Friday, April 21, 2017
Monday, April 10, 2017
Monday, April 3, 2017
TRẬN XUÂN LỘC : CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG
Trọng Đạt - Đầu tháng 4 năm 1975, QK1 và QK2 đã lọt vào tay cộng sản (CS).
Hai phòng tuyến chính của VNCH phía Đông Bắc Sài Gòn bấy giờ là Phan
Rang và Xuân Lộc thuộc Long Khánh. Từ 25-3-1975 Bộ chính trị CSBV quyết
định đốt giai đoạn cuộc tổng tấn công, tập trung các lực lượng binh khí
kỹ thuật đánh chiếm Sài Gòn trước mùa mưa.
Xuân Lộc cách Sài Gòn khoảng 80 cây số, cửa ngõ của Thủ đô, phòng
tuyến Xuân Lộc rất quan trọng vì nó là vị trí yết hầu, các đơn vị lớn
của BV từ miền Trung nếu chiếm được Xuân Lộc sẽ đổ xuống Sài Gòn. Xuân
Lộc được coi như vòng đai bảo vệ phi trường Biên Hòa và Thủ Đô. Từ đầu
tháng 4-1975 Sư đoàn 18 BB, các đơn vị Thiết giáp, Biệt động quân, Pháo
binh tăng cường đã được đưa lên trấn đóng trên một tuyến dài 20 km. BV
mở đầu chiến dịch Hồ chí Minh bằng cuộc tấn công Xuân Lộc từ ngày 9-4,
trận chiến đẫm máu kéo dài 11 ngày, đây là một chiến thắng cuối cùng của
QĐVNCH trước ngày đất nước lọt vào tay CS.
Tướng Smith đã tường trình về Mỹ, ông đã ghi nhận Không quân VNCH đã chứng tỏ ý chí kiên cường gây thiệt hại nhiều cho đối phương. Trận giao tranh nhằm kiểm soát Xuân Lộc, CS quyết tâm tiêu diệt các đơn vị phòng thủ VNCH để lấy cửa ngõ vào Biên Hoà và Sài Gòn bằng bất cứ giá nào.
Sáng ngày 13-4 QĐVNCH vẫn giữ vững vị trí, nhờ sự yểm trợ chính xác của Không quân, lực lượng phòng thủ đã gây thiệt hại nặng nề cho BV. Phòng tuyến Tây Xuân Lộc, kể từ tối 13-4 co lại chỉ còn khoảng 6 cây số dọc theo Quốc Lộ 20.
Sáng ngày 14-4, 15-4 Chiến đoàn 52 (khoảng 2,000 người gồm Trung đoàn 52 (SĐ-18), Lữ đoàn 3 Thiết Kỵ, ĐPQ Kiệm Tân, Long Khánh) đã bị thiệt hại và mệt mỏi vì giao tranh liên tục với Cộng quân. Tại Ngã ba Dầu Giây trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, BV tung thêm nhiều Sư đoàn có xe tăng yểm trợ cùng với pháo binh để chọc thủng phòng tuyến của ta tại ngã ba Dầu Giây của Chiến đoàn 52. Trong trận đánh cuối cùng này các chiến sĩ ta phải đương đầu với một lực lượng địch đông gấp 10 lần cùng với sự yểm trợ dữ dội của pháo binh và xe tăng T-54.
Trận chiến rất ác liệt tàn khốc ngay từ lúc mới giao tranh, những đợt xung phong biển người của Cộng quân đã tràn ngập các vị trí chiến đấu của VNCH, địch chọc thủng phòng tuyến và chia cắt các lực lượng ta, 4 xe tăng M-48 của VNCH bị trúng pháo kích, trời tối nên máy bay cũng không yểm trợ được. Chiến đoàn 52 đã bị BV đánh tan đêm 15-4, chỉ có hai đại đội khoảng 200 người chạy thoát về hướng Long Bình, khoảng 1500 người thuộc Chiến đoàn 52 BB bị thiệt hại, đánh tan tác trong 6 ngày cuối cùng tại mặt trận Dầu Giây. Phòng tuyến của Chiến đoàn tại ngã ba Dầu Giây Long Khánh tan vỡ đêm 15-4-1975, Pháo binh, Thiết giáp tại đây bị tiêu hủy hết.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân khu 3 xin Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter (Hồi 1975 người ta gọi nhầm là CBU) để ngăn sức tiến của Cộng quân. Hôm sau 16-4 vào lúc 11 giờ sáng hai trái bom khổng lồ đã được thả xuống vị trí đóng quân của BV, một đoàn xe dài đầy những xe tăng đại bác trên quốc lộ 20 từ Định Quán trở xuống. Theo lời Tướng Toàn có vào khoảng 2 Sư đoàn, 10 ngàn cán binh CS bị tiêu diệt, hằng trăm thiết giáp, đại bác bị phá huỷ, BV bị chận đứng tại Dầu Giây.
Ngày 20-4 Tướng Toàn bay vào Long Khánh gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch rút quân bỏ Xuân Lộc. Sau này tại Hải ngoại, Tướng Toàn đã trả lời Phạm Huấn trong một cuộc phỏng vấn về chiến trường Long Khánh.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn cho biết sau khi phòng tuyến của Chiến đoàn 52 bị CS tràn ngập đêm 15-4, ông đã xin lệnh Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter vì địch tập trung rất đông đảo trong vùng này, BTTM đã chấp thuận đề nghị và cho thi hành ngay hôm sau.
“Hỏi: Trung Tướng có được báo cáo về kết quả sau khi những trái bom này được thả?
Đáp: Vâng, khoảng hai sư đoàn Cộng sản bị loại khỏi vòng chiến (hơn 10 ngàn quân) và rất nhiều chiến xa T-54, đại pháo của Bắc Việt bị hủy diệt khi đang di chuyển trên Quốc lộ 20, từ Định Quán xuống ngã ba Dầu Giây. Tôi đã đề nghị thả 5 bom ‘Daisy Cutter’ nữa xuống nhiều vùng tập trung quân khác của Cộng Sản Bắc Việt trên chiến trường Quân Đoàn III sau khi biết chắc rằng những pháo đài bay B- 52 của Mỹ không còn trở lại ViệtNam, và để quân ta có thể bung ra phản công, tiêu diệt địch, nhưng chỉ có 2 quả được thả xuống phía Bắc Dầy Giây mà thôi.
Hỏi: Lý do?
Đáp: Tôi được thông báo cho biết loại bom ‘Daisy Cutter’ tùy thuộc vào đầu nổ, và các chuyên viên của Mỹ. Mình có bom, nhưng không có đầu nổ và chuyên viên xử dụng cũng như không!
(Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước trang 164.)
Về điểm này Tướng Trần Văn Nhật, cựu Tư lệnh Sư đoàn 2 có viết trong cuốn hồi ký của ông:
“Cũng chính Tướng Toàn là Tư Lệnh chiến trường đã chấp thuận cho xử dụng 2 trong số 6 trái bom (vì chỉ còn có 2 đầu đạn) Daisy Cutter nặng 15 ngàn cân Anh, do phi cơ C-130 thả xuống yểm trợ cho mặt trận Xuân Lộc. Loại bom này có sức tàn phá khủng khiếp hơn cả B-52. Nổ 200 thước trên đầu ngọn cây nên được dùng để phá những khu rừng rậm làm bãi đáp cho trực thăng tiếp tế, tản thương. Đáng lý ra chúng ta có đến 27 trái bom loại này theo quyết định của Đại Tướng F.Weyand trong chuyến viếng thăm Việt Nam tháng 2/75 cùng với ông Phụ tá bộ trưởng Quốc phòng Eric Von Marbod. Ông đề nghị cấp tốc gửi qua Việt Nam vào giữa tháng 4/75 một số Daisy Cutter cùng một số chuyên viên kỹ thuật vì theo ông nghĩ vị trí của Cộng Quân càng ngày càng xuất đầu lộ diện, nên cần phải xử dụng loại bom tàn phá này rất thích hợp mà Không quân Việt Nam có thể thả bằng phi cơ bay chậm C-130 và tác dụng của nó còn khủng khiếp hơn B52. Rất tiếc chỉ có 6 trái đến được Việt Nam vào cuối tháng 4/75 và không hiểu sao chỉ có hai ngòi nổ”
(Cuộc Chiến Dang Dở trang 248.)


Cũng theo ông có một sự ngộ nhận loại bom này với CBU-55 (Cluster
Bomb Unit) nặng 500 cân Anh thường được thả bằng máy bay A-37 hay A-1,
hay OV 10 (quan sát) loại bom này rớt xuống đất sẽ tung ra nhiều trái
bom bi nhỏ hơn trái banh tennis màu da cam, có thể lọt xuống hầm cá
nhân, địa đạo, khi nổ nó sẽ tiêu thụ hết dưỡng khí trong khu vực từ 60
đến 20 thước , làm cho các sinh vật chết ngạt trong 24 giờ.
Theo tác giả Nguyễn Đức Phương, năm quả bom Daisy Cutter khác đã được
đề nghị xử dụng tại Quân khu 3 nhưng vì Hà Nội đã cực lực tố cáo Mỹ đã
ném loại bom này trước dư luận thế giới nên Mỹ không tiếp tục cung cấp
ngòi nổ cho những quả còn lại. Cũng có giả thuyết cho rằng người Mỹ chỉ
cho ném hai quả để ngăn chận bớt đà tiến quân quá nhanh của BV ngõ hầu
di tản kịp thời. Có người cho rằng họ chỉ cho ném hai quả để thử nghiệm
vũ khí, ý kiến trên và hai giả thuyết sau đều có vẻ đúng.
Về lý do rút bỏ Long Khánh Phạm Huấn đã phỏng vấn Tướng Toàn như sau.
Hỏi: Thưa Trung Tướng, ai đã ra lệnh rút bỏ Long Khánh ngày
20-4-1975, Trung Tướng hay Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18
Bộ Binh?
Đáp: Tôi quyết định ra lệnh rút bỏ Long Khánh, sau khi bay lên
Xuân Lộc, thảo luận với Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh .
Hỏi: Lý do đưa đến quyết định rút bỏ Long Khánh của Trung Tướng?
Tôi có được tiếp xúc, phỏng vấn các cấp chỉ huy Tiểu Đoàn Trưởng, Đại
Đội Trưởng, Lữ Đoàn I Nhẩy Dù , họ nói sáng ngày 20-4, Lữ Đoàn Dù và Lực
Lượng Thiết Giáp giao tranh giữa ban ngày và thắng lớn, tiêu diệt gần 2
Trung Đoàn Việt Cộng, thì được lệnh rút?
Đáp: Tôi quyết định rút Long Khánh vì biết rằng phòng tuyến này
không thể giữ được nữa, ở lại thêm ít ngày, Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lữ
Đoàn I Nhẩy Dù sẽ bị đánh tan, bị thiệt quân vô ích. Lực Lượng địch dù
bị thiệt hại rất nặng, nhưng vẫn còn 4 Sư Đoàn quân chính qui Cộng Sản
Bắc Việt. Sau khi thả 2 quả bom “Daisy Cutter”, tôi đã ra lệnh tăng
cường cho mặt trận Long Khánh thêm một Thiết Đoàn Chiến xa nữa, nhưng 4
ngày sau, Thiết Đoàn Chiến xa này vẫn chưa thoát đi được khỏi khúc Ngã
ba Dầu Giây. Trong khi đó Cộng quân đã chuẩn bị xong chiến dịch 2 tiến
về Sài Gòn, với 5 Sư Đoàn Cộng Sản Bắc Việt ở mặt trận phía Đông sẽ tấn
công thẳng vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hoà, và các căn cứ quân
sự như Trường Thiết Giáp, Trường Bộ Binh Long Thành. Ba Sư Đoàn Cộng Sản
Bắc Việt khác ở mặt trận Tây Bắc Sài Gòn sẽ tấn chiếm Tây Ninh. Do đó,
tôi quyết định rút bỏ Long Khánh, lui quân về lập phòng tuyến mới phòng
thủ Biên Hoà.
(Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước trang 164, 165.)
Cũng theo lời Tướng Toàn cuộc lui binh đã diễn ra tốt đẹp, chỉ có một
đại đội của của Sư đoàn 18 và một pháo đội Dù bị thiệt hại.
Quyết định bỏ Xuân Lộc là một quyết định đúng, lúc khởi đầu cuộc
chiến Xuân Lộc là cửa ngõ Đông Bắc để vào sài Gòn, đúng như tầm quan
trọng mà BV đã nhận định, Sư đoàn 18 đã cầm chân được cả một Quân đoàn
BV và gây thiệt hại nặng cho đối phương. Nhưng tại Xuân Lộc nay ta không
còn trừ bị để đưa vào mặt trận, vả lại tuyến phòng thủ Phan Rang đã bị
Quân đoàn 2 CS phá vỡ, họ đang theo Quốc Lộ 1 tiến về Sài Gòn, vị trí
của Xuân Lộc không còn quan trọng như trước.
Sư đoàn 18 BB và các lực lượng tăng phái, ĐPQ đã rút lui về về phía
Nam theo liên tỉnh lộ 2 nối liền Long khánh và Phước Tuy rất có trật tự,
an toàn, ít thiệt hại. Rút kinh nghiêm ở sự thất bại của cuộc triệt
thoái Cao nguyên, gia đình binh sĩ đã được di tản từ trước trận đánh nên
đã không xẩy ra tình trạng náo loạn như tại miền Trung tháng 3-1975.
Trung đoàn 48 rút lui trước về đến Long Giao đặt pháo tại đây để yểm trợ
tổng quát cho cuộc lui binh, tiếp theo là các đơn vị yểm trợ như công
binh, truyền tin, quân y… Bộ chỉ huy Tiểu khu Long Khánh, Trung đoàn 43,
Lữ đoàn Dù đi sau cùng bị thiệt hại nặng.
Theo Hồ Đinh kế hoạch lui binh có tổ chức và các cấp đều sát cánh với nhau.
“Tóm lại cuộc lui quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế
hoạch và trên hết, chính Tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ
Tỉnh Trưởng Phạm Văn Phúc, Đại Tá Đỉnh, Lữ đoàn trưởng Dù..đều đi bộ và
tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được chiến thắng?”
(Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc.)
Sư đoàn 18 BB bị thiệt hại khoảng 30% quân số, Chiến đoàn 52 bị thiệt
hại tới 60%, ĐPQ, nghĩa quân bị thiệt hại nhiều nhất, hơn 5,000 quân CS
bị tử thương cùng 37 chiến xa bị bắn cháy, chưa kể hai Sư đoàn đã bị
bom Daisy Cutter tiêu diệt.
Nói về tinh thần chiến đấu của Sư đoàn 18 BB tại Long Khánh tháng
4-1975 Ông Dawson, trưởng nhóm phóng viên hãng thông tấn UPI viết:
“…Trận đánh kéo dài một ngày nữa, rồi lại một ngày nữa, và cứ thế.
TướngĐảo và binh sĩ của ông đã đánh một trận đánh mà ít người dám nghĩ
rằng họ có thể làm được. CS tung vào Xuân Lộc một sư đoàn nữa. Sư đoàn
18 vẫn tiếp tục chống cự. Ngày 10 tháng 4. Cộng quân lại đánh vào giữa
thị xã và lại bị đẩy lui. Ngày 12, quân CSBV vẫn không tiến thêm được
chút nào. Hai trung đoàn của quân đội nam Việt Nam không những đã giữ
vững được vị trí mà còn phản công dữ dội hơn… Thêm 2000 đạn nữa rót vào
Xuân Lộc, xé nát mọi vật. Sư đoàn 18 vẫn đứng vững. Tướng đảo ở lại bên
các binh sĩ của ông và tiếp tục chiến đấu”
Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 790.
Thượng tuần tháng 4-1975, Đài phát thanh và truyền hình tại Sài Gòn
ca ngợi chiến thắng Long An (Thủ Thừa) “Chiến thắng Long An và Long
Khánh là những nhát búa đập lên đầu bọn chủ bại”, mục đích nâng cao tinh
thần quân dân. Lê Đức Thọ cũng phải công nhận thất bại tại trận Thủ
Thừa, Long An và Xuân Lộc, Long Khánh:
“Sau hai lần B2 xin quân thì tôi vào chiến trường gặp lúc hội nghị
miền vừa kết thúc. Tôi được nghe anh em báo cáo lại là đã bàn về việc
đánh Xuân Lộc. Lúc ấy tôi cũng được biết trước đó, theo chủ trương của
Miền, anh em đã đánh Thủ Thừa, đường số 4, nhưng bị thiệt hại nặng nề,
không giải quyết được chiến trường? Ngoài ra, còn có bọn địch ngoan cố
chống cự như trận đánh vào Đồng Dù (Củ Chi), Nước Trong (Trường Thủ Đức,
Trường Thiết Giáp) là các trận đánh ác liệt tại miền Đông, thương vong
của ta không phải ít. Do đó tôi mới có ý toan bàn với các đồng chí
ngưng đánh Xuân Lộc lại. Nhưng nghe anh Dũng nói, tôi cũng nghĩ có thể
mình mới vào chưa rõ hết tình hình; cứ để các đồng chí đánh vậy. Kết cục
là anh em ta không đánh được Xưân Lộc, bị thương vong nặng phải rút
ra”.
(CTVNTT, trang 791, 792)
Darcourt, sử gia người Pháp nhận xét.
“Trong hai ngày
pháo binh CSBV tác xạ hơn 8000 trái đạn vào các vị trí của sư đoàn 18.
Liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy của Tướng Đảo bị gián đoạn rồi lại được
tái lập. Quân của ông bám sát trận địa, chiến đấu cực kỳ dũng mãnh và
nhất định không lùi, mặc cho những trận mưa lửa cứ trút lên đầu họ”.
(CTVNTT, trang 791)
Các nhà báo, nhà quân sự ngoại quốc nói về mặt trận này:
“Với ba sư đoàn 7, 341 và 16, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm
được Xuân Lộc một cách dễ dàng. Ông đã lầm, sư đoàn 18 chưa bao giờ được
xem là một sư đoàn thiện chiến của miền Nam VN. Trái lại, có lần sư
đoàn này còn được xem là sư đoàn tệ nhất. Thế mà trong những ngày cuối
cùng của chiến tranh VN, sư đoàn này đã chiến đấu một cách dũng cảm.
Không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi
ngày”(D,Warner, người Úc)
(CTVNTT, trang 790, 791.)
Tướng Smith, trưởng phòng DAO Mỹ tại Sài Gòn đã phúc trình cho TMT lục quân:
“Chúng tôi đã tạo được một chiến thắng. Tại chiến trường Long
Khánh, rõ ràng QĐVNCH đã chứng tỏ sự quyết tâm và anh dũng chống lại
địch quân đông hơn gấp nhiều lần. Mặc dù chiến trường chỉ mới qua giai
đoạn một, chúng tôi có thể nói không ngần ngại rằng QĐVNCH đã thắng vòng
đầu”
(CTVNTT, trang 791)
Văn Tiến Dũng, người chỉ huy chiến dịch Hồ chí Minh đã phải công nhận
tinh thần chiến đấu của QĐVNCH tại mặt trận Long Khánh trong hồi ký của
y như sau:
“Các sư đoàn 7, sư đoàn 6 và sư đoàn 341 của ta đã phải tổ chức
tiến công nhiều lần vào thị xã, đánh đi đánh lại diệt từng mục tiêu và
phải nhiều lần đẩy lùi các cuộc tập kích của địch. Trung đoàn 43 địch bị
tổn thất nặng. Pháo binh chiến dịch và pháo binh đi cùng các sư đoàn
của ta đã phải dùng thêm cơ số đạn. Xe tăng, xe bọc thép của ta một số
bị hỏng, một số phải trở về vị trí xuất phát tiến công để bổ sung xăng
dầu, đạn dược.
Kế hoạch tiến công Xuân Lộc của Quân đoàn 4 lúc đầu chưa tính hết
được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất
ngoan cố của địch. Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh này không
phải trong phạm vi của Xuân Lộc-Long Khánh nữa rồi…
(Đại Thắng Mùa Xuân trang 174.)
Sau khi QK-1 và QK-2 bị thảm bại trên đường triệt thoái, những lực
lượng còn lại tại QK-3 ai nấy đều xúc động tủi nhục cho danh dự quân đội
và quyết tâm phản công lại CSBV tới cùng. Tại Long Khánh từ ông Tướng
Tư lệnh cho tới người lính, từ bộ binh chính qui cho tới Địa phương
quân, nghĩa quân, ai nấy đều chiến đấu rất kỷ luật can trường. Theo Phạm
Huấn, Đại Tá Phạm Văn Phúc Tỉnh trưởng Long Khánh đã tử trận cùng hằng
nghìn chiến sĩ khác, nhưng theo Hồ Đinh, ông Phúc đã bị VC bắt sống tại
trận.
Chiến thắng Xuân Lộc, Long Khánh được coi như chiến thắng cuối cùng
của miền Nam trước ngày mất nước, mặc dù có gây được tiếng vang và lấy
lại được uy thế cho QĐVNCH nhưng cũng không cứu vãn nổi tình thế đã quá
bi đát.
Bom Daisy Cutter vào khoảng tháng 4-1975 thường được dân Sài Gòn gọi
nhầm là bom CBU. Chiều 21-4-1975 chúng tôi được nghe một ông bạn làm dân
biểu, có chức vụ lớn tại Hạ viện cho biết:
“Mặt trận cuối cùng sẽ là mặt trận Biên Hòa, CSBV sẽ mất 10 sư đoàn, mình đã chuẩn bị bom CBU đầy đủ cả rồi chỉ chờ chúng đến.”
Ông ấy cũng cho biết tin này do một ông Tướng nói lại. Có thể do
“xịa” tung ra để ru ngủ đồng bào ngõ hầu họ dễ bề cuốn gói ra đi êm
thắm.
Theo lời Tướng Toàn như đã nêu trên, người Mỹ chỉ cho ngòi nổ để ném
hai quả bom Daisy Cutter, họ nắm đằng chuôi từ đầu chí cuối tất cả mọi
chuyện và không bao giờ đếm xỉa tới xương máu của cả hai miền Nam Bắc.
Sinh mạng của nhân dân ta chẳng qua cũng chỉ là vật thí nghiệm cho một
cuộc chiến tranh phản bội.
Trước khi cuộc lui binh khỏi Xuân Lộc bắt đầu, ngày 18-4 Uỷ ban Quốc
phòng Thượng viện Hoa Kỳ biểu quyết bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho
VNCH của Tổng thống Ford, họ chỉ cho tiền cứu trợ di tản. Bản tin được
loan đi mau chóng, ai nấy đều thở dài thất vọng thấy rõ tấn tuồng hề
chính trị đã đến lúc hạ màn, tinh thần chiến đấu của binh sĩ đột nhiên
xuống thấp khi được biết sự thật đã quá phũ phàng tàn nhẫn: Án Tử hình
đã được tuyên bố trên đồi Capitol.
Mấy hôm sau cuộc lui binh, ngày 23-4-1975 tại Đại học Tulane, New
Orléans, Tổng thống Ford tuyên bố “Đối với Hoa Kỳ chiến tranh VN đã kết
thúc” ….
Sư đoàn 18 BB, ĐPQ Long Khánh cùng các đơn vị tăng phái đã liều thân
sống chết chống trả cuộc tấn công vũ bão của BV, đã chận đứng cuộc tiến
quân của địch tại Dầu Giây, Xuân Lộc hơn một tuần lễ. Nhưng tất cả mọi
nỗ lực và hy sinh gian khổ của binh lính để giữ vững phòng tuyến, xương
máu của biết bao nhiêu chiến sĩ cuối cùng cũng chỉ là “dã tràng xe
cát”, nước lã ra sông…
“Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê
Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hòa, nhìn vào hướng Trường Bộ Binh
Thủ Đức, Long Thành Bà Rịa, và xa kia Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn
Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội, Long Bình. Ông thấy thấp thoáng
bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không
gian mờ khói đạn. Người lính cuối cuộc chiến chợt thoáng nhớ những lời
thơ ngắn:
‘vì anh là lính áo rằn
Ra đi nào biết mấy trăng mới về…’
Những câu thơ của em ông, Trung tá Lê Hằng Minh, Tiểu Đoàn Trưởng
Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến ‘Trâu Điên’, người lính đã ra đi từ một
ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Trị-Thiên… …rất nhiều người lính đã ra
đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết. Hôm nay sáng 30 tháng
Tư năm 1975, rất nhiều người lính không còn chốn trở về…”
(Phan Nhật Nam, Những Người Lính Chiến Trường Xưa)
Trọng Đạt
Nguồn : http://baotgm.com/index.php/chinh-tri/3598-tr%E1%BA%ADn-xu%C3%A2n-l%E1%BB%99c-chi%E1%BA%BFn-th%E1%BA%AFng-cu%E1%BB%91i-c%C3%B9ng.html
Monday, March 20, 2017
KỸ NGHỆ ĐIỆP BÁO TRONG KHÔNG GIAN MẠNG
Thực ra có lẽ ngày nay tất cả các cơ quan quân sự, an ninh, tình báo, hoặc tài chánh, ngân hàng, hay các trung tâm nghiên cứu, các đại học... của Hoa Kỳ đều có các phòng, các ban lo bảo vệ an ninh mạng và các hệ thống điện toán của họ để chống lại các hackers.
Tuy vậy, trừ những hệ thống mạng thuần túy sinh hoạt trong nội bộ (intranet) và hoàn toàn không có nối kết với hệ thống mạng bên ngoài (internet), còn không thì dù các biện pháp phòng thủ có cẩn mật đến mức nào đi nữa, hệ thống mạng nào gắn liền với internet cũng đều có thể bị hackers xâm nhập.
Điều tra Tội phạm
Sẽ là một thử thách to lớn trong việc điều tra tội phạm liên quan đến các cuộc tấn công của hackers vì nhận diện kẻ gian là một việc rất khó khăn khi kẻ địch hoàn toàn gần như vô hình trong không gian mạng (cyberspace). Tương tự như các tội phạm khác, cuộc điều tra hackers cũng phải dựa trên nhiều yếu tố:
* Xác định điểm đứng của kẻ gian: Đây cũng không đơn giản chỉ là việc tìm ra IP address của hackers. Vì các hacker thường sẽ ngụy
trang vị trí của họ bằng cách ẩn núp đàng sau các tuyến xuất phát là các server trung gian (proxy servers), server trung gian ẩn danh (anonymous proxy - không cung cấp IP address của server) hoặc mạo danh (distorting proxy - cung cấp IP address sai) và các cuộc tấn công được tung ra từ các tuyến xuất phát này. Bằng cách này, thì hackers ở bên Đông Âu có thể nối mạng với proxy servers đặt bên Somalia, Phi Châu, và rồi từ Somalia sẽ xuất phát cuộc tấn công sang Hoa Kỳ. Trong trường hợp này, để tìm ra được hackers chính gốc bên Đông Âu, thì các thám tử mạng của Hoa Kỳ phải vượt qua được các chốt chặn tại các "tuyến đầu" (là các proxy servers) nằm ở bên Somalia. Mà xứ sở này bên Phi Châu là một nơi được xem như là vô chính phủ và được cai trị bởi các sứ quân, các warlords hùng cứ tại mỗi địa phương, cho nên cũng không dễ mà liên lạc qua đó để tiến hành cuộc điều tra được.
* Thời gian xẩy ra cuộc tấn công: Ghi nhận được chi tiết này sẽ giúp ước chừng được hackers phóng ra cuộc tấn công ở tại khu vực địa dư nào. Thường thì hackers gạo cội vào được các hệ thống đươc phòng thủ kỹ lưỡng cũng chỉ tập trung tại một số khu vực. Đem đổi giờ bị tấn công sang các giờ địa phương của các khu vực hay có hackers tập trung là có được một phỏng đoán sơ khởi về khu vực sinh hoạt của kẻ gian.Thông thường thì các hackers hay hoạt động vào ban đêm. Còn nếu như làm việc theo giờ giấc của “công nhân viên chức” thì các hackers này thường là thuộc vào mấy "lò" trong Quân đội Giải phóng Nhân dân của Tàu (2).
* Thời sự chính trị: Rất thường có những cuộc tấn công của hackers xẩy đến sau những vấn đề chính trị. Chẳng hạn như sau khi Hoa Kỳ đưa ra những chỉ trích Trung Hoa về nhân quyền hoặc sau khi Hoa Kỳ thực hiện những biện pháp cấm vận trừng phạt Nga, thì khi Hoa Kỳ bị hacked, nằm ngay đầu bảng danh sách các thành phần bị tình nghi sẽ là hackers của Trung Hoa và Nga.
* Mục tiêu bị tấn công: cũng được đem lên bàn cân để xét xem động lực nào, nhóm nào, hoặc quốc gia nào có lợi nhiều nhất trong những cuộc đột nhập. Chẳng hạn như hackers của Tàu thì thường không xâm nhập hãng Huawei (được xem như là một Cisco của Tàu) hay Alibaba (được xem như là một e-commerce Amazon của Tàu). Mà tấn công vào các trung tâm nghiên cứu về những tranh chấp tại Ukraine, thì nhiều phần trăm các hackers thủ phạm được điều động bởi Nga.
* Dấu vết ngay trên "chiến trường": Ghi nhận các chỗ bị xâm nhập trong hệ thống như các directories, hoặc phân tích tìm hiểu nội dung các files bị sửa đổi, hay các files mới được hackers cài vô trong các servers - là những nơi bị trực tiếp "trúng đòn" của hackers - cũng là một cách giúp xác định các "đòn" tấn công của hackers. Từ đó sẽ đoán được thêm về software mà hacker dùng, và quan sát đường đi nước bước của hackers sau khi xâm nhập vào hệ thống, cũng có thể đoán biết được hackers muốn lục tìm những thứ gì.
* Vũ khí tấn công: Tương tự như các bác sĩ pháp y chuyên giảo nghiệm vết thương để đoán ra loại vũ khí để truy tìm thủ phạm, thì với các vụ hacking này, nói một cách khá tổng quát, software và các mệnh lệnh (commands) dùng để hacking chính là vũ khí của hackers. Khi được chế tạo ra, các software thường gồm luôn một số thành phần (components) có sẵn ngoài thị trường. Nhưng khi có nhu cầu cần tấn công một hệ thống mạng điện toán riêng biệt nào đó, phải cần đến những "vũ khí" đặc chế để chuyên trị hệ thống đó. Cho những nhu cầu đặc biệt như vậy, các nhóm hackers thường chế tạo các dụng cụ và vũ khí để dùng riêng cho họ. Truy lùng ra được dấu tích của những vũ khí đó là thêm được một dữ kiện cần thiết trong việc đoán ra tung tích của hackers.
Kết quả Điều tra Hackers
Nhưng những điều ghi trên cũng chỉ là ước đoán. Chứng minh được các ước đoán đó với bằng chứng xác thực là điều rất khó. Ngay cả cơ quan chuyên lo về an ninh điện tử của Hoa Kỳ là NSA (National Security Agency) mà còn gặp khó khăn trong việc xác định tông tích của hackers. Khi ngân hàng JP Morgan Chase và các cơ quan tài chánh khác bị hackers tấn công trong mùa Hè năm 2014, đã không ai có thể trả lòi rõ ràng cho Tổng thống Obama khi ông muốn biết liệu đó có phải chỉ thuần túy là do ăn cắp hay đó lại là sự trả đũa của Nga trước việc Hoa Kỳ cấm vận vì Nga xâm lăng Ukraine? Câu trả lời của các giới có thẩm quyền về an ninh mạng chỉ là: "We don't know for sure." (3)
Theo nhận xét của nhiều giới trong lãnh vực an ninh trong không gian mạng (cybersecurity), thì các tay biệt kích không gian mạng của Anh,
Do Thái, Hoa Kỳ, và Nga tất cả đều rất cẩn thận trong việc xóa bỏ dấu vết của họ(2). Chẳng những vậy, những tay hackers này còn cố tình muốn đánh lạc hướng các cuộc điều tra bằng cách để rơi lại sau lưng các dấu vết, các chứng tích để "giúp" các điều tra viên tin rằng kẻ xâm nhập là người của... nhóm khác, của quốc gia khác!
Còn những hackers của Trung Hoa? Trong cuộc phỏng vấn với đài truyền hình CBS phát hình vào ngày 5 tháng, 2014, khi được hỏi về hackers người Tàu, thì Giám đốc FBI, James Comey đã trả lời: Thực ra, không giỏi như thế. Tôi xem họ hơi giống một tay đạo chích say rượu. (I liken them a bit to a drunk burglar). Họ đá vào cửa trước, làm đổ bình hoa, trong khi đi ra ngoài với chiếc ti vi của bạn. Họ rất thung dung. Phong cách của họ dường như muốn nói là: Lúc nào chúng tôi cũng có mặt ở khắp mọi nơi. Và không có cách gì có thể ngăn chận chúng tôi được (4).
Kỹ nghệ hóa Hacking
Trở lại tin trong tuần qua, WikiLeaks tiết lộ những điều làm rúng động thế giới: Cơ quan Tình báo Trung ương CIA đã có những hoạt động nhằm xâm nhập vào bên trong các điện thoại tinh khôn, máy truyền hình thông minh (smart TV), hoặc xe hơi chạy bằng điện và các đồ dùng high-tech khác.
Thực ra, một khi xét đến nhiệm vụ căn bản của CIA, của NSA (National Security Agency) là lục tìm và phân tích các tin tức thu lượm được có liên quan đến an ninh tình báo, thì có lẽ chúng ta sẽ không còn mấy ngạc nhiên. Vì để thực hiện được những hoạt động nói trên, CIA và NSA sẽ phải rình rập, nghe lén, và ăn cắp tin tức của cả bạn lẫn thù. Trong môi trường điện tử và nối mạng toàn cầu của thế kỷ 21, thì không có hoạt động gián điệp nào hữu hiệu cho bằng hacking vô các hệ thống điện thoại, điện toán, và hệ thống mạng.
Để các hoạt động hacking này thành công thì chính xác và tốc độ phản ứng nhanh phải là những yếu tố hàng đầu. Cũng như, hacking hiện nay không còn là hoạt động giới hạn trong phạm vi của từng cá nhân riêng lẻ hay vài nhóm nhỏ, mà việc hacking này đã trở thành quốc sách của nhiều quốc gia.
Muốn chính xác, hữu hiệu, và ứng biến nhanh, thì các dụng cụ trang bị, các "vũ khí" để hacking phải được chế tạo nhanh, có phẩm chất cao, dễ bảo trì và dễ huấn luyện; nhất là một khi các nhu cầu hoạt động này được mở rộng trên một địa bàn rất lớn, bao trùm nhiều lãnh vực như an ninh, quốc phòng, tài chánh... và cần phải có cả một đơn vị lớn, một lực lượng chuyên nghiệp chịu trách nhiệm.
Do đó sẽ phải đi đến việc hệ thống hóa và "kỹ nghệ hóa" các hoạt động hacking này. Về mặt kỹ thuật “tiêu chuẩn” sẽ dựa theo các theo các mẫu mực lấy ra từ các "đóng góp" xuất sắc của các hackers có tài năng vượt trội. Qua các tiết lộ của WikiLeaks đã cho thấy CIA đã thực hiện quy trình kỹ nghệ hóa các hoạt động hacking.
Nếu không nhìn vấn đề từ khía cạnh kỹ nghệ, thì sẽ dễ có phản ứng như một số các cơ quan truyền thông khi đưa ra tựa đề rất giật gân "Shocking claims" (“Những xác nhận làm sững người") (5). Theo bán tin này, CIA đã gài bẫy lên các hackers khác vì CIA đặt ra các quy tắc theo đó các hackers của họ phải sử dụng võ khí mạng (cybeweapons) theo cách thế sao cho không thể bị truy ngược lại tới “CIA, chính phủ Hoa Kỳ hoặc các công ty làm việc cho họ," như WikiLeaks đưa tin.
Những tựa đề nói trên có lẽ chỉ nhằm thu hút sự chú ý của độc giả. Vì thực ra khi đi làm gián điệp, đi nghe lén, hoặc ăn trộm mà lại để bị bắt quả tang, hoặc để bị tìm ra dấu tích thì nếu không bị mất mạng, cũng gây ra những bẽ mặt cho cơ quan hay đơn vị của mình. Vì vậy, việc CIA có nghiêm khắc đề ra các quy tắc bảo mật và bắt nhân viên của họ phải tuân theo thì đó cũng là một chuyện đương nhiên.
Theo WikiLeaks, CIA có một nhóm tên là UMBRAGE đang đánh cắp kỹ thuật của các hacker làm việc cho quốc gia khác và Liên bang Nga nằm trong số những đối tượng mà CIA đã ăn cắp kỹ thuật hacking. WikiLeaks cũng viết,"Với nhóm UMBRAGE và các dự án có liên quan, CIA không những có thể gia tăng tổng số các loại tấn công khác nhau, mà họ còn đánh lạc hướng bằng cách để lại ‘dấu tay’ (fingerprint) của các nhóm mà các kỹ thuật tấn công của họ đã bị đánh cắp."
Nếu diễn dịch rộng thêm một chút, thì cũng có thể nói là WikiLeaks đã "gợi ý" cho thấy CIA có thể tiến hành các cuộc tấn công trên mạng và cố tình gây hiểu lầm khiến cho các nhà điều tra tin rằng những cuộc tấn công đó là của Vladimir Putin.
Một hacker trong nhóm GhostSec đang làm việc (6)
Ghi chú: Tổ chức GhostSec được thành lập để chống lại nhóm khủng bố ISIS bằng cách tấn công vào việc gây quỹ online và tuyển người của ISIS (6).
Các loại “sản phẩm”
Điện thoại, TV làm gián điệp: Trong CIA, có nhóm Embedded Devices Branch, đã thực hiện xong nhu liệu gián điệp Weeping Angel có khả năng xâm nhập TV thông minh của Samsung và có thể đưa TV này về dạng " Giả Tắt" ('Fake-Off' mode) để sau khi bị chủ nhân tắt, chiếc TV này vẫn lắng nghe được các cuộc đối thoại và gửi chúng về các gián điệp Mỹ, WikiLeaks cho biết như vậy. Chương trình này nhận được sự trợ giúp của cơ quan gián điệp Anh MI5/BTSS.
WikiLeaks cũng cho biết Mobile Devices Branch, một nhóm khác trong CIA, đã xây dựng các công cụ hacking có thể từ xa điều khiển được iPhone, iPad và thiết bị Android - bí mật đánh cắp video từ máy ảnh, nghe lén qua micrô và theo dõi vị trí của người dùng.
Trước đây, theo CNN, người sử dụng Samsung TV đã được cảnh cáo rằng Samsung TV đang nghe trộm các cuộc trò chuyện riêng tư - với micrô được cấy vào TV(5).
Tuy nhiên, theo phân tích của TheIntercept (7), thì về mặt kỹ thuật hiển nhiên CIA có thể để lại “dấu tay” của hackers khác (như của Nga) để đánh lạc hướng sự điều tra, nhưng trong tài liệu được WikiLeaks phổ biến CIA không nói đến điều đó.
Trong công việc của nhóm UMBRAGE này, họ mượn lại (hay đánh cắp) những kỹ thuật hacking được chế tạo hoặc sử dụng bởi các hackers khác để sử dụng trong các dự án của họ. Việc vay mượn kỹ thuật này nhằm để tiết kiệm thời gian và năng lực bằng cách copy những phương pháp đã được chứng minh là thành công.
Cũng theo TheIntercept, nếu CIA thực sự sử dụng y nguyên phần code đặc biệt của một nhóm nào đó, thì việc này sẽ dễ đưa đến sự lầm lẫn là những cuộc tấn công đó là do những hackers đã chế tạo ra các code nói trên thực hiện. Nhưng qua các tài liệu, thì có vẻ như đã nói là nhóm UMBRAGE đang viết lại các code khác để có một chức năng giống như những gì mà các code của các hackers khác đã cung cấp. Nói một cách khác, có 2 loại codes khác nhau, cùng làm 1 việc hacking và đạt được kết quả như nhau. Nhưng khi phân tích các codes đó, thì sẽ biết là do hai nhóm khác nhau thực hiện.
Mục đích chính của việc làm trên là CIA muốn tạo dựng một "thư viện" (library) software, trong đó có lưu giữ nhiều thành phần (components) để có thể nhanh chóng được đưa vào kết hợp với các thành phần nhu liệu đặc chế khác. Nghĩa là thay vì phải viết hết các codes từ A đến Z, thì đến chỗ nào có thể dùng các thành phần có sẵn trong các "thư viện" nói trên, thì đem ra dùng. Như vậy sẽ tiết giảm được rất nhiều thời giờ khi chế tạo software mới.
Robert Graham, CEO của Errata Security, đồng ý là các tài liệu của CIA không nói về việc gài bẫy Nga hay các quốc gia khác. Ông nói với The Intercept: "Những gì chúng ta có thể nói căn cứ trên bằng chứng trong các tài liệu là họ đang tạo ra các codes để dùng trong các dự án khác và họ sử dụng lại (reuse) các phương pháp trong code đã tìm thấy được trên internet. Ở những nơi khác, họ nói về việc che giấu các cuộc tấn công do đó bạn không thể thấy xuất phát từ đâu, nhưng không có kế hoạch cụ thể nào để thực hiện một hoạt động như vậy. Họ không nói 'Chúng tôi sẽ làm cho điều này giống như Nga'."
Thực tế về mặt kỹ thuật thì đó cũng không phải là một điều quá bất thường khi copy sao chép các kỹ thuật của các hackers khác. Vì tại sao lại phải tốn thì giờ để chế tạo lại những dụng cụ rất hữu ích - vốn đã được chế tạo dù bởi các hackers thuộc loại tội phạm? Chuyện thường xẩy ra là sản phẩm nào hay, đẹp, xuất sắc rất dễ bị sao chép.
Theo Theintercept.com, chính ra nhóm UMBRAGE của CIA cũng đã vay mượn các kỹ thuật của các dụng cụ đã được bán ngoài thị trường (commercially available tools) như Dark Comet, một thứ con ngựa thành Troy (a well-known remote access trojan).
Bên phía Hardware / Chips
Qua các thông tin báo chí, truyền hình hay ngay cả trên Net, thông thường thì đại đa số các hackers tấn công hay xâm nhập các hệ thống mạng bằng các thảo trình (programs) hay dụng cụ liên quan đến software. Nhưng không phải là trong lãnh vực hardware không có các hoạt động liên quan đến an ninh điện toán (computer security). Khoảng năm 2000, khi làm việc liên quan đến ngành an ninh điện toán, người viết bài đã có dịp đọc được các phúc trình về việc các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã tìm cách bẻ gẫy các quy trình mã hóa và giải mã (encryption/decryption) bằng cách theo dõi... điện!
Sơ đồ của một thiết kế có một coprocessor mật mã (8)
Một cách sơ lược thì việc mã hóa (encryption) một input, thí dụ "Hello World!”, sẽ được thực hiện qua những biến đổi theo các phương thức toán với "chìa khóa bí mật" (secret key) để thành "#%giuyrwkmn,s:{?". (Xin xem hình phía dưới)
Mã hóa và Giải mã
Ngược lại, khi cần có lại input nguyên thủy, thì với chìa khóa bí mật, phần việc giải mã (decryption) sẽ đổi ngược kết quả đã được mã hóa "#%giuyrwkmn,s:{?" để trờ thành "Hello World!” như ban đầu.
Quá trình mã hóa sẽ phải qua rất nhiều tính toán theo các công thức đã được định sẵn. Các tính toán này sẽ tiêu thụ một số lượng điện. Và các nhà nghiên cứu này đã ghi nhận mức độ điện sử dụng khác nhau khi "đầu máy" mật mã (crypto engine) làm việc mã hóa với các input khác nhau. Sau đó họ thiết lập các công thức, các phương trình toán… để từ đó giải mã được mà không cần đến chìa khóa. Có nghĩa là các passwords, các hồ sơ mật đã được mã hóa bằng chìa khóa, thì đều có thể bị các nhà nghiên cứu này "mở" ra xem được hết mà không cần đến chìa khóa. Hoặc theo như minh họa bên trên thì dù không có "chìa khóa bí mật", các nhà nghiên cứu này vẫn có thể đổi "#%giuyrwkmn,s:{?" thành "Hello World!”.
Tuy vậy, sau khi tìm ra nhược điểm, thì họ lại lo tìm cách sửa đổi. Nhược điểm nằm ở chỗ các input khác nhau phải cần đến lượng điện khác nhau để tính toán, thì họ sẽ sửa chữa lại đầu máy mật mã (crypto engine) - nơi làm việc tính toán - để mọi input đi vào thì cũng đều tiêu thụ cùng một lượng điện như nhau khi làm việc mã hóa. Có lấy máy đo điện ra thu thập dữ kiện để toan tính bẻ khóa giải mã thì cũng không thể tính toán gì được khi tất cả các kết quả lượng điện đo được đều bằng nhau.
Cũng có các nhà nghiên cứu khác thay vì làm việc trên mức độ tiêu thụ điện, thì họ nghiên cứu mức độ nhiệt phát ra khi đầu máy mã hóa làm việc và tìm cách giải mã mà không cần đến chìa khóa. Người viết xin không đi thêm vào những phần nghiên cứu này vì vượt quá tầm hiểu biết của bản thân.
Căn bệnh Bất trị
Càng ngày cuôc sống của chúng ta càng lệ thuộc vào các dụng cụ điện tử, các hệ thống mạng, và sẽ có những "căn bệnh" mới của thời đại trực tiếp bị gây ra bởi những kỹ thuật tân kỳ. Có lẽ hacking sẽ là một trong những căn bệnh sẽ không bao giờ trị được tuyệt nọc. Hôm nay có diệt được vi khuẩn (computer virus) này hay malware nọ, thì ngày mai lại có những thứ khác lợi hại hơn xuất hiện. Và chúng ta sẽ bị thiệt hại hơn khi bị tấn công. Đó là giá mà chúng ta phải trả cho những tiện nghi, những tân tiến mà chúng ta đang thụ hưởng và càng ngày càng bị lệ thuộc. Hiển nhiên việc những tài liệu và vũ khí không gian mạng (cyberweapons) của CIA bị đánh cắp và chuyển cho WikiLeaks là một việc rất đáng lo ngại. Điều đáng lo ngại không phải nằm ở chỗ CIA viết hacking software ngụy tạo dấu vết để đổ lỗi sang hackers khác. Mà là nếu các vũ khí đó hoàn toàn nằm dưới sự khiển dụng của hackers thù địch, thì nạn nhân đầu tiên của những vũ khí đó có thể lại chính là người dân Hoa Kỳ mà CIA có nhiệm vụ phải bảo vệ.
Thy Trang
Ngày 15 tháng 3, 2017
Tham khảo:
(1) https://wikileaks.org/ciav7p1/
(2) http://www.dslamvien.com/2016/12/cac-sieu-cuong-trong-chien-tranh-mang.html
(3) https://dealbook.nytimes.com/2014/10/08/cyberattack-on-jpmorgan-raises-alarms-at-white-house-and-on-wall-street/?_php=true&_type=blogs&_r=1
(4) http://www.cbsnews.com/news/fbi-director-james-comey-on-threat-of-isis-cybercrime/
(5) http://money.cnn.com/2017/03/07/technology/wikileaks-cia-
hacking/index.html?sr=twCNN030717wikileaks-cia-hacking0741PMStoryLink&linkId=35217670&utm_content=buffer5aadc&utm_medium=social&utm_source=twitter.com&utm_campaign=buffer
(6) http://www.theepochtimes.com/n3/1723997-a-group-of-hackers-takes-on-isis/
(7) https://theintercept.com/2017/03/08/wikileaks-files-show-the-cia-repurposing-foreign-hacking-code-to-save-time-not-to-frame-russia/
(8) https://www.design-reuse.com/articles/36013/cryptography-hardware-platform-for-socs.html
https://vietbao.com/a265441/wikileaks-ky-nghe-diep-bao-trong-khong-gian-mang




