướng Ngô Quang Trưởng tại Bộ Chỉ huy Lữ đoàn TQLC/VNCH, phía Bắc Huế. 

Bày binh bố trận tốt cho phép vị tướng trở nên quyết đoán táo bạo hơn. Lữ đoàn 369 của Thủy Quân Lục Chiến VNCH mở màn cuộc tấn công vào hậu cứ cộng quân ngay phía Nam thị xã Quảng Trị với hai tiểu đoàn phi đội. Hai ngày sau, vào ngày 15 tháng 5, Sư đoàn 1 QLVNCH tái chiếm được căn cứ hỏa lực cũ của Mỹ là Bastogne, củng cố phía mạn Tây dẫn vào Huế. Trong khi quân đội VNCH tiếp tục chiến đấu với địch quân thì các cố vấn Mỹ đã điều các cuộc không kích đầy hữu hiệu.

Cuộc phản công của Quân đoàn I mang mật danh là Chiến Dịch Lam Sơn 72 nhằm đẩy lùi địch quân qua khỏi khu vực phi quân sự DMZ. Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho tướng Trưởng tái chiếm cổ thành Quảng Trị, là thành phố tỉnh lỵ duy nhất nằm trong tay địch, trước khi tiến quân xa hơn ra phía Bắc. Thị trấn này không có giá trị chiến lược và tướng Trưởng muốn bỏ qua nó vì ông muốn tiêu diệt các đơn vị Cộng quân và chiếm lại các vùng đã mất trước, nhưng lệnh của tổng thống Thiệu đã buộc các sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến đi vào một cuộc đụng độ đẫm máu trong nội đô với quân địch. 

Một kế hoạch tinh vi nhằm đánh lừa địch quân về thời gian và địa điểm của cuộc tấn công được vạch ra. Đó là cho "lộ bí mật" về một cuộc nhảy dù và một cuộc đổ bộ vào hậu cứ của địch quân. Tuy nhiên, cú lừa này không tạo ra hiệu quả đặc biệt gì vì bộ chỉ huy quân cộng sản trong khu vực đã nhận được thông tin chi tiết về cuộc tấn công thật sự từ một điệp viên của họ cài vào trong ban tham mưu Quân đoàn I. 

Chiến dịch Lam Sơn 72 bắt đầu vào ngày 28 tháng 6 khi Thủy Quân Lục Chiến và lính Dù mở cuộc tấn công trong đêm qua sông Mỹ Chánh. Mặc dù kế hoạch đã bị lộ, họ cũng gặp sự kháng cự giới hạn từ địch quân. Các sĩ quan cao cấp đầy tự tin của QLVNCH hy vọng sẽ tái chiếm được cổ thành Quảng Trị trong chín ngày nhưng dự tính này đã thiếu chính xác. 

Quân tiến công được hỗ trợ bởi các cuộc oanh kích của B-52, có sự yểm trợ mạnh trên không cùng hỏa lực của hải quân Hoa Kỳ với hai tiểu đoàn lính Dù và hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH đổ bộ vào phía sau tuyến kháng cự chính của địch quân. Dù vậy, sư đoàn Dù cũng phải mất một tuần mới đến được vòng ngoài của thị xã. Tốc độ tiến quân chậm đã giúp phía địch quân có được thời gian để củng cố trong cổ thành. 

Được xây dựng vào năm 1824, bốn mặt của cổ thành có chiều dài 1,640 feet (khoảng 500 mét) và tất cả đều được bảo vệ bởi một con hào rộng. Những bức tường gạch dày cao gần 30 feet (hơn 9 mét) với một tháp pháo đài ở mỗi góc thành. 

Tư lệnh Sư đoàn Dù là Trung tướng Dư Quốc Đống ra lệnh cho Lữ đoàn Dù 2, gồm ba tiểu đoàn với hơn 2,000 lính dù, đánh chiếm thị xã. Đại tá Trần Quốc Lịch cam đoan với tướng Đống rằng Lữ đoàn của ông sẽ chiếm lại nhanh chóng và đã chuẩn bị rượu champagne để ăn mừng chiến thắng. Dù vậy, Đại Tá Lich vẫn cho tấn công khá thận trọng. 

Thiếu tá Lê Văn Mễ, một sĩ quan có năng lực xuất chúng chỉ huy đơn vị chủ lực của lữ đoàn là Tiểu đoàn Dù 11, biết sự  thận trọng của Đại Tá Lịch đã khiến tiểu đoàn của ông mất phần chủ động. Cố vấn Hoa Kỳ của Thiếu tá Mễ là Đại úy Gail “Woody” Furrow, nói với một cố vấn khác rằng: “Họ đã trên đường bỏ chạy! Chúng ta nên bỏ qua thị xã Quảng Trị và tiến thẳng đến DMZ”. 

Tư lệnh quân Bắc Việt tại chiến trường này là Trung tướng Trần Văn Quang, biết Tổng Thống Thiệu sẽ cho thực hiện bất cứ điều gì cần thiết để tái chiếm thị xã. Biết là một cuộc chiến đẫm máu sẽ diễn ra, ông ta đã chuyển một số trung đoàn bộ binh vào trong cổ thành và sử dụng một trung đoàn khác để xây dựng các công sự bên trong thị xã. Súng cối và đại bác, đặc biệt là pháo hạng nặng 130 ly do Liên Xô chế tạo đã được tái bố trí để hỗ trợ tối đa hỏa lực. Các đại bác 130 ly đã phóng những quả đạn nặng 70 pound đi xa khoảng 17 dặm, vượt xa tầm bắn của các loại pháo 105 và 155 ly của phía VNCH. Pháo binh và súng cối của cộng quân đã gây ra phần lớn thương vong cho lính VNCH.

 

Cuộc tấn công của Lữ đoàn 2 Nhảy Dù bắt đầu vào ngày 10 tháng 7. Hai tiểu đoàn 6 và 11 tấn công từ phía Nam, trong khi Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù thực hiện cuộc tấn công chính từ phía Đông Bắc. Các tiểu đoàn 5 và 6 Nhảy Dù, tăng viện vào ngày 25 tháng 6, không đủ quân số chiến đấu do thiệt hại từ chiến trường An Lộc kéo dài từ tháng Tư đến giữa tháng Sáu. Đại úy Earl Isabell, cố vấn của Tiểu đoàn 5, sau đó cho biết: “Chúng tôi được chỉ định là mũi tấn công chính nhưng không được bổ sung thêm quân số. Chúng tôi cần thêm vài đại đội. Các tân binh thì hầu như chưa được huấn luyện còn các chỉ huy dày dặn kinh nghiệm tử nạn tại An Lộc vẫn chưa được thay thế”.

Các Tiểu Đoàn 6 và 11 Nhảy Dù đã giành được ưu thế vành ngoài thị xã, nhưng quân Bắc Việt đã chiến đấu ở mỗi góc nhà. Cuộc xung kích được tính từng mét và mỗi tòa nhà chiếm được. Tiểu Đoàn 1 của sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã mở một cuộc tấn công bằng đường không ở cách thị xã Quảng Trị khoảng một dặm về phía Đông Bắc vào sáng ngày 11 tháng 7 để ngăn chặn giao thông trên đường 560, song song với sông Thạch Hãn là tuyến tiếp tế chính của quân cộng sản phòng thủ. Tiểu đoàn được chở trên 34 chiếc trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ  và 6 trực thăng tấn công Cobra của Quân đội Hoa Kỳ hộ tống. 

Cuộc đổ quân được yểm trợ bởi hỏa lực Hải Quân và các cuộc oanh tạc của B-52 nhưng vẫn vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Súng tự động và hỏa tiễn địa-không SA-7 bắn lên như mưa. Một chiếc CH-53 Sea Stallion và hai chiếc trực thăng CH-46 Sea Knight chở Thủy Quân Lục Chiến bị bắn hạ. Một chiếc trực thăng vô tình hạ cánh gần một chiếc xe tăng T-54 của cộng quân được ngụy trang khá kỹ nhưng chiếc Cobra hộ tống có trang bị phi đạn chống tăng nên đã tiêu diệt được chiếc xe tăng này. 

Thiếu tá Nguyễn Đăng Hòa, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 và cố vấn của ông là Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ  Lawrence Livingston đã dẫn đầu các cuộc xung phong vào ngày 11 tháng 7 nhằm phá hủy các công sự của cộng quân đang chặn đường tiến quân lính VNCH. Livingston đã được tặng thưởng bội tinh vì sự anh dũng của mình. Trận đánh tiếp diễn trong ba ngày. Đến ngày 14 tháng 7, đường 560 đã bị cắt đứt. Quân Bắc Việt phải tìm đường khác thay thế để tiếp tế cho quân của mình tại Quảng Trị.

Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù đã thực hiện cuộc tấn công chủ lực vào đêm ngày 11 tháng 7. Hỏa lực pháo binh được bắn trước và 18 cuộc xuất kích của Không quân Hoa Kỳ đã làm yếu các công sự phòng thủ của tòa thành. Tuy nhiên, quân phòng ngự của địch quân đã chặn được Tiểu đoàn 5 ngay sát chân tường thành. 25 lính bị tử nạn và hơn 100 lính bị thương.

Lệnh cấm Không Quân Mỹ không kích vào bên trong thị xã được ban hành vào ngày 15 tháng 7 vì Tổng Thống Thiệu muốn tái chiếm Quảng Trị mà không cần sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Ông bối rối trước các báo cáo rằng Không Quân Hoa Kỳ đã cứu được An Lộc và Kontum. Trước sự phản đối của tướng Trưởng, một vòng tròn tưởng tượng đã được vẽ xung quanh thị xã. Các cuộc không kích của Hoa Kỳ đã bị cấm trong khu vực đó.

Khúc khải hoàn viết bằng máu 

qtri 4
Chiến đấu trong thành phố Quảng Trị, có cả những lần cận chiến xáp lá cà đẫm máu.

Quân Bắc Việt vẫn mở các cuộc tấn công nhằm phá vỡ những cuộc hành quân phối hợp của phía VNCH. Họ tấn công Tiểu Đoàn 5 vào ngày 15 tháng 7 và gần như chiếm được trạm chỉ huy tiểu đoàn. Vì một lý do không giải thích được, cuộc tấn công đã bị dừng lại khi chiến thắng nằm trong tầm tay của cộng quân. Hai ngày sau, một cuộc tấn công tương tự vào Tiểu Đoàn 6, hai bên đánh xáp lá cà trước khi quân Bắc Việt rút lui. 

Lính Dù của quân lực VNCH tấn công nhưng kết quả giới hạn và thương vong tăng lên. Những người cộng sản nướng quân cho chuyện cầm cự vì việc giữ được Quảng Trị là ưu tiên hàng đầu của Hà Nội. Mặc dù đường 560 đã bị chặn, các chuyến phà trên sông Thạch Hãn vẫn chuyển quân, hàng tiếp liệu và khí cụ thay thế vào cổ thành, cố duy trì ưu thế về quân số của mình. Trong khi đó, phía chính quyền Sài Gòn đã gặp khó khăn để đáp ứng kịp nhu cầu thay quân.  

Bộ chỉ huy Lữ đoàn Dù 2 nhận mệnh lệnh mở một cuộc tấn công khác. Lần này Tiểu Đoàn 5 được tăng cường thêm hai Đại Đội từ Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù thiện chiến và một Trung Đội xe tăng. Trước cuộc tấn công vào đêm 23 tháng 7, một chiếc F-4 Phantom của Không lực Hoa Kỳ đã được phép thả một quả bom đạn đạo laser nặng 2,000 cân Anh xuống thành lũy phía Đông Bắc của tòa thành để Tiểu đoàn 5 đột kích vào pháo đài. Khi trời rạng sáng, lệnh hạn chế không lực Hoa Kỳ lại bị áp đặt và Không Quân VNCH được ra lệnh thay thế. Một phi cơ đã vô tình thả ba quả bom 500 cân vào giữa lính nhảy dù, gây thiệt mạng 45 lính và làm bị thương nặng 100 lính khác.Tiểu đoàn 5 buộc phải rút lui, chấm dứt cuộc tấn công. 

Cuộc chiến đấu kéo dài hai tuần gần như xoá sổ cả Lữ đoàn 2 Nhảy Dù. Tiểu đoàn 5 bị thiệt hại nặng nề nhất. Đơn vị có 600 quân bị tử trận hết 98 lính và 400 lính bị thương. Hai tiểu đoàn còn lại cũng không khá hơn. Bốn trong sáu cố vấn Mỹ bị thương và phải chở vào bệnh viện. Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH tiếp viện cho Sư đoàn Dù vào ngày 27 tháng 7. Một cố vấn Thủy quân lục chiến Mỹ đã phải giật mình trước những gì nhìn thấy tại Quảng Trị. 

Quảng Trị là hình ảnh của Berlin vào năm 1945. Hố bom khắp mọi nơi. Mọi cấu trúc hầu như đã bị phá hủy, chỉ còn những tòa nhà trơ trọi vách.

qtri 5
Quang cảnh đổ nát của thành phố sau trận chiến. 

Hầu hết lính Thủy Quân Lục Chiến tin rằng họ sẽ nhanh chóng chiếm ưu thế nếu lính Dù chưa làm được. Sự lạc quan của họ nhanh chóng tụt xuống khi cuộc tấn công ban đầu bị chao đảo sau khi đối đầu với một lực lượng phòng vệ vượt trội về quân số phía địch quân. Thiếu tướng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Richard Rothwell, cố vấn cho Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến VNCH, đã đổ lỗi một phần điều này cho Sư đoàn Dù đã không bảo vệ được sườn trái của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến. Nhiều pháo đài cũ ở phía Tây Quốc lộ Một do cộng quân chiếm giữ đã nã pháo vào các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đang tấn công. Trước đó thì Thiếu Tá Lê Văn Mễ, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Dù đã cho rằng các pháo đài nằm quá xa để có thể cản đường tiến công dọc theo trục mà Thủy Quân Lục Chiến sử dụng. 

Bất kể là gì, bộ tham mưu Quân Đoàn I đã không giao trách nhiệm về các pháo đài và thiết lập ranh giới chính xác giữa hai sư đoàn. Đây là một sơ suất tác chiến quan trọng của bộ tham mưu trong chiến tranh quy ước vì chỉ từng tác chiến đơn vị nhỏ mà hiếm khi chỉ huy phối hợp trong môi trường chiến thuật. 

Cuộc tấn công vào ngày 3 tháng 8 cũng bị sa lầy. Tổng Thống Thiệu buộc phải gỡ bỏ các hạn chế các cuộc oanh tạc của Mỹ vào Quảng Trị, nhưng quyết định đó cũng không thay đổi được gì khi trận chiến đã trở thành các cuộc đọ sức giữa pháo binh VNCH và các cuộc oanh tạc của Không Quân Hoa Kỳ đối đầu với pháo binh cộng quân. Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến đơn giản là không đủ lực lượng để thắng được đông đảo địch quân. Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến cần được tăng quân.  

Trong suốt tháng 8, các cuộc giao tranh tại từng mỗi góc nhà và pháo binh liên tục gây ra nhiều tổn thất hơn cho binh lính VNCH. Kể từ ngày 30 tháng 3, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến hùng mạnh với 15,000 quân đã thiệt mạng hết 1,358 lính và 5,500 lính bị thương. Các cuộc giao tranh cũng đã gây ra một thiệt hại tương tự cho các cố vấn Mỹ của Sư Đoàn. Vào đầu tháng Bảy, đơn vị Cố vấn Thủy Quân Lục Chiến đã phải yêu cầu khẩn cấp chín sĩ quan thay thế những sĩ quan Mỹ tử nạn.

Những lời yêu cầu lặp đi lặp lại của tướng Lân về việc tăng thêm quân đã được đáp ứng vào ngày 8 tháng 9. Ba tiểu đoàn của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân đến thay cho Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến 147 ở phía Bắc thị xã, nhằm giúp Thủy Quân Lục Chiến dồn thêm các tiểu đoàn cho cuộc tấn công. Lúc này tướng Lân đã có trong tay sáu tiểu đoàn, gồm bốn tiểu đoàn ở hướng Nam và hai tiểu đoàn ở hướng Bắc để thực hiện nhiệm vụ. Ông vẽ sơ đồ giáp công đến giữa thành, bố trí Lữ đoàn 147 ở hướng Bắc và Lữ đoàn 258 ở hướng Nam. Tiểu đoàn 6 được ra lệnh tấn công từ hướng Đông Nam. 

Để kéo đối phương ra khỏi Quảng Trị, Hạm Đội 7 của Mỹ đã thực hiện một cuộc đổ bộ giả. Lữ đoàn đổ bộ Thủy Quân Lục Chiến số 9 đã thực hiện tất cả kế hoạch này, bao gồm tung sóng vô tuyến giả, trinh sát các bãi đổ bộ và đưa 400 lính Biệt Động Quân VNCH lên các tàu đổ bộ của Hoa Kỳ. Vào ngày 9 tháng 9, các cuộc pháo kích của Hải Quân, các cuộc không kích chiến thuật và một cuộc tấn công bằng bom B-52 đã dội xuống bãi biển phía Đông thị xã Quảng Trị. Khi trận ném bom ngưng lại, quân Bắc Việt xông ra khỏi các hầm boong-ke để xáp chiến với lực lượng đổ bộ. Họ bị kẹt trong làn pháo của Hải Quân và bị tổn thất nặng nề. Thiết giáp lội nước và trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã vào đến bờ biển nhưng lại quay lưng lại không tham chiến. 

Trong khi Lữ đoàn 9 cầm chân đối phương, cuộc tấn công vào cổ thành mở màn. Phía Cộng quân tái bố trí một số pháo binh của họ trước mối nguy từ Hạm đội 7 đã làm giảm hỏa lực trước các lữ đoàn tấn công. Nhưng Thủy Quân Lục Chiến VNCH vẫn phải đối mặt với một trận đánh khốc liệt. Những đống gạch đổ nát do pháo kích đã tạo ra những vị trí phòng thủ tuyệt vời và hệ thống hầm công sự của cộng quân đã chống đỡ được phần nào hỏa lực phía Thủy Quân Lục Chiến. 

Đêm 9 tháng 9, Trung tá Đỗ Hữu Tùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Thần Ưng TQLC cho một mũi thám báo đột nhập thành. Nhóm này báo lại là đã gặp sự kháng cự ít ỏi, vậy là Trung Tá Tùng phát lệnh tấn công ngay tối hôm sau. Rạng sáng đầu ngày 11 tháng 9, một chốt đại đội đã cắm vào được vào bên trong góc Đông Nam của tòa thành. Trung Tá Tùng tung thêm lính TQLC vào. Đồng thời, các Tiểu đoàn 1 và 2 chiếm được phía sông Thạch Hãn, chặn đường hoạt động của phe địch. Cộng quân phản công nhưng Thủy Quân Lục Chiến giữ vững được chiến tích xương máu của mình. 

Về phía Bắc, các Tiểu đoàn 3 và 7 đã quét sạch khu vực đóng quân cộng sản. Sáng ngày 15 tháng 9, Tiểu đoàn 3 xông vào thành. Cộng quân bắt đầu một trận pháo kích dữ dội để cắt Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 ra nhau, nhưng cả hai đơn vị này vẫn giữ được đội hình tác chiến vào xế chiều.

12:45 trưa ngày 16 tháng 9, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới tung bay trên Tây môn cổ thành, xem như chấm dứt 138 ngày lọt vào tay quân cộng sản Bắc Việt.  

Tin chiến thắng đi khắp thế giới. Với miền Nam Việt Nam, việc chiếm lại được tỉnh lỵ cuối cùng trong tay địch là một điều hết sức vui mừng. Ngày 20 tháng 9, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bay ra ủy lạo Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, chúc mừng bộ tham mưu, các sĩ quan và binh sĩ. Việc thăng cấp và trao huân chương đã được thực hiện cùng khắp.

Thiếu tướng Lục Quân Hoa Kỳ Howard Cooksey, Tham mưu trưởng của Bộ Chỉ huy Viện Trợ Quân Sự Vùng Một còn đề nghị tặng Huân chương Tổng thống Hoa Kỳ, một anh dũng bội tinh cho lính Mỹ hay đồng minh đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường, cho toàn bộ chiến sĩ Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH, dù điều này không có dấu hiệu đã diễn ra.


– John D. Howard

(Bản dịch Đinh Yên Thảo)

 

Nguồn: historynet.com