; }

Monday, March 6, 2023

THÁNG 3.1975, AI RA LỆNH RÚT QUÂN TẠI KONTUM PLEIKU, TỔNG THỐNG THIỆU HAY TƯỚNG PHÚ ?

 

Đào Văn

✱ CIA: Thiếu tướng Phan Văn Phú, đã gặp  TT Thiệu ngày hôm qua (16.3.1975) và thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến cao nguyên miền Trung.

 Tướng  Phú: Tổng  Thống Thiệu  đã  chà  đạp  danh  dự  tôi  khi  ông công  khai  đổ  lỗi  cho  tôi  về  chuyện  mất  Cao nguyên  Trung  phần

 Tướng  Trưởng: Lệnh  của  Tổng  Thống  Thiệu  yêu  cầu  tôi  rút  khỏi Quân  Đoàn  I  vào  ngày  13  tháng  3,  và  rút  Quân  Đoàn  II  vào  ngày  14 tháng  3.  Ông  Thiệu  cho  biết  là  rút  hết  về Phú  Yên,  lấy Quốc  lộ  22  làm ranh giới.

 TT Thiệu:Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. Chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ không thực hiện những thay thế như đã cam kết – vì thế, chiến cụ của chúng ta đã bị giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc.

Việc rút  quân khỏi hai tỉnh Pleiku-Kontum từ hồi tháng 3 năm 1975  tính ra đã gần 50 năm, nhưng đề tài này vẫn còn  gây ra nhiều tranh cãi cho đến ngày nay về việc ai đã ra lệnh rút quân khỏi vùng cao nguyên Trung Phần. Để rộng đường dư luận, người viết xin lược lại  các tuyên bố của các vị tư lệnh quân khu trách nhiêm được ghi lại trên cách sách báo và tuyên bố của TT Thiệu dựa vào tài liệu giải mật  phổ biến trên thư viện online của CIA (2016 và 2017), và các điện tín giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn được phổ biến  trên thư viện của Bộ Ngoại Giao.

✱ Tình hình QK II vào tháng 3.1975

Theo bản văn của CIA thiết lập ngày 17.3.1975 (phổ biến ngày 14.8.2016) -Tổng thống VNCH Thiệu đã quyết định dùng tổng lực nhằm trụ lại  vùng cao nguyên Ban Mê Thuột và đã ra lệnh cho Tư lệnh quân khu rút quân khỏi hai tỉnh Kontum và Pleiku, để sử dụng  vào  cuộc  chiến tái chiếm thị trấn. [bị xóa một số chữ] Tư lệnh vùng, Thiếu tướng Phan Văn Phú, gặp Thiệu ngày hôm qua (16.3.1075) đã thất bại trong nỗ lực thuyết phục tổng thống gửi thêm viện binh đến  cao nguyên miền Trung. Tổng thống nói với Phú rằng việc tái chiếm Ban Mê Thuột là mục tiêu quan trọng nhất của Quân khu 2.

Thiệu được cho là đã ra lệnh cho Tướng Phú bắt đầu rút lực lượng của ông ta khỏi các tỉnh Pleiku và Kontum hôm nay (17.3.1975) và hoàn thành việc di chuyển vào thứ Hai tới. Một chiếc C-47 của Air America đã được sắp xếp để di tản tất cả người Mỹ khỏi Kontum và Pleiku vào sáng sớm hôm nay. Chi tiết về tình hình chiến thuật tại Ban Mê Thuột chưa đầy đủ, nhưng [bị xóa một số chữ] những người cộng sản hiện chiếm đóng phần lớn  thị trấn. [Bị xóa 4 dòng chữ] số đông quân đội miền Nam Việt Nam đã bị bắt làm tù binh, trong số này có tỉnh trưởng và một trung đoàn trưởng. Một số lượng lớn dân thường đã được “giải thoát”, cho thấy dân thường đã  di chuyển khỏi khu vực giao tranh để vào vùng do cộng sản kiểm soát. [1]

  Ý kiến của hai  vị Tư lệnh Quân khu I , II và của Đại Tướng Cao Văn Viên  về vụ triệt thoái.

• Tướng  Phú :  “Tổng  Thống Thiệu  đã  chà  đạp  danh  dự  tôi  khi  ông công  khai  đổ  lỗi  cho  tôi  về  chuyện  mất  Cao Nguyên  Trung  Phần….. và ông ta đã ra đi  như một  người  du  lịch với  những  chiếc va ly  mà ông  đã soạn  sẵn….  Nhưng  phần  tôi,  tôi  sẽ  ở  lại,  tôi  sẽ  tự  tử và máu của  tôi  sẽ rơi  trở  lại  vào lưng  ông  ta.  Tôi  chỉ còn  có một cách đó để đính chánh lời cáo  buộc  của  ông  ta  mà  thôi”  (VNQMOK- chương 23) [2].

• Tướng  Trưởng : ” Lệnh  của  Tổng  Thống  Thiệu  yêu  cầu  tôi  rút  khỏi Quân  Đoàn  I  vào  ngày  13  tháng  3,  và  rút  Quân  Đoàn  II  vào  ngày  14 tháng  3.  Ông  Thiệu  cho  biết  là  rút  hết  về Phú  Yên,  lấy Quốc  lộ  22  làm ranh giới. Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.  Cái lầm  của trung  ương là không  cho  các thuộc cấp biết biết ý định của  mình.  Nghĩa  là  các  vị  tư  lệnh  các  quân  binh  chủng,  tổng  bộ  trưởng,  tư lệnh sư  đoàn  v.v… đã không biết gì về về lệnh rút quân của Quân Đoàn I và  II.  Lệnh  này  chỉ  có  Tổng  thống  và  Thủ  tướng,  Đại  tướng  Cao  Văn Viên,  tôi  (Tư  lệnh  Quân  Đoàn  I)  và  Tư  lệnh Quân  Đoàn II  (Tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. “ [3]

• Đại Tướng Cao  Văn  Viên:   Vào thời gian Ban Mê Thuột gần như nằm dưới quyền kiểm soát của Cộng sản, Tổng thống Thiệu ngỏ ý muốn gặp Thiếu tướng Phạm Văn Phú tại tổng hành dinh của ông ta  ở Pleiku   để xem xét tình hình.  Tướng Phú đề nghị họp tại Cam Ranh và cuộc họp diễn ra vào thứ Sáu, ngày 14 tháng 3 năm 1975. Sau  khi  tướng  Phú  chấm  dứt  tường  trình, tổng thống  Thiệu   hỏi Tướng Phú có  thể  nào  chiếm  lại  được  Ban  Mê Thuột  hay không. Tướng  Phú  ” không cam tâm trả lời trước câu hỏi chắc nịch” , chỉ  xin  tổng  thống  Thiệu  thêm quân  tiếp  viện. Tổng thống Thiệu lệnh cho   Quân  Đoàn II  phối trí lại các đơn vị cơ  hữu  của  quân  đoàn  để  chiếm  lại  Ban  Mê  Thuột. Theo Tướng Viên: “Khi cuộc họp sắp kết thúc, và các tham dự viên chuẩn bị ra về, Tướng Phú bất ngờ đưa ra một yêu cầu cá nhân với Tổng Thống Thiệu. Bằng một giọng gần như cầu xin, ông đề nghị cấp dưới của mình, Đại Tá Phạm Văn Tất, tư lệnh lực lượng Biệt Động Quân tại Vùng II, được thăng cấp chuẩn tướng.  Mặc dù tôi không hoàn toàn phản đối, nhưng ý kiến của tôi là việc thăng cấp cho Đại tá Tất nên đợi cho đến khi ông ta lập được một chiến công đáng kể nào đó trong chiến đấu. Tổng thống Thiệu chưa quyết định; ông  do dự và đồng ý với lý do của tôi. Nhưng Phú vẫn khăng khăng và liên tục trình bày trường hợp của mình với tổng thống, Người cuối cùng đã đồng ý. (Sau khi được thăng cấp, Đại Tá Tất được chỉ định chỉ huy các đơn vị để bố trí lại).

Về đến Sài Gòn, tôi gọi Chuẩn tướng  Trần Đình Thọ, phụ tá Tham mưu trưởng Phòng 3 của tôi, kể cho ông nghe chi tiết cuộc họp. Tham mưu trưởng của tôi, Trung tướng Đồng Văn Khuyên, lúc đó đang đi công tác ở nước ngoài. Chỉ thị của tôi cho Thọ là theo dõi việc di chuyển tái bố trí và tùy ý phụ giúp cho Tướng Phú một tay, vì đây thực chất là một cuộc hành quân tuyệt mật do Quân đoàn II tiến hành và chỉ liên quan đến các đơn vị cơ hữu của Quân đoàn. Đó cũng là một mệnh lệnh tác chiến tối mật do tổng thống với tư cách là tổng tư lệnh trực tiếp đưa ra cho một chỉ huy chiến trường. Do đó, Bộ Tổng Tham Mưu không được phép đưa ra bất kỳ mệnh lệnh nào cho việc tái triển khai các thành phần lục quân và không quân trong khu vực Kontum-Pleiku ,không trực tiếp tham gia vào cuộc hành quân”.(Tóm lược theo cuốn The Final Collapse, chương 6, tác giả: Gen. Cao Văn Viên).[4]

 Điện tín của Phó Đại sứ Lehmann gửi BNG  báo cáo về việc gặp TT Thiệu vào ngày 20.3.1975.

Ngày 20.3.1975 – Theo thư viện online của BNG/FRUS  – Căn cứ theo  Điện tín  số 62480 từ BNG gửi Sài Gòn, ngày 20 tháng 3, chỉ thị cho Phó Đại sứ Lehmann: “Ông nên gặp Thiệu càng sớm càng tốt để tìm hiểu lý do ông ta rút quân khỏi Kontum và Pleiku và việc rút quân  tại Quân khu I. Ông nên nói với ông ta rằng chúng ta cần một bức tranh rõ ràng từ ông ta về kế hoạch và chiến lược của ông ta nhằm đối phó với cái mà bây giờ rõ ràng là một cuộc tổng tấn công của Bắc Việt Nam.”

 Tôi (Lehmann) đã gặp Tổng thống  Thiệu vào chiều nay (20.3.1975) và nói với ông ta rằng cá nhân tôi hiểu những gì ông ta đang làm… Trước tình hình này, Tổng thống cho biết, ông không còn có thể chiến đấu theo quan điểm quân sự như trong hai năm qua là chiến đấu một cách “ngu ngốc”. Ông ta phải từ bỏ lãnh thổ hoặc đối mặt với viễn cảnh lực lượng của mình bị tiêu diệt từng mảnh, cuối cùng tạo ra một tình huống mà vì nỗ lực bảo vệ mọi phần của đất nước, nhưng ông ta không còn có thể bảo vệ bất kỳ phần nào trong số đó.

 Ở Cao Nguyên có thể ông đã giữ Pleiku và có lẽ cả Kontum. Tuy nhiên, với những con đường từ bờ biển bị địch phong tỏa, điều này chỉ có thể được thực hiện với cái giá rất đắt và ngay cả khi đó ưu thế địa phương mạnh mẽ của địch cuối cùng sẽ khiến việc phòng thủ Pleiku trở thành một nhiệm vụ tự sát. Do đó, ông ta đã quyết định rút hết lực lượng mà ông ta có thể. Vì đối diện với các lực lượng mạnh của kẻ thù, ông ta coi tốc độ và sự bất ngờ là điều cần thiết. Đó là sự đánh đổi giữa việc mất một số quân bị, kể cả máy bay và có thể phải trả giá bằng việc rút lui được tổ chức cẩn thận, có trật tự hoặc mất toàn bộ lực lượng vì không thể rút lui trước một cuộc tấn công sắp xảy ra của kẻ thù.

Việc mất Ban Mê Thuột, Tổng thống nói, chắc chắn là một đòn giáng mạnh. Nó đã xảy ra bởi vì Bắc Việt đã có thể tập trung một lực lượng tương đương với hai sư đoàn cộng với các đơn vị hỗ trợ. Vì nỗ lực tái chiếm Ban Mê Thuột sẽ tốn rất nhiều nguồn lực, nhưng với một kết quả không chắc chắn, ông đã quyết định từ bỏ nỗ lực này. “…”

Vào cuối cuộc thảo luận của chúng tôi, Tổng thống trở lại chủ đề rằng cho đến nay VNCH đã tiến hành một cuộc chiến tranh dựa trên các tiền đề của Hiệp định Paris. Tiền đề này đã tạo ra một cuộc chiến ngu ngốc về mặt quân sự, bên phía chính phủ với các đơn vị rải rác cố gắng bảo vệ mọi phần lãnh thổ. Cuộc tấn công hiện tại của Bắc Việt giờ đã chấm dứt mọi hy vọng tiếp tục chiến đấu trên cơ sở của Hiệp định Paris. Do đó, việc xem xét những gì hiệu quả nhất về mặt quân sự trong việc bảo vệ càng nhiều người dân càng tốt và duy trì sự toàn vẹn của các lực lượng vũ trang từ nay trở đi sẽ là sự cân nhắc quan trọng nhất. [5]

Tình hình tại miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 3.1975.

Phần tóm lược sau dựa vào tài liệu của cơ quan CIA thiết lập ngày 27.3.1975 và phổ biến ngày 16.12.2016.

Ngày 27.3.1975 – Cuộc rút quân của Nam Việt Nam trong hai tuần qua dẫn đến một thất bại lớn, và những tổn thất khác là chắc chắn. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa có đủ sức mạnh quân sự ở miền Nam đất nước để tồn tại qua mùa khô hiện nay, mặc dù họ có thể sẽ chỉ kiểm soát vùng đồng bằng và các tỉnh đông dân xung quanh Sài Gòn.

 A. Tổng thống Thiệu quyết định di tản khỏi vùng cao nguyên và tập trung lực lượng dọc theo bờ biển đông dân cư và xung quanh Sài Gòn vì ông cảm thấy họ bị trải rộng quá mức, đối mặt với một lực lượng Bắc Việt vượt trội hơn rất nhiều, và còn phải đối diện với viễn cảnh viện trợ của Hoa Kỳ ngày càng cạn kiệt.

 1. Thiệu rõ ràng hy vọng sẽ gây bất ngờ cho cộng sản và rút lực lượng nguyên vẹn để sẵn sàng chiến đấu trước khi họ kịp phản ứng. Nhưng kế hoạch này đã thất bại, và những người cộng sản đã nhanh chóng lợi dụng tình hình.

 2. Các nhà lãnh đạo quân sự của Thiệu đã bị bất ngờ. Nhiều người trong số họ cho biết họ không được thông báo hoặc tham khảo ý kiến trước khi kế hoạch có hiệu lực.

  a. Do đó, việc bố trí lại của chính phủ nói chung là lộn xộn và tốn kém về nhân vật lực.

  b. Hơn nữa, sự bất bình chống lại sự lãnh đạo của Thiệu đã gia tăng sau những đảo ngược quân sự lan rộng, và những áp lực buộc ông phải từ chức hoặc cưỡng chế loại bỏ ông có thể nhanh chóng xuất hiện.

• B. Chính phủ hầu như đã nhượng bộ tất cả  Quân khu 1 và 2 vào tay cộng sản, và một số vùng đất còn lại dọc theo bờ biển Bắc trung bộ dự kiến sẽ thất thủ.

 1. Việc rút lui vô tổ chức từ các tỉnh phía bắc và phía nam Đà Nẵng đã tạo ra một vấn đề tị nạn lớn ở thành phố đó. Rối loạn dân sự đã nổ ra. “…”

  2. Cho đến nay, có rất ít biện pháp phòng thủ được áp dụng lên Đà Nẵng, mặc dù cộng sản có hai sư đoàn mới ở phía tây thành phố. Có những dấu hiệu cho thấy một sư đoàn dự bị chiến lược khác của Hà Nội đang tiến về phía nam, và có thể đang trên đường đến khu vực này. “…”

• C. Tại Quân khu 2, vị thế quân sự của chính phủ cũng suy giảm nhanh chóng. Năm tỉnh vùng cao và phần lớn tại một số tỉnh khác đã bị bỏ ngỏ.

 1. Người miền Nam Việt Nam chỉ có hai sư đoàn trong vùng, và một trong hai hầu như đã bị  tổn thất trong cuộc giao tranh ở tỉnh Darlac.

 2. Bảy trong số các nhóm kiểm lâm trong khu vực đang thiếu sức chiến đấu nghiêm trọng hoặc đang trong tình trạng hỗn loạn.

 3. Một số lượng lớn đạn dược, nhiên liệu và thiết bị đã bị bỏ lại tại các thành phố Kontum và Pleiku.

 4. Các cuộc tấn công của cộng sản vào đoàn quân rút lui từ cao nguyên đã  bị tan rã hoặc bị tổn hại nặng. “…”  [6]

 Chiến lược mới của TT Thiệu .

Ngày 4.4.1975 – Theo tài liệu  của Cơ quan CIA thiết lập ngày 4.4.1975 (phổ biến ngày 16.12.2016): ” Khái niệm chiến lược mới này đòi hỏi phải xóa bỏ hầu hết các khu vực miền núi,  dân cư thưa thớt thuộc  QK I và QK II, để tập trung từ các tài sản đến  nguồn lực  nhằm  bảo vệ QK III và QK IV, cộng với vùng đất thấp ven biển, gồm các khu vực sản xuất nông nghiệp của miền Nam Việt Nam, nơi phần lớn nhiều dân cư sinh sống. Chiến lược này có cơ sở và ước tính của Thiệu về sự cần thiết của kế hoạch là đúng. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch là một thảm họa. Trong cuộc họp ngày 13 tháng 3 với Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Trưởng, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới và kết quả của ông: quyết định rút Sư đoàn Dù từ QK I xuống QK III, bất chấp sự phản đối gay gắt của Tướng Trưởng về việc rút Sư đoàn Dù đi.
 

Trong mười hai ngày tiếp theo, – (13-25 tháng 3), cả ở QK I và Sài Gòn đều bị bỏ trống, và những phần còn lại  của  QK I  được tổ chức lại – đặc biệt là liệu có nên thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm bảo vệ Huế hay không. Do lệnh thay đổi từ Sài Gòn, Tướng Trưởng đã phải điều chỉnh lại kế hoạch triển khai quân ít nhất đến ba lần.  “…”

 Tại  QK 2, Tổng thống Thiệu và Tư lệnh khu vực của ông, Tướng Phú, gặp nhau tại  Cam  Ranh ngày 13 tháng 3 để thảo luận về tình hình do mất Ban Mê Thuột. Tại cuộc họp đó, Tổng thống Thiệu đã vạch ra khái niệm chiến lược mới của ông ta là rút khỏi vùng cao nguyên và củng cố các lực lượng của Chính phủ Việt Nam vào  những vùng xung yếu ven biển. Do không biết chính xác về  từ ngữ trong mệnh lệnh của Tổng thống– nhưng Tướng Phú cho rằng đó là lệnh nên ông phải  hành động ngay lập tức việc di tản  các tỉnh Pleiku và Kontum –mà chưa có kế hoạch hay sự chuẩn bị nào . Cuộc di tản bắt đầu trong hai ngày tiếp theo, theo đó các lực lượng QLVNCH đi theo đường 14 và đường 73, băng qua các tỉnh Phú Bổn và Phú Yên đến bờ biển Tuy Hòa. Con đường này  hầu như không được sử dụng trong nhiều năm, cần nhiều cầu nối nhưng đã  không được thực hiện”…”.

Trong ba tuần cuối cùng của tháng Ba, năm sư đoàn QLVNCH, mười hai Liên đoàn Biệt động quân và hai lữ đoàn thiết giáp đã bị mất tác dụng. Quân số  từ các đơn vị này được tập hợp lại thành các đơn vị mới, nhưng  tất cả các thiết bị của họ đã bị mất”. [7]

 Diễn văn từ chức của TT Thiệu có đoạn văn nói về cuộc di tản Pleiku và Kontum.

Ngày 21.4.1975 – “…” Nhận thấy rằng người Mỹ đã có thái độ chủ bại đối với các hành động xâm lược của cộng sản, chúng ta phải tự quyết định công việc của mình. Vì vậy, sau khi Ban Mê Thuột – một khu vực quan trọng, trù phú và đông dân cư nhất của cao nguyên miền Trung – bị cộng sản tấn công, chúng tôi tự hỏi liệu lực lượng của mình có thể bảo vệ Kontum và Pleiku được hay không. Lực lượng của ta không thể bảo vệ được Kontum và Pleiku mà lúc đó chúng tôi tin rằng sớm muộn gì cũng sẽ thất thủ. Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, chúng tôi băn khoăn không biết lấy quân ở đâu để tái chiếm. Chúng tôi đi đến một quyết định chính trị là không thể bảo vệ cho Kontum và Pleiku.

Trên cơ sở dựa theo các ý kiến của Thủ tướng, Tổng Tham Mưu  Trưởng và Tư lệnh các quân khu liên quan, chúng tôi quyết định điều lực lượng từ Kontum và Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột. Chúng tôi tin rằng nếu chiếm lại được Ban Mê Thuột, chúng tôi sẽ có cơ hội chiếm lại Kontum và Pleiku.( If Ban Me Thuot were retaken, we believed, we would have the opportunity to retake Kontum and Pleiku).

Đây là một quyết định chiến thuật, và xét cho cùng, là một quyết định chính trị. Về quân sự , đó là quyết định chiến thuật đối với  Quân khu II. Thật không may, bất kỳ sự bố trí lại quân đội hay bất kỳ sự rút lui nào đều không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Đó là một nhiệm vụ khó khăn nhất đối với một quân đội. Hơn nữa, lực lượng cộng sản ở Ban Mê Thuột và những đơn vị địch ngăn chặn các cuộc di chuyển từ Kontum và Pleiku đến Phú Bổn đông hơn của chúng ta.  Vì vậy, chúng ta đã rất khó bảo toàn một phần lực lượng di chuyển từ Kontum và Pleiku đến Tuy Hòa và Ninh Hòa, không đủ lực lượng để tập trung lên đồi 28 hầu ngăn chặn cuộc tiến công của cộng quân từ Ban Mê Thuột. Mọi hy vọng chiếm lại Ban Mê Thuột lúc đó đều tiêu tan, vì lực lượng của chúng ta khắp nơi phải đương đầu với địch theo tỷ lệ một chọi ba, nghĩa là lực lượng cộng sản đông gấp ba lần hơn chúng ta. Trước tình hình đó, chúng tôi phải miễn cưỡng sử dụng các đơn vị Dù của chúng tôi, các đơn vị này cũng đã bị áp đảo bởi cả một sư đoàn cộng sản. Quý vị và đồng bào thấy đấy, ngay cả chiến sĩ  Dù dày dạn kinh nghiệm của chúng ta cũng bị áp đảo sau khi đã chiến đấu quên mình và giáng cho hai ba trung đoàn địch những thiệt hại nặng nề.

 Với xu hướng đó, Nha Trang, Phan Rang và Cam Ranh bị đe dọa vì chỉ có lực lượng địa phương và dân quân phòng thủ. Điều này cũng đúng với Phú Yên. Trong những năm qua, chúng tôi duy trì một sư đoàn ở Qui Nhơn và Bình Định. Tuy nhiên, trong những năm này, những người cộng sản đã tăng cường quân số của họ ở đó và trang bị nhiều vũ khí hơn. Vì vậy, cho dù sư đoàn 22 của chúng ta đã chiến đấu anh dũng nhưng bị tổn thất nặng nề và cuối cùng phải rút lui. “…”

Vì thiếu đạn dược, chúng tôi phải kiếm từng viên đạn. chúng tôi đã mất nhiều xe tăng và đại bác. Hoa Kỳ đã cam kết trong thỏa thuận Paris thực hiện việc thay thế trên cơ sở một đổi một, nhưng họ đã không thực hiện những thay thế này: họ đã ngừng cung cấp cho chúng tôi những phương tiện này (the United States undertook in the Paris agreement to carry out replacements on a piece-to-piece basis,  but it has not made these replacements: it has stopped providing us with these means). Vì thế , chiến cụ của chúng ta đã giảm dần: đó là lý do tại sao chúng ta thua cuộc. Ngược lại, những người cộng sản ngay từ đầu đã có một lượng phương tiện chiến tranh ngày càng tăng lên. Do đó, họ đã đạt được lợi thế kép – họ đã tịch thu được nhiều chiến cụ hơn, trong khi khối lượng chiến cụ của chúng ta đã giảm.

Vì vậy, các chiến sĩ cho dù dũng cảm đến đâu, chỉ huy cho dù tài giỏi đến đâu cũng phải chịu tổn thất, mất đất, mất người. Chúng tôi đã nhận ra sự thật này và chúng tôi không thể chịu đựng được. Nhiều lần, chúng tôi đã thấy rằng chúng tôi phải sử dụng một chiến thuật phi lý để bảo vệ đất đai của chúng ta và bảo vệ người dân của chúng ta.  Chúng tôi đã phải chiến đấu trong một cuộc chiến phi lý bởi vì đây là trách nhiệm của chúng tôi. “…”

(Tóm lược trích đoạn theo bản văn Anh ngữ trang 12 , 13 và 15, diễn văn từ chức của TT Thiệu tuyên bố ngày 21.4.1975- chi tiết sẽ trình bày sau.)

Hy vọng với phần trình bày phía trên bạn đọc sẽ  tìm ra câu trả lời cho câu hỏi nơi đầu bài viết.

Đào Văn

Tài liệu tham chiếu:

[1]-CIA Library: THE PRESIDENT’S DAILY BRIEF 15 MARCH 1975.pdf

[2]- isach info: VN Quê mẹ oan khiên -Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch

[3]- Nhảy Dù wdc org : Tại sao tôi bỏ Quân Đoàn I?
[4]-History Army Mil.: GENERAL CAO VAN VIEN, THE FINAL COLLAPSE.pdf

[5]- BNG/FRUS: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State

[6]- CIA Library :DCI BRIEFING FOR 27 MARCH WSAG MEETING THE SITUATION IN VIETNAM.pdf [7]- CIA Library -(page 5)-  Memo for the President – 04.04.1975


NGUỒN : https://www.baocalitoday.com/viet-nam/thang-3-1975-ai-ra-lenh-rut-quan-tai-kontum-pleiku-tt-thieu-hay-tuong-phu.html

Tuesday, January 31, 2023

55 NĂM TẾT MẬU THÂN - MỞ HỒ SƠ MẬT CIA

 Quỳnh Kim Quang


Tai lieu Tet Mau Than_TT Johnson 04A
Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson (giữa) lắng nghe Tướng Greighton Abrams và Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam trong cuộc họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia vào tháng 3 năm 1968, chỉ 4 ngày trước khi ông tuyên bố không tái tranh cử TT. (LBJ Library)

 

Tháng Giêng năm 2023 là thời điểm đánh dấu 55 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, khi mà Cộng Sản Bắc Việt cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức bù nhìn do Hà Nội dựng lên để làm tay sai tuyên truyền và phá rối địa phương tại Miền Nam Việt Nam, đã mở cuộc tấn công trên nhiều thành phố khắp Miền Nam ngay trong giờ phút thiêng liêng của Lễ Giao Thừa đón Tết cổ truyền của dân tộc.

Hệ quả của cuộc tấn công đầy dã tâm đó đã làm cho CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thảm bại chua chát trước sự kháng cự và phản công oanh liệt của toàn quân dân Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh Hoa Kỳ quyết giữ vững từng tấc đất tự do. Có tới 36,000 du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bộ đội CS Bắc Việt đã bị giết chết trong trận tấn công Tết Mậu Thân. Nhưng nạn nhân đau thương nhất vẫn là hàng ngàn người dân Miền Nam vô tội đã chết trong bom đạn của trận chiến, hoặc đã bị du kích Mặt Trận Giải Phóng và quân đội Miền Bắc thảm sát, kinh hoàng nhất là những vụ chôn sống người tập thể tại Thành Phố Huế.

Năm mươi năm qua nhiều tài liệu viết về cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã được biên soạn và phổ biến bởi các bên tham chiến tại Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và CS Bắc Việt.

Nhưng, các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đã nghĩ gì, làm gì đối với trận tấn công Tết Mậu Thân? Quân đội Hoa Kỳ và VNCH có biết trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng và CS Bắc Việt? Tình báo Mỹ và VNCH biết gì, nói gì và làm gì đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

Vào ngày 28 tháng 4 năm 1997, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã giải mật hồ sơ “tuyệt mật,” nhận được từ Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) gửi tới ngày 3 tháng 4 năm 1968.(1) Thêm vào đó, vào ngày 19 tháng 3 năm 2007 Cơ Quan Tình Báo CIA cũng đã phổ biến bản phân tích của Tiến Sĩ Sử Học Đại Học Chicago là Harold P. Ford, cũng là cựu viên chức tình báo CIA làm việc từ năm 1950 tới năm 1974. Bản phân tích này của Harold P. Ford là một phần của nỗ lực liên tục của Trung Tâm Nghiên Cứu Tình Báo để cung cấp sự minh bạch các hồ sơ về những hoạt động của CIA. Bản phân tích này đã được cập nhật vào ngày 12 tháng 4 năm 2016.(2) Bản phân tích này được Harold P. Ford in thành tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968.”(3)

Bài viết này dựa trên hai tài liệu nói trên của Cơ Quan Tình Báo CIA và một số tài liệu khác để góp thêm tài liệu liên quan đến biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Điều quan trọng cần nói ngay ở đây là tài liệu CIA cho thấy rằng Hà Nội đã đánh giá và lượng định sai lầm về mục tiêu và thành quả chiến lược của cuộc tấn công Tết Mậu Thân của họ. Tài liệu của CIA cho biết Hà Nội tin chắc rằng người dân Miền Nam sẽ hưởng ứng, ủng hộ cuộc tấn công của Cộng quân, đồng thời đứng lên lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khi du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và bộ đội của Cộng Sản Bắc Việt bất thần tấn công toàn diện vào các thành phố gồm Thủ Đô Sài Gòn vào đúng ngày Mùng Một Tết Mậu Thân. Nhưng, Hà Nội đã thất bại vì điều đó không hề xảy ra.

Vậy, tài liệu mật của CIA vừa được giải mật vào ngày 28 tháng 4 năm 1997 nói gì về cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

 

Hồ Sơ Mật Của CIA Về Cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân

 

Mau Than
1. Bản chụp lại trang web tài liệu của CIA có bản phân tích của Tiến Sĩ Harold P. Ford. 2. Trang bìa saùch "CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 -1968."



Câu hỏi được đặt ra trước tiên là liệu các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và VNCH có biểt trước rằng Cộng quân sẽ mở cuộc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân?

 

Phái Đoàn Các Cơ Quan Tình Báo Mỹ Điều Tra

 

Tài liệu cho biết rằng từ ngày 16 tới 23 tháng 3, các đại diện từ Cơ Quan Tình Báo CIA, Cơ Quan Tình Báo Quân Đội DIA, và Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ đã đến Việt Nam để điều tra về cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Cộng quân. Họ đã gặp Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương (CINCPAC), Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) và trạm CIA tại Sài Gòn. Để giúp cho việc thu thập nhiều tài liệu thích đáng, phái đoàn đã có những cuộc họp để nghe báo cáo tin tức và thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn, tại Sài Gòn và tại các chiến trường, với nhiều viên chức cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa.

Về phía Hoa Kỳ, các thành viên của phái đoàn nói trên đã trao đổi với Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker, Đại Tướng Westmoreland, Đại Tướng Abrams, Đại Sứ Komer, Trung Tướng Cushman, Trung Tướng Rosson, Thiếu Tướng Peers, Thiếu Tướng Eckhardt, và các tướng chỉ huy trưởng Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 4 Bộ Binh. Họ cũng đã phỏng vấn nhân viên tình báo của Quân Đoàn I và II và nhân viên tình báo của Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Quân Đoàn III, và các cố vấn tình báo và viên chức CIA Khu Vực tại tất cả 4 Vùng Chiến Thuật. Họ đã nghe báo cáo từ Cơ Quan Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam MACV J-2 và trạm CIA tại Sài Gòn, và đã gặp Giám Đốc Tình Báo, Đơn Vị Không Quân Số 7, Đại Diện Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ NSA tại Việt Nam, Bộ Tư Lệnh Quân Khu Tại Sài Gòn.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, phái đoàn nói trên đã phỏng vấn các tướng tư lệnh Quân Đoàn  I và II, Cơ Quan J-2 của Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân và phụ tá, và phó giám đốc Quân Cảnh. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ cũng đã đích thân đến Phú Bài, Đà Nẵng, Pleiku, Camp Enari, Nha Trang, Biên Hòa, Long Bình, và Cần Thơ để tìm hiểu tình hình tại chỗ.

 

Những Phát Hiện Tổng Quát

 

Qua cuộc điều tra của phái đoàn đại diện nhiều cơ quan tình báo quốc gia Mỹ nói trên đưa tới một số phát hiện cho thấy như sau.

1/ Cơ Quan CIA đã thông báo cho Hội Đồng Cố Vấn Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống [Hoa Kỳ] vào tháng 2, có bằng chứng, tại Sài Gòn và Washington, rằng địch quân (CS) đang tiến hành “chiến dịch đông-xuân” ồ ạt và đang chuẩn bị hàng loạt vụ tấn công có phối hợp điều binh, có thể trên phạm vi lớn chưa từng có từ trước tới nay. Có bằng chứng trong tháng 1 rằng một số vụ tấn công tại cao nguyên có thể sẽ được thực hiện trong dịp nghỉ lễ Tết. Một phần báo cáo sau đó trong tháng này cho thấy có chứng cứ rằng nhiều cuộc tấn công khác sắp xảy ra, và một số mục tiêu đã được xác định. Tại Sài Gòn và Washington báo cáo tình báo này đã được trình cho các giới chức quân sự và chính trị cao cấp. Kết quả, hàng loạt hành động đã được thực hiện tại Việt Nam đưa tới việc giảm bớt ảnh hưởng của cuộc tấn công của địch quân.

2/ Việc cảnh báo đã được cung cấp như thế cho thấy không có thành tích nhỏ nào đạt được đối với bộ máy tình báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nó cho thấy không có sự xâm nhập bí mật cấp cao nào vào trong hệ thống cấp bậc lãnh đạo Cộng Sản và các cơ quan truyền thông Cộng Sản cao cấp là phần không thể biết được nhiều nhất. Do đó, nó phải dựa vào các kỹ thuật đặc trưng cổ điển. Cách này thì thật là khó thực hiện ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Tự thân tổ chức tình báo quân đội và dân sự của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa thì phức tạp và rộng lớn để nó đảm đang. Vì vậy, những báo cáo từ nguồn tình báo nhân sự đã không được chú ý.

3/ Địch quân đã sơn phết rất giỏi để che đây ý định của chúng. Nhận biết được các kế hoạch của chúng hoàn toàn bị ngăn chận và lệnh tấn công thực sự đã được phổ biến cho các đơn vị tấn công chỉ từ 24 tới 72 giờ sau cùng trước cuộc tấn công. Dù các viên chức thẩm quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã nhận được một số báo cáo về các kế hoạch tấn công riêng rẽ, có thể không một lãnh đạo Cộng Sản cấp thấp của Cục Trung Ương Miền Nam (COSVN), mặt trận, hay quân khu nào biết được toàn bộ phạm vi cuộc tổng tấn công. Đại Tướng Westmoreland tin rằng Cộng Sản đã hy sinh sự phối hợp điều quân cho sự bảo mật an toàn, và đây là chứng cứ trong các cuộc tấn công sớm bởi nhiều đơn vị của Quân Khu 5 (MR 5) trong đêm 29-30 tháng Giêng năm 1968, nhờ các cuộc tấn công sớm này đã đóng vai trò cảnh báo các chỉ huy Hoa Kỳ đối với nhiều cuộc tấn công mở rộng trong đêm tiếp theo.

tai lieu CIA ve Tet Mau Than 02A
Bản chụp lại trang 1 hồ sơ mật của CIA được giải mật ngày 28 tháng 4 năm 1997.



4/ Bất kể các biện pháp an ninh bí mật của Cộng quân, thông tin tình báo cũng có thể cung cấp cảnh báo rõ ràng rằng các cuộc tấn công, có thể trên diện rộng lớn nhất từ trước tới nay, được đưa ra. Nhiều thông điệp của địch quân bao gồm các cấp trung bình và thấp đã được đọc. Những thông điệp này xuất hiện tại nhiều vùng của Nam Việt Nam. Chúng bao gồm những ám chỉ các cuộc tấn công sắp xảy ra, rộng lớn và nhiều hơn bất cứ khi nào trước đó. Chúng cho thấy một ý nghĩa khẩn cấp, cùng với sự nhấn mạnh qua kế hoạch và bí mật chưa từng thấy trước đây trong các thông tin như thế. Tuy nhiên, các biểu thị đó đã không đủ để tiên đoán thời gian chính xác của cuộc tấn công.

 

Ảnh Hưởng Của Cuộc Tổng Tấn Công

 

Dù việc cảnh báo đã được đưa ra như thế, nhưng cường độ, sự phối trí điều quân, và thời gian của cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên đoán. Yếu tố quan trọng nhất là thời gian. Có rất ít giới chức Hoa Kỳ hay VNCH tin rằng địch quân sẽ tấn công trong ngày Tết, quần chúng Việt Nam cũng không tin như thế. Tết là ngày lễ quan trọng nhất tại Việt Nam, là dịp mà tất cả thành viên trong gia đình bất kể là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, hay Cộng Sản đều giữ gìn. Rõ ràng là Cộng Sản tin rằng họ có thể khai thác sự đồng nhất này để tạo ra cuộc nổi dậy chống chính quyền, chống quân đội ngoại nhập, chống chiến tranh. Nhưng điều này đã không xảy ra. Do đó, địch quân đã phải trả giá đắt trong sự đối kháng mà họ tạo ra trong các thành phố đông dân, nhưng họ đã thu hoạch rất lớn trong 2 cách: Quân số hiện diện của quân đội và cảnh sát VNCH rất thấp so với mức ổn định bình thường, và thông lệ sinh hoạt nhộn nhịp của ngày Tết làm cho Cộng quân có thể đưa một số lượng lớn Việt Cộng vào các thành phố mà không bị phát hiện. Đại tướng Westmoreland dự đoán các cuộc tấn công quy mô trước hoặc sau Tết, và khi gần Tết và nhiều vụ tấn công lớn đã không được thực hiện, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH đã cho 50% lính về nghỉ Tết. Vì vậy sức mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại những vùng cho phép binh sĩ về nghỉ Tết đã bị sút giảm.

Yếu tố lớn thứ hai không tiên liệu được là số vụ tấn công xảy ra cùng một lúc. Tình báo Hoa Kỳ có cho biết địch quân có khả năng tấn công tất cả các địa điểm mà thực tế họ đã tấn công và việc nối kết cảc cuộc tấn công có phối hợp tại nhiều vùng. Tuy nhiên, tình báo Mỹ đã không nói đến khả năng đặc biệt các vụ tấn công có phối hợp trên tất cả khu vực cùng một lúc. Điều quan trọng hơn nữa là tính chất của các mục tiêu đã không được tiên liệu trước. Washington và Sài Gòn đã dự đoán các vụ tấn công tại một số thành phố, nhưng họ đã không dự đoán được cuộc tấn công để chiếm một số cơ sở trong thành phố như bộ chỉ huy dân sự và các trung tâm kiểm soát, các đài phát thanh và các trụ sở cảnh sát như là những mục hàng đầu. Sau cùng, phẩm chất của các loại vũ khí mới, tối tân được Lực Lượng Việt Cộng Chính Quy và Địa Phương sử dụng trong các cuộc tấn công là điều vượt xa dự đoán. Súng AK-47 và lựu đạn chống xe tăng RPG-7 đặc biệt có hiệu quả chống lại các đơn vị chính quy và Lực Lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của Quân Lực VNCH.

Nằm dưới những vấn đề đặc biệt này là điều cơ bản hơn: hầu hết các vị tư lệnh và viên chức tình báo, ở tất cả các cấp, đều không thấy được địch quân có khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra như chúng xuất hiện trong tuyên truyền và trong các tài liệu đã tịch thu được của chúng. Các phỏng đoán phổ biến về sự hao hụt, thâm nhập và tuyển dụng người tại địa phương, các báo cáo tinh thần xuống giốc, và hàng loạt những vụ bại trận đã hạ thấp hình ảnh của địch quân. Bức tranh toàn cảnh được trình bày là một kẻ thù không có khả năng thực hiện một cuộc tấn công trên phạm vi và cường độ mạnh như thế. Các vị chỉ huy và các viên chức tình báo đã nhìn những lời kêu gọi được phổ biến về một “cuộc tổng nổi dậy” chỉ như là lời hô hào, và không phải là bản kế hoạch cho việc sắp làm. Hơn nữa, trong quá khứ nhiều “cuộc tấn công lớn” đã được công bố trong tuyên truyền của Cộng Sản nhưng thực tế đã không được thực hiện.

 

Phản Ứng Với Những Cảnh Báo

 

Washington và Sài Gòn, như đã trình bày ở trên, đều hiểu rõ rằng địch quân đã đặt kế hoạch cho một cuộc tấn công lớn, có thể là những cuộc tấn công có phối hợp tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật, tại Dak To trên cao nguyên Vùng II Chiến Thuật, và hướng về Sài Gòn từ tất cả mọi phía tại Vùng III Chiến Thuật. Vào ngày 10 tháng 1 năm 1968, Đại Tướng Westmoreland đã hủy bỏ một số hoạt động đã được lên kế hoạch tại phía bắc Vùng III Chiến Thuật để tái bố trí lại các lực lượng Hoa Kỳ tới gần Sài Gòn hơn. Trong những ngày kế tiếp, ông đã đưa ra hàng loạt cảnh báo cho các vị tư lệnh của ông, và cho các cơ quan Hoa Kỳ, rằng địch quân đang chuẩn bị tấn công. Dù ông ấy đã không dự đoán từ đầu các cuộc tấn công trong dịp Tết, ông ấy đã nhận thức được tầm quan trọng của các cuộc tấn công sắp xảy ra tại Quân Khu 5 [của Việt Cộng] và trong thông báo gửi cho tất cả các vị tư lệnh của ông vào ngày 30 tháng 1 dự đoán các cuộc tấn công vào đêm đó. Kết quả, tất cả các đơn vị Hoa Kỳ đều được cảnh giác đầy đủ, dù trong hầu hết trường hợp họ đã không có thì giờ hay thông tin để thực hiện các biện pháp phản công chống lại địch quân trước khi chúng tấn công thực sự. Tất cả các căn cứ của Đơn Vị Không Quân Số 7 đều được đặt trong tình trạng cảnh giác tối đa, và Giám Đốc Tình Báo của Đơn Vị Không Quân Số 7 đã xác thực rằng bước này để “bảo toàn Phi Trường Tân Sơn Nhất.” Có lẽ chứng cứ tốt nhất mà các biện pháp của Bộ Tư Lệnh Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại VN là hiệu quả và rằng tình báo chiến lược của địch quân là sai lầm đó là, với ngoại trừ Huế ra, địch quân đã thất bại trong việc giữ được bất cứ mục tiêu quân sự chính nào trong một khoảng thời gian đáng kể.

Tet Mau Than_Cau Trang Tien tai Hue bi gay do 06A
Cầu Tràng Tiền tại Thành Phố Huế bị gãy đổ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân.( www.tripadvisor.com )



Tuy nhiên, cảm giác khẩn trương tại Sài Gòn thì không được cảm nhận đầy đủ tại Washington ngay thời điểm trước cuộc tấn công. Kết quả, báo cáo tình báo được phổ biến tại Washington đã không chứa đựng không khí khủng hoảng hiện hữu tại Sài Gòn. Điều sai lầm này không phải do bất cứ ai. Thông tin sẵn có đã được truyền đạt và được phân tích hợp lệ, nhưng không khí thì không thể chuyển qua đường dây điện thoại. Dù các viên chức cao cấp tại Washington đã nhận được các cảnh báo vào thời gian từ ngày 25 đến 30 tháng 1, họ đã không nhận được trọn vẹn cảm giác tức thì và mãnh liệt đã hiện hữu tại Sài Gòn. Mặt khác, với Sài Gòn đã cảnh giác, hầu như không có gì có thể được làm thêm nữa tại Washington mà sự trễ nãi trong cuộc chơi đã có thể ảnh hưởng đến kết quả.

Trong bức tranh tổng quát này, có nhiều khác biệt đáng kể trong số 4 quân khu. Sư Đoàn III Thủy Quân Lục Chiến [Hoa Kỳ] được dự đoán sẽ bị tấn công tại Khe Sanh và Quảng Trị. Tin tình báo đó đã nhận được từ cơ sở CIA địa phương về chiến dịch mà địch quân sẽ tấn công Đà Nẵng, nhưng không có ngày giờ. Tướng Cushman nói rằng ông dự đoán sẽ bị tấn công vào dịp Tết, và các hoạt động của địch quân tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật đã làm cho giới chức cao cấp hủy bỏ ngưng bắn dịp Tết tại Vùng I Chiến Thuật. Kết quả, các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã được chuẩn bị tốt hơn những nơi khác. Hầu hết các đơn vị quân đội VNCH đều có quân số gần như đầy đủ. Sự kéo dài và phối hợp của các cuộc tấn công của địch quân, đã vượt quá mức dự đoán, như địch quân đã chiếm cứ lâu dài tại Huế. Tuy nhiên, nhìn chung, các cuộc tấn công của Cộng quân đã dễ dàng bị phản công.

Tại Vùng II Chiến Thuật, lực lượng đồng minh tại các vùng ven biển là phần bị tấn công nhiều nhất trong đêm 29-30 tháng Giêng bởi các đơn vị Việt Cộng. Họ đã không có lợi thế của việc báo trước mà những cuộc tấn công này cung cấp nhiều đơn vị đi xa xuống phía nam, họ cũng không ở trong tư thế “cảnh giác” các lực lượng Đồng Minh tại Quân Khu I. Các lực lượng Đồng Minh thì ở trong tình trạng cảnh giác cao hơn bình thường, tuy nhiên, họ đã được điều hướng để chống lại những vụ vi phạm ngưng chiến chắc chắn xảy ra hơn là với các cuộc tấn công tại các thành phố. Tại các vùng cao nguyên, không giống bất kỳ khu vực nào khác, tình báo sẵn sàng từ thông tin liên lạc, tù nhân, phản ánh các kế hoạch cụ thể đối với các cuộc tấn công trong dịp Tết. Thí dụ, các kế hoạch của Việt Cộng cho việc tấn công Dak To, Pleiku, và Kontum đều được biết trước rõ ràng, và Sư  Đoàn 4 Hoa Kỳ đã có thể liên kết chúng với các cuộc bố trí quân của địch. Điều này cung cấp một trong vài cơ hội cho lực lượng Hoa Kỳ để thực hiện các biện pháp năng động chống lại địch quân; Pleiku là chiến dịch tấn công của Hoa Kỳ thành công nhất. Tình báo tại những nơi khác ở cao nguyên thì không tốt bằng, nhưng đã có đủ thông tin để khiến cho 2 trong số 3 tư lệnh sư đoàn của Quân Đội VNCH tại Vùng II Chiến Thuật hủy bỏ tất cả các cuộc nghỉ phép. Tuy nhiên, chúng ta không tin rằng các lệnh này có hiệu quả toàn diện trong việc phục hồi nhân lực mà đã đi trước.

Như đã đề cập ở trên việc tái bố trí quân đội Hoa Kỳ tại Vùng III Chiến Thuật đã bắt đầu vào giữa tháng 1. Các hoạt động này được bắt nguồn bởi việc tập trung của 3 sư đoàn địch quân dọc theo biên giới Cam Bốt nằm ở phía bắc và tây bắc Sài Gòn và bởi các chỉ dấu rằng những đơn vị này bắt đầu điều động quân xuống phía nam hướng về thành phố [Sài Gòn]. Hơn nữa, các sĩ quan tình báo của Hoa Kỳ và VNCH suy đoán trước đó từ sự tái tổ chức của cơ cấu chỉ huy của địch quân tại Quân Khu 4 [của VC], bao quanh khu vực Sài Gòn, mà mục đích của họ là để cải thiện việc chỉ huy và kiểm soát cho việc phối trí một cuộc tấn công vào thành phố [SG]. Quân Khu III và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã được đặt trong tình trạng cảnh giác chung vào ngày 30 tháng 1 (Các hành động của Tướng Westmoreland bắt nguồn từ các cuộc tấn công tại Quân Khu 5 [VC] vào đêm trước đó), và trong thời gian của ngày đó đã nhận được tin cụ thể rằng Sài Gòn sẽ bị tấn công vào đêm đó. Tại hầu hết các đơn vị Quân Đội VNCH tại Quân Đoàn III binh sĩ có vẻ ở trong tình trạng ăn Tết bình thường.

Tại Vùng 4 Chiến Thuật, tính chất và mức độ của các cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên liệu. Các lực lượng Đồng Minh đã ý thức rằng khả năng của Việt Cộng đã được cải thiện. Một phúc trình của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (NSA) vào ngày 25 tháng 1, đã cảnh báo về khả năng có thể có các cuộc tấn công sắp xảy ra tại những khu vực khác, nói rằng các đơn vị  tại “vùng Nam Bộ,” gồm Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long], cũng có thể bị tấn công. Việc cung cấp các loại vũ khí tối tân đã gia tăng và Việt Cộng cho thấy khả năng thực hiện hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp trên khắp Vùng Đồng Bằng. Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, điều này có thể được diễn giải như là các phản ứng đối với tư thế mạnh mẽ hơn của đồng minh tại vùng này. Tại các thành phố trong Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long] sự hiện diện của Việt Cộng trong dịp Tết là rất truyền thống vì được chấp nhận như là thói quen. Tướng Eckhardt, Cố Vấn Cao Cấp, nói rằng cảnh giác duy nhất mà ông nhận được là lời cảnh giác của Tướng Westmoreland vào ngày 30 tháng 1. Tướng Eckhardt đã có thể cảnh giác các đơn vị hỗ trợ và hậu cần Hoa Kỳ tại Vùng Đồng Bằng, nhưng không thể có thời gian để phục hồi lại đủ quân số các đơn vị Quân Đội VNCH. Tư Lệnh Quân Đoàn của VNCH và 3 tư lệnh sư đoàn của ông ấy đã có mặt tại tổng hành dinh khi cuộc tấn công nổ ra, nhưng các đơn vị của họ thì quá yếu ớt.

 

Các Công Điện Giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn

 

            Sau đây là một số công điện báo cáo và trao đổi giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn từ Tổng Thống Johnson, Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, CIA, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam để cho thấy thêm một số chi tiết về các cảm nhận, nhận định và phản ứng của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng. Tài liệu này trích dịch từ văn kiện của Phòng Lịch Sử của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên, “Các Quan Hệ Ngoại Quốc Của Hoa Kỳ, 1964-1968, Tập VI, Việt Nam, Từ Tháng 1 đến tháng 8 năm 1968.”(4) Xin trích dịch mấy điểm đáng quan tâm như sau.

 

44. Ghi Nhớ Được Chuẩn Bị tại Cơ Quan CIA

 Washington, Ngày 2 Tháng 2 Năm 1968

 Chủ đề: Việt Nam – Cú Sốc Của Cuộc Tấn Công

 

1/ Trận tấn công Tết Mậu Thân rõ ràng cho thấy sức mạnh của Việt Cộng vấn tiếp tục mà qua đó kêu gọi cái nhìn mới trong phương thức của chúng ta [Mỹ] đối với chiến tranh Việt Nam và đối với Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa. Qua nhiều năm các nhà lãnh đạo Việt Nam [Cộng Hòa] đã phát triển sự chắc chắn tự mãn rằng sự hậu thuẫn của người Mỹ là bất biến. Hệ quả là họ đã cảm thấy thoải mái để tiến hành cuộc chiến từ từ, hài lòng trong vòng lẩn quẩn của các nhân vật lãnh đạo và chỉ chú ý ngẫu nhiên đối với việc huy động sự hậu thuẫn và tham gia rộng rãi của dân chúng một cách tích cực vào cuộc chiến. 

Trận tấn công Tết Mậu Thân có thể được sử dụng trong cuộc tấn công trực diện vào các thái độ và thói quen này, bởi vì nó biểu thị một cách áp lực rằng Chính Quyền VNCH mất một số đặc tính chính của chủ quyền. Họ [VNCH] không thể bảo vệ các mặt trận nếu không có nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ và ngay cả không thể làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ sử dụng Tòa Đại Sứ của mình.

Cuộc tấn công này khẳng định lập trường từ lâu rằng nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam chỉ để giúp người dân Việt Nam tự giúp họ, không phải để chiến đấu thay cho họ. Quan điểm này đã được trình bày trong một cuộc phỏng vấn nhanh chóng trước đây giữa Đại Sứ Bunker, có sự tham dự của Tướng Westmoreland, Tổng Thống Thiệu và Phó Tổng Thống Kỳ.

2/ Cuộc tấn công Tết Mậu Thân bởi Việt Cộng cũng cho thấy sự yếu kém của nền an ninh của Chính Quyền VNCH và sự thiếu vắng giải pháp phổ biến góp phần chống Việt Cộng, với ám chỉ rằng các viễn kiến thành công và những kế hoạch lâu nay là không đủ. Điều này cần được hiểu rằng chủ nghĩa từ từ không còn được chấp nhận như là phương thức về phía chúng ta đối với cuộc chiến và nó cần được nói ra một cách áp lực rằng từ nay Chính Phủ VNCH phải theo sự chỉ thị của Hoa Kỳ trong một kế hoạch điều chỉnh tình trạng của chiến tranh.

3. Trong kế hoạch nói trên, Hoa Kỳ đòi hỏi Tướng Nguyễn Đức Thắng phải được công cử làm Tổng Trưởng Nội Vụ và Quốc Phòng, với “toàn quyền” hành xử cơ chế quân sự, cảnh sát và bộ binh.

Tham Mưu Trưởng Liên Quân Tướng Cao Văn Viên phải được chỉ thị rằng tất cả quân lực VNCH từ nay sẽ được sử dụng để hỗ trợ trực tiếp trong việc tham gia chương trình do Tướng Thắng chỉ huy.

5. Tổng Thống Thiệu phải tìm kiếm sự chấp thuận của Quốc Hội để thành lập Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết. TT Thiệu phải làm Chủ Tịch Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết, và Phó TT Kỳ làm Phó Chủ Tịch và Giám Đốc Hoạt Động, Tướng Thắng làm Phó Giám Đốc Hoạt Động, và có các đại diện của các Bộ, Quân Đội cũng như Thượng và Hạ Viện. Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết phải có các Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết ở các cấp tỉnh và quận, có sự tham gia của các hội đồng tỉnh và quận.

7. TT Thiệu phải được cho biết rằng chúng ta [Hoa Kỳ] xem chương trình này phải có các thành quả tích cực trong vòng 100 ngày sau Tết (tức đầu tháng 5). Nếu không như vậy hay TT Thiệu từ chối đề nghị này, thì phải cho ông ấy biết rằng Hoa Kỳ sẽ thay đổi lập trường tôn trọng Chính Phủ VNCH. Trong trường hợp này, TT Thiệu nên hiểu là Hoa Kỳ có thể tìm một Chính Phủ VNCH khác thay thế.

 

48. Công Điện Tình Báo Từ Giám Đốc Sở Tình Báo và Nghiên Cứu (Hughes) Gửi Cho Ngoại Trưởng Rusk

Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968

Số 97, chủ đề: Việt Nam: Phỏng Đoán Chiến Lược Của Cộng Sản Trong Những Tháng Tới

 

Các sự kiện trong nhiều ngày qua cho thấy rằng Cộng Sản đã lao vào một chiến dịch được hoạch định rất kỹ lưỡng của những nỗ lực có sự hậu thuẫn nhiều mặt về quân sự, chính trị và ngoại giao để làm sụp đổ hoàn toàn vị thế của Chính Phủ VNCH và xóa sổ nền tảng chính trị đối với sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nếu điều này đã được phát triển, thì những cuộc thương lượng đã có thể bảo đảm thành công hơn là con đường dẫn tới tình cảnh mà trong đó sự thành công có thể đạt được. Trong khi đó, họ sẽ tiếp tục mở ngỏ khả năng thương thuyết.

 

49. Ghi Nhớ Từ William J. Jorden của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Gửi Cho Phụ Tá Đặc Biệt (Rostow) của Tổng Thống

 Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968,

Chủ đề: Tình Hình Tại Việt Nam

 

Trước hết, quan điểm của tôi là hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp tốt của Cộng Sản Bắc Việt/Việt Cộng trên tất các vùng trên toàn quốc cho thấy sự thất bại rõ ràng đối với Chính Phủ tại Sài Gòn và đối với chúng ta. Tôi cho rằng những sự kiện này là thất bại bởi vì:

-chúng phản ảnh sự thất bại tồi tệ nhất của tình báo chiến tranh. Nếu Việt Cộng và CS Bắc Việt có thể di chuyển có lẽ 30,000 lính đến nơi để tấn công tại tất cả các vùng trên toàn quốc mà không bị phát hiện, thì có điều gì đó sai lầm với hệ thống tình báo của Chính Phủ VNCH.

-cuối cùng, rõ ràng từ báo cáo tình báo trong vòng một hai ngày qua rằng nhiều người dân Việt Nam đã được chuẩn bị để tin và để tung tin đồn hoang đường về người Mỹ -- rằng chúng ta đã giúp Việt Cộng vào Sài Gòn, rằng chúng ta đang làm việc với VC để dựng lên một chính phủ liên hiệp, mà chúng ta đang tìm cơ hội để rút khỏi [VN], v.v… Điều này đối với tôi có nghĩa là tuyên truyền của VC cực kỳ ảnh hưởng.

 

53. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 4 tháng 2 năm 1968,

1100Z; Số 17920. Từ Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker gửi cho Tổng Thống Hoa Kỳ. Kèm theo báo cáo hàng tuần lần thứ 37 của tôi

 

7. Rằng những cuộc tấn công lan rộng có phối hợp sẽ có kết quả thất bại quân sự to lớn đối với địch quân mà bằng chứng cụ thể là trong số lượng tử thương được báo cáo vào sáng Thứ Bảy. Từ 6 giờ chiều ngày 29 tháng 1 lúc bắt đầu thời điểm ngưng bắn dịp Tết, tới nửa đêm, ngày 2 tháng 2, theo số liệu của chúng tôi, 12,704 địch quân bị giết chết, và 3,576, đa phần sẽ trở thành tù bình chiến tranh, bị bắt giam; 1,814 người và 545 toán quân sử dụng vũ khí bị bắt. Đồng Minh có 983 người bị tử thương mà trong đó 318 binh sĩ Hoa Kỳ, 661 binh sĩ VNCH, và 4 quân nhân thuộc Thế Giới Tự Do; số quân đồng minh bị thương là 3,483 người. Số tử thương của địch quân trong vài ngày này được xem là lớn hơn bất cứ tháng nào trước đây trong cuộc chiến. Dựa trên số địch quân bị giết, tôi đã hỏi Tướng Westmonreland về con số phỏng đoán tổng số địch quân bị giết và ông ấy cho biết ông nghĩ là con số này có thể lên tới 36,000.

 

62. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam gửi Bộ Ngoại Giao

Sài Gòn, ngày 8 tháng 2 năm 1968, số 1115Z.

Số 18582. Gửi cho Tổng Thống từ Đại Sứ Bunker. Kèm theo báo cáo hang tuần lần thứ 38 của tôi

 

B) Số lượng địch quân tham gia trận tấn công được xem là lớn hơn phỏng đoán mà tôi đã báo cáo trong phúc trình lần trước của tôi. Phỏng đoán hiện nay là 52,000 quân địch, cộng với 10,000 du kích, tổng cộng có tới 62,000 quân địch, tham chiến trong các cuộc tấn công khắp nơi.

E) Từ sáng sớm ngày 31 tháng 1 cho tới nửa đêm ngày 7 tháng 2, địch quân đã mất gần 25,000 quân, gần 5,000 quân bị bắt, hơn 5,500 người và gần 900 toán quân sử dụng vũ khí. Về phe ta thì 2,043 binh sĩ tử vong (gồm 703 binh sĩ Hoa Kỳ, 1,303 binh sĩ VNCH, và 37 binh sĩ Thế Giới Tự Do), ít hơn 1/12 tổn thất của địch quân. Tướng Westmoreland cho biết rằng số quân địch bị giết nói trên là chưa kể số địch quân bị chiến đấu cơ và đạn pháo giết chết.

H) Sáng nay, ngày 8 tháng 2, số người tị nạn tại khu vực thành phố Sài Gòn là 93,000 và trên toàn quốc là khoảng 190,000 người. Tới giờ này, có 31 tỉnh trong số 50 tỉnh báo cáo, tổng số người di tản có thể đạt tới từ 250,000 tới 300,000 người. Khoảng 15,000 căn nhà bị phá hủy được báo cáo, chắc chắn sẽ còn gia tăng. Số thường dân bị thiệt mạng qua báo cáo sơ khởi là 800 người chết, 7,500 người bị thương, dù thực tế nhiều hơn.

Ngoài ra, trong tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968,” nói trên, Harold P. Ford cho biết rằng chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, địch quân đã tấn công vào 39 trong số 44 thành phố của Nam Việt Nam, trong số đó 5 trong 6 thành phố lớn đông dân đã bị tấn công, 71 trong số 242 quận lỵ bị Cộng quân tấn công. Tại Thủ Đô Sài Gòn, 11 tiểu đoàn Việt Cộng địa phương đã tấn công vào dinh tổng thống, Phi Trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, và nhiều địa điểm khác; không ít, họ đã xâm nhập và tràn vào một khoảng thời gian nào đó trong khuôn viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Harold P. Ford cho biết thêm rằng CIA phỏng đoán cho tới tháng 5 năm 1968, Cộng quân có khoảng từ 450,000 tới 600,000 quân tại Miền Nam VN.

Trong tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên “Foreign Relations, 1964-1968, Volume VI, Vietnam, January-August 1968,” số 32-49, từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2: Trận Tấn Công Tết, ghi chú của ban biên tập số 33, cho thấy rằng có tới 84,000 Cộng quân gồm quân đội Bắc Việt và Việt Cộng tham gia vào các cuộc tấn công Tết Mậu Thân trên toàn Miền Nam.(5)

Theo tài liệu “Vietnam War: Tet Offensive, Cia - Department Of Defense - State Dept Files, South Vietnamese Army History - U.S./South Vietnam Army Photos, nói về trận tấn công Tết Mậu Thân tại Huế cho biết rằng Cộng quân đã chiếm giữ 26 ngày, với khoảng 12,000 lính gồm bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng địa phương. Báo cáo cho biết có từ 2,000 tới 3,000 công chức, cảnh sát của chính quyền VNCH, và những thành phần khác mà Cộng Sản gọi là phản cách mạng đã bị Việt Cộng thảm sát tại Huế trong thời gian đó. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chưa tới 2,500 binh sĩ đã chống cự và đánh bại hơn 10,000 Cộng Quân và đã giải phóng thành Phố Huế.(6)

Tài liệu này cũng nói rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân về mặt chiến thuật đã đánh bại các lực lượng Việt Cộng và Bắc Việt. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng được mọi người xem như là khúc quanh trong chiến tranh Việt Nam dù tổn thất của Cộng Sản rất lớn lên tới 32,000 quân bị giết và khoảng 5,800 lính bị bắt.

Một trong những hệ quả của trận tấn công Tết Mậu Thân, theo tài liệu này, là chính phủ Johnson nhận ra rằng muốn chiến thắng cuộc chiến VN thì Hoa Kỳ phải tăng quân số -- quân số lính Mỹ tại VN lúc đó đã lên tới 525,000 -- và chi phí nhiều hơn là những gì người dân Mỹ muốn. Vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, Johnson tuyên bố không tái tranh cử nhiệm kỳ kế tiếp, công bố ngưng ném bom Bắc Việt, và thúc giục Hà Nội đồng ý hòa đàm.

Vào đầu tháng 1 năm 1969, hòa đàm Paris bắt đầu diễn ra với sự tham dự của đại diện 4 bên, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt, và Mặt Trận Giải Phóng. Tháng 6 năm 1969, Hà Nội lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (PRG).

 

Kết Luận

 

Năm mươi lăm năm trôi qua, sự thật về cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 đã được phơi bày ra ánh sáng bởi rất nhiều tài liệu giá trị, đúng đắn và đáng tin cậy, gồm hồ sơ mật của CIA, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhưng, chính quyền CSVN cho đến nay vẫn không dám công khai thừa nhận thất bại và sai lầm của họ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà trong đó họ đã lợi dụng ngày Tết cổ truyền thiêng liêng nhất của dân tộc để mở các cuộc tấn công và giết hại thường dân vô tội, như trường hợp thảm sát hàng ngàn sinh mạng tại Huế.

Tại sao? Một chế độ không dám nhìn nhận sự thật như thế, dù đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận, thì có phải là một chế độ đáng để người dân tin cậy chăng?

Xin cầu nguyện cho tất cả những nạn nhân của biến cố Tết Mậu Thân được siêu thoát.

Huỳnh Kim Quang

 

Chú Thích:

 

* Bài được viết và đăng lần đầu nhân 50 năm tưởng niệm Mậu Thân, trên báo xuân Việt Báo Tết 2018; được hiệu đính lại và đưa lên vietbao.com Xuân Quý Mão tưởng niệm 55 năm Tết Mậu Thân.

 

(1)  https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/DOC_0000097712.pdf

 

(2)  https://www.cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and-monographs/cia-and-the-vietnam-policymakers-three-episodes-1962-1968/epis3.html

 

(3)  https://www.cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and-monographs/cia-and-the-vietnam-policymakers-three-episodes-1962-1968/index.html

 

(4)  https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v06

 

(5)  https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v06/d33

 

(6)  http://www.paperlessarchives.com/vw_tet_offensive.html

 Nguồn : https://vietbao.com/p190a314801/55-nam-tet-mau-than-mo-ho-so-mat-cia-

Sunday, November 6, 2022

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM MỘT GIA ĐÌNH THANH BẦN

 

Nhìn tấm hình này ai cũng thấy làm lạ ,sao gia đình ông cựu thượng thơ Ngô Đình Khả nhìn “bần” dữ vậy,ba đứa con trai trong đó có ông tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm sau này chưn đất ,áo quần xốc xếch phát rầu ,nhà này nghèo chứ không giàu
Ngô Đình Khả (1850–1923) quê quán ở làng Đại Phong, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nghèo
Đại Phong là làng Công giáo do linh mục thừa sai Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) lập ra
Ông Ngô Đình Khả nhà nghèo nhưng hiếu học,được các cố đạo gửi qua tận đại chủng viện Penang Mã Lai du học
Ông Ngô Đình Khả giỏi tiếng Pháp, thạo chữ Hán và biết chữ La Tinh nên về VN làm thông ngôn ở Tòa Khâm Sứ tại Huế
Từ từ ông Ngô Đình Khả lên tới Thượng Thư Bộ Công, rồi làm Phụ Đạo cho vua Thành Thái
Tức ông là thầy dạy của vua Thành Thái vậy.
Vua Thành Thái khẳng khái thế nào thì cũng nên nhìn ông thầy của vua một chút
Trong cuốn “Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt”, tác giả Nguyễn Văn Minh đã viết về ông Ngô Đình Khả như sau:
“Cụ áp dụng một đường lối giáo dục con cái rất đặc biệt. Ngay từ khi còn tại chức, trong cuộc sống hàng ngày, cụ không chỉ nghiêm khắc với các con mà chủ yếu là nghiêm khắc với chính mình, nêu gương một nếp sống cần kiệm, liêm khiết, trung nghĩa.
Cụ bắt các con sống đúng theo khuôn mẫu ấy, nhằm hun đúc, xây đắp cho họ một lý tưởng sống vững chắc trên nền tảng một Đức Tin tôn giáo bất biến và một tinh thần nho học Khổng-Mạnh thâm sâu.”
Vào năm 1923, trước Tết
Khi biết mình sắp chết, ông Ngô Đình Khả gọi các con đến bên giường trối họ phải tiếp tục thực hiện lý tưởng .
Đặc biệt với ông Ngô Đình Diệm ông trối:
“Diệm, con có đủ đức tính cần thiết để trở thành người lãnh đạo tốt. Con phải lãnh đạo.”
Và cụ nói với tất cả các con:
“Các con phải cùng với nó (ông Diệm) tranh đấu dành lại cho được một nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện công cuộc cải tạo xã hội xóa bỏ bất công được
Ông Ngô Đình Khả qua đời ngày 18.2.1923, nhằm ngày mồng ba tháng giêng năm Quý Hợi
Sau này,khi cuộc đảo chánh 1-11-1963 thành công ,TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết chết,Đệ Nhứt Cộng Hòa sụp đổ thì chưa có ai kết án rằng hai anh em TT tham nhũng hay tham lạm làm giàu,không có một lời nào
Người ta đồn rằng bà Trần Lệ Xuân ôm hàng tỷ USD chạy trốn,nhưng thực tế bà Nhu sống ở cảnh nghèo mấy chục năm trên đất khách.
@Nguyễn Gia Việt