; }

Monday, October 5, 2020

CHIẾN DỊCH MỸ HẠ SÁT ĐÔ ĐỐC NHẬT CHỈ HUY TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG


See the source image
Đô đốc Isoroku Yamamoto

See the source image


See the source image

Bất chấp thất bại trong trận Midway năm 1942, Nhật vẫn kiên quyết không đầu hàng, thúc đẩy Mỹ lên kế hoạch hạ sát đô đốc Isoroku Yamamoto.
Yamamoto, đô đốc nổi tiếng nhất của hải quân Nhật khi đó, là người chỉ huy cuộc tập kích bất ngờ vào căn cứ Mỹ ở Trân Châu Cảng hồi tháng 12/1941. Chỉ trong hai giờ, đợt tấn công đã phá hủy 4 tàu chiến, gần 190 phi cơ, khiến hơn 2.000 lính Mỹ thiệt mạng và khoảng 1.200 người bị thương. Trận đánh này được coi là "nỗi nhục" với Mỹ và dẫn tới quyết định tham gia Thế chiến II.
Yamamoto được đánh giá là một người tài năng và vô cùng thông minh, nhận được sự tôn trọng từ cả hai bên chiến tuyến. Trước chiến tranh, ông đã sống vài năm tại Mỹ và học ở Đại học Harvard, nên từng phản đối cuộc chiến với nước này, thậm chí là việc gia nhập Hiệp ước Ba bên với Đức và Italy, hình thành nên phe Trục.
Mục tiêu của Yamamoto chỉ là một lòng phụng sự đất nước. Dù nhận thức được rằng Nhật đã lựa chọn con đường sai lầm, đô đốc này vẫn hỗ trợ tổ quốc hết sức có thể.

See the source image
Đô đốc Isoroku Yamamoto của hải quân Nhật Bản trong Thế chiến II. Ảnh: Dan Hampton
 
See the source image
Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. 
tia-chop-p-38-tiem-kich-ban-ha-nhieu-may-bay-nhat-the-gioi
Chiến đấu cơ P-38 Lightning (Tia chớp)
See the source image
 
See the source image
Trung úy Rex Barber của Mỹ là người khai hỏa vào oanh tạc cơ đầu tiên
See the source image
See the source image

"Trong 6-12 tháng đầu tiên của cuộc chiến với Mỹ và Anh, tôi sẽ hành động quyết liệt và lần lượt giành chiến thắng. Nhưng nếu chiến tranh vẫn tiếp diễn sau đó, tôi không kỳ vọng vào thành công", Yamamoto nói trong một cuộc họp với nội các Nhật, điều sau này trở thành hiện thực với thất bại nặng nề của hải quân Nhật trong trận Midway, sự kiện định đoạt mặt trận Thái Bình Dương.
Ngày 14/4/1943, các chuyên gia mật mã Mỹ đã thu thập và giải mã được một bức điện về kế hoạch thị sát của Yamamoto tại Quần đảo Solomon. Bức điện chứa nhiều thông tin chi tiết, như thời gian khởi hành, địa điểm, tuyến đường bay chính xác, thậm chí cả số lượng và loại máy bay được triển khai làm nhiệm vụ này, tạo thời cơ cho Mỹ hạ sát đô đốc Nhật.
Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt khi đó tỏ ra dứt khoát và không suy tính gì thêm sau khi nghe về Chiến dịch Báo thù. Kế hoạch được tất cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo Mỹ phê chuẩn chỉ trong vòng ba ngày, thuộc loại nhiệm vụ tuyệt mật và khẩn cấp.
Chiến đấu cơ P-38 Lightning (Tia chớp), một trong những loại chiến đấu cơ hiệu quả nhất thế giới, được lựa chọn thực hiện chiến dịch nhờ khả năng bay đường xa vượt trội hơn bất kỳ máy bay nào khác trong kho vũ khí của Mỹ. Phi đội gồm 18 chiếc P-38 chỉ biết họ được giao nhiệm vụ "đánh chặn một quan chức cấp cao" của Nhật. Trong mỗi tốp 4 chiến đấu cơ sẽ có một chiếc nhận trách nhiệm "tiêu diệt", số còn lại yểm trợ cho chiến đấu cơ tấn công.
Các sĩ quan tham mưu Mỹ đặt ra khả năng máy bay chở Yamamoto di chuyển theo đường thẳng từ Rabaul, Papua New Guinea, đến sân bay Balalae trên quần đảo Solomon, dài khoảng 507 km. Dựa vào đó, Washington phải dự đoán thời gian và vị trí đụng độ, đồng thời hy vọng các phi công Nhật không trì hoãn chuyến bay hoặc thay đổi tuyến đường.
Tướng John Mitchell, chỉ huy Chiến dịch Báo thù, tính toán rằng vụ đánh chặn sẽ xảy ra vào 9h35 sáng 18/4/1943, vài phút trước khi máy bay chở Yamamoto hạ cánh xuống Balalae.
7h hôm đó, chỉ có 16 chiến đấu cơ P-38 cất cánh từ sân bay Kukum Field trên đảo Guadalcanal thuộc quần đảo Solomon, do hai chiếc gặp trục trặc. Thêm vào đó, phi đội phải tránh radar và vùng biển địch kiểm soát bằng cách bay thấp, ở độ cao hơn 12 m so với mực nước biển, hoàn toàn không trao đổi qua sóng vô tuyến suốt chặng đường dài 640 km.
Lực lượng Mỹ đã gặp may mắn khi mọi thứ diễn biến theo đúng dự tính ban đầu, không bên nào thay đổi kế hoạch. Trận không chiến bắt đầu lúc 9h34 gần đảo Bouganville thuộc Papua New Guinea. Các phi công Mỹ phát hiện hai oanh tạc cơ Mitsubishi G4M của Nhật được 6 chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero hộ tống.

Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. Đồ họa: Google.
Vị trí máy bay chở Đô đốc Yamamoto bị bắn hạ. Đồ họa: Google.

Trung úy Rex Barber của Mỹ là người khai hỏa vào oanh tạc cơ đầu tiên, bắn trúng động cơ bên phải khiến máy bay bốc cháy và rơi xuống rừng. Đây chính là phi cơ chở đô đốc Yamamoto. Oanh tạc cơ thứ hai chở phó đô đốc Matome Ugaki của Nhật cũng bị trung tá Besby Holmes bắn hạ và lao xuống biển.
Ugaki được giải cứu và sống sót, nhưng Yamamoto thì không. Đô đốc nổi tiếng của Nhật trúng hai phát đạn và tử vong trước khi máy bay rơi xuống. Thi thể ông được tìm thấy vào hôm sau, hỏa táng rồi gửi về Tokyo trên thiết giáp hạm Musashi, con tàu cuối cùng mà Yamamoto làm chỉ huy.
Một tháng sau, người dân Nhật được thông báo về cái chết của Yamamoto, mất mát được cho là to lớn với nước này. Ngược lại, tinh thần của người Mỹ dâng cao nhờ Chiến dịch Báo thù, khi một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của họ đã bị loại bỏ.
See the source image

Ánh Ngọc (Theo War History) Hình ảnh bổ sung Andy Van

See the source image


Monday, September 21, 2020

NỘI CÁC CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

 

Nội các Đế quốc Việt Nam của Thủ tướng Trần Trọng Kim chỉ tồn tại hơn bốn tháng

Nội các Đế quốc Việt Nam của học giả Trần Trọng Kim (1883-1953) tồn tại từ ngày 17/04 đến 25/08 năm 1945 gồm toàn các trí thức: một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư.
Đó là các ông Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Trịnh Đình Thảo, Trần Trọng Kim, Vũ Ngọc Anh, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam, Vũ Văn Hiền, Phan Anh và Nguyễn Hữu Thi.
Nhân chuyện một cuốn sách của Trần Trọng Kim vừa bị thu hồi ở Việt Nam, các bạn tìm hiểu ít nhất năm việc lớn chính phủ của ông làm được năm 1945:
1. Lập lại quốc hiệu Việt Nam
Đây là tên nước 'ước mơ' của Hoàng đế Gia Long nhưng không được Thanh triều công nhận.
Tên nước Đại Nam do Vua Minh Mạng đặt đã bị Pháp xóa để lập ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trong Liên bang Đông Dương.
Được Nhật Bản trao trả 'độc lập', vua Bảo Đại và chính phủ đã nhanh chóng tuyên bố quốc hiệu là Việt Nam.

Báo 'ĐIỆN TÍN' đăng tin Việt Nam tuyên bố Độc lập
Đây cũng là cái tên mà Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu đặt cho các đảng phục quốc, cách mạng.
Riêng phái cộng sản chưa dùng tên này cho ba đảng đầu tiên của họ mà từ 1930 đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

"Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc sử diễn ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: "Đầu voi phất ngọn cờ vàng". Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc...Chữ ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương."   Trần Trọng Kim  

Quốc hiệu Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố với thế giới sau đã thành tên nước cho cả hai chế độ ở Nam và Bắc đến 1975 và ngày nay.

Đế quốc Việt Nam năm Bảo Đại 20 chọn cờ vàng ba sọc đỏ với một sọc đứt quãng theo quẻ Ly của Kinh Dịch làm quốc kỳ.
Nhà Nho học Trần Trọng Kim dẫn sử để nói đó là màu cờ vàng của Triệu Thị Trinh khi khởi nghĩa chống quân Ngô.
2.Dùng tiếng Việt làm quốc ngữ và Việt hóa giáo dục
Dù có một số nỗ lực dùng tiếng Nhật thời Nhật Bản chiếm Đông Dương, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Việt và một số văn bản Hán ngữ đến năm 1945.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, đóng vai trò chính trong việc ra quyết định dùng tiếng Việt hệ quốc ngữ thay tiếng Pháp.
Ông soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt và đưa bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Đây là cơ sở cho chương trình trung học trên toàn Việt Nam ở cả hai miền dưới hai chế độ đối nghịch.
Các sách giáo khoa chịu ảnh hưởng của giai đoạn Hoàng Xuân Hãn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu từ 1936 đến 1947.
Đó là thời gian ông xuất bản tiểu sử Lý Thường Kiệt và La Sơn phu tử, soạn từ vựng danh từ khoa học Toán Lý Hóa cho người Việt Nam.
3.Đòi lại miền Nam để thống nhất lãnh thổ
Theo sử gia Lê Mạnh Hùng, ngày 16/06, Vua Bảo Đại ra tuyên bố thống nhất tương lai của ba kỳ về một.
Chính phủ Trần Trọng Kim cũng ngay lập tức đàm phán với Nhật để đòi lại ba thành phố trực trị của người Pháp trước đó là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Cuộc gặp của Trần Trọng Kim với gặp Trung tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật tại Đông Dương trong tháng 7 đã đem lại kết quả quan trọng.
Tân chính phủ Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo ba đô thị lớn: Trần Văn Lai làm Thị trưởng Hà Nội, Vũ Trọng Khanh làm Thị trưởng Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm Thị trưởng Tourane (Đà Nẵng).
Hà Nội thời Pháp: phố mang tên nhà thám hiểm thực dân Jean Dupuis ở lối vào Ô Quan Chưởng
Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai đã cho đổi tên phố từ tên Pháp sang tên những vị anh hùng dân tộc Việt Nam.
Sang tháng 8/1945, Nhật Bản đồng ý trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim và ông Nguyễn Văn Sâm được bổ nhiệm làm Khâm Sai Nam Kỳ.
Không có quân đội riêng, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ dựa vào tình thế và quyết tâm của các trí thức để đàm phán với Nhật Bản.
Nhưng về mặt chính trị, tâm lý dân tộc và hành chính, nhận lại Nam Kỳ là thành tựu có tính biểu tượng quan trọng.
Hành động này không chỉ xóa nỗi nhục bại trận - cuộc chiến mất nước của Đại Nam bắt đầu từ Nam Kỳ - mà còn duy trì giấc mơ thống nhất ba miền các bậc tiền bối nuôi dưỡng.
4.Soạn hiến pháp nhấn mạnh tự do và độc lập
Dù không có thực quyền và không được các đại cường công nhận - bởi là chính quyền có quan hệ mật thiết với Đế quốc Nhật - Trần Trọng Kim, đã lập ra Hội đồng dự thảo Hiến pháp
 Hội đồng gồm các trí thức, văn nghệ sỹ nổi tiếng: Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.
Hiến pháp công nhận tự do lập nghiệp đoàn, các hội nghề nghiệp.
Tổng hội Công chức ra đời để làm lực lượng chính trị ủng hộ cho tân chính phủ.
Các hội đoàn thanh niên sau là cơ sở cho các phong trào vũ trang chống Pháp của cả phe cộng sản và cộng hòa.
Trong Tuyên chiếu 03/05/1945, vua Bảo Đại đã viết:
"Muốn cải-tạo quốc-gia, chính-phủ cần hành động cho quy-củ nghĩa là phải có hiến pháp.
Hiến pháp tương lai của Việt-Nam sẽ căn cứ vào sự hợp nhất quốc-gia, sự quân dân cộng tác, và những quyền tự do chính-trị tôn-giáo cùng nghiệp-đoàn của nhân-dân."
Đặc biệt, theo lời nhà vua, "Chính phủ ngày nay không phải phụng sự một cá nhân hay một đảng phái nào cả."
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp này đã không hoàn tất được vì các công việc cấp bách hơn như cứu đói cho miền Bắc.
Theo sử gia Trần Gia Phụng, chính phủ Trần Trọng Kim tuy được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, đã hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.
5. Rút lui và trao quyền cho thế hệ cách mạng
Các hạn chế của chính phủ Trần Trọng Kim đã được nói đến nhiều, gồm cả việc không có Quốc hội, không có quân đội và không được nước nào công nhận ngoài Đế quốc Nhật Bản.
Nội các này đã tan rã trong làn sóng cách mạng nổi lên và mục tiêu giành giật vùng ảnh hưởng của các đại cường.
Ý thức được những vấn đề đó, các trí thức trong chính phủ này đã chọn con đường trao lại quyền lực không đổ máu cho một chính quyền do Việt Minh lãnh đạo.
Được biết vua Bảo Đại đã không cho binh lính mai phục bắn vào nhóm thanh niên theo Việt Minh trèo lên kỳ đài ở Huế hạ cờ vàng và kéo cờ đỏ sao vàng lên cột ngày 21/08.
Tại Hà Nội, tuần hành của Tổng hội Công chức ngày 19/08 bị 'cướp cờ' biến thành biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo.
Dù vậy, Khâm sai Đại thần Phan Kế Toại đã không cho Bảo an binh bắn vào đoàn biểu tình và cũng không yêu cầu quân Nhật can thiệp.
Là chính phủ chuyên viên đầu tiên của Việt Nam thời hiện đại, nội các Trần Trọng Kim đã rút lui trong hòa bình để trao quyền lại cho thế hệ các chính khách và nhà làm cách mạng chuyên nghiệp.
Theo chính lời ông Trần Trọng Kim kể lại, quốc gia Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào giai đoạn tàn sát lẫn nhau giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng trong các năm 1945-46.
Về thể chế, Đế quốc Việt Nam rút lui đã khép lại thời kỳ quân chủ để chuyển sang cộng hòa với các tiến bộ và hệ lụy như đã biết về sau.

Saturday, September 12, 2020

CUỘC CHIẾN KIỂM THÍNH THÀNH CÔNG NHẤT CỦA TÌNH BÁO MỸ

 

Click image for larger version

Name:	d.jpg
Views:	0
Size:	90.5 KB
ID:	1652228
Thiết bị nghe trộm đặc biệt "Cocoon"; Nguồn: topwar.ru
 

Trong cuộc đối đầu kéo dài hàng thập kỷ thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô đã thu thập thông tin tình báo bằng mọi cách, kể cả dùng tàu ngầm và thiết bị chuyên dụng để nghe trộm qua các đường cáp dưới đáy biển.

Khởi đầu đối đầu trên biển

Trong Chiến tranh Lạnh, người Mỹ rất muốn có được thông tin về công nghệ tàu ngầm và hỏa tiển của Liên Xô, đặc biệt là việc thử ICBM và khả năng tấn công hạt nhân đầu tiên.

Các nỗ lực đầu tiên để thu thập thông tin tình báo về Liên Xô bằng tàu ngầm bắt đầu vào cuối những năm 1940. Tuy nhiên, chuyến do thám của hai tàu ngầm diesel-điện USS "Cochino" (SS-345) và USS "Tusk" (SS-426) của Mỹ gần bờ biển bán đảo Kola năm 1949 đã bị thất bại hoàn toàn.

Những chiếc tàu ngầm được trang bị thiết bị trinh sát điện tử hiện đại đã không thể thu được một số khả dĩ thông tin có giá trị, trong khi tàu ngầm Cochino còn bị hỏa hoạn.

Tàu ngầm "Tusk" đã tìm cách đến cứu chiếc tàu bị nạn, đưa một phần thủy thủ đoàn khỏi "Cochino" và kéo nó về các cảng của Na Uy. Tuy nhiên, chiếc tàu ngầm xấu số này không đến được Na Uy, một vụ nổ đã xảy ra, và tàu bị chìm; bảy thủy thủ thiệt mạng, hàng chục người khác bị thương.

Mặc dù thất bại, các Hải quân và cộng đồng tình báo Mỹ không từ bỏ dã tâm của mình.

Các tàu của Mỹ thường xuyên tiếp cận bờ biển Liên Xô để do thám cả ở bán đảo Kola và Viễn Đông, bao gồm cả vùng Kamchatka. Mùa hè năm 1957, gần Vladivostok, các tàu hộ vệ chống ngầm của Liên Xô đã phát hiện và buộc tàu trinh sát đặc nhiệm USS "Gudgeon" của Mỹ phải nổi lên. Hải quân Liên Xô cũng không từ việc sử dụng cả bom độ sâu.

Tình hình thực sự bắt đầu thay đổi với sự xuất hiện ồ ạt của các tàu ngầm nguyên tử, vốn có thể hoạt động độc lập hơn nhiều và không phải nổi lên mặt nước trong suốt chiến dịch.

Việc chế tạo tàu ngầm trinh sát dùng năng lượng hạt nhân đã mở ra các cơ hội và khả năng mới. Một trong những tàu ngầm loại này là USS Halibut (SSGN-587), được hạ thủy vào tháng 1/1959 và được đưa vào trang bị tháng 1/1960.

Tàu ngầm hạt nhân Halibut

Tàu ngầm do thám chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Halibut; Nguồn: topwar.ru    
 
Tàu ngầm hạt nhân USS Halibut (dịch sang tiếng Nga là "Cá chim", còn có ký hiệu SSGN-587) ban đầu được thiết kế như một tàu ngầm cho các chiến dịch đặc biệt.

Nhưng trong một thời gian dài, nó đã được sử dụng để phóng thử
hỏa tiển dẫn đường và với vũ khí hỏa tiển, nó cũng được sử dụng như một tàu ngầm hạt nhân đa năng. Năm 1968, Halibut đã được hiện đại hóa sâu và được tái trang bị cho các nhiệm vụ do thám hiện đại.

SSGN-587 là tàu ngầm hạt nhân cỡ nhỏ có lượng choán nước trên mặt nước hơn 3.600 tấn và dưới nước khoảng 5.000 tấn, có chiều dài 106,7m, tốc độ tối đa trên mặt nước 15 hải lý/giờ và tốc độ khi lặn 20 hải lý/giờ, lò phản ứng hạt nhân có công suất cực đại 7.500 mã lực, chứa được 97 thủy thủ.

Năm 1968, tàu ngầm Halibut được hiện đại hóa tại nhà máy đóng tàu Mare Island (California) và quay trở lại căn cứ tại Trân Châu Cảng vào năm 1970.

Trong thời ở nhà máy, các thiết bị đẩy bên, sonar gần và xa, một phương tiện kéo bằng tời dưới nước, thiết bị hình ảnh và video trên tàu, và một camera lặn đã được trang bị cho chiếc tàu ngầm này.

Ngoài ra, trên tàu ngầm được cài đặt các thiết bị máy tính hiện đại và mạnh, cũng như một bộ thiết bị khảo sát hải dương khác nhau. Với các trang thiết bị này, Halibut đã nhiều lần đến biển Okhotsk, kể cả trong lãnh hải của Liên Xô, để thực hiện các hoạt động do thám.

Chiến dịch do thám Ivy Bells

Vào đầu năm 1970, giới chức quân sự Mỹ biết được sự tồn tại của một đường dây liên lạc bằng cáp giữa các căn cứ của Hạm đội Thái Bình Dương (Liên Xô) ở Kamchatka và Sở chỉ huy Hạm đội ở Vladivostok được đặt dưới đáy biển Okhotsk.

Thông tin được nhận từ các đặc vụ đã được xác nhận bởi trinh sát vệ tinh, và thực tế Liên Xô tuyên bố biển Okhotsk là lãnh hải của mình, đưa ra lệnh cấm tàu nước ngoài qua lại. Các cuộc tuần tra thường xuyên, cũng như các cuộc tập trận của Hạm đội Thái Bình Dương được thực hiện trên biển, các cảm biến âm học đặc biệt được đặt ở phía dưới.

Hải quân, Cục Tình báo Trung ương (CIA) và Cục An ninh Quốc gia (NSA) Mỹ đã quyết định tiến hành một chiến dịch tình báo bí mật mang mật danh “Ivy Bells” (“Hoa thường xuân”) - nghe trộm cáp liên lạc dưới biển để bắt các thông tin đặc biệt quan trọng về công nghệ tàu ngầm hạt nhân và
hỏa tiển chiến lược của Liên Xô đóng tại căn cứ ở Vilyuchinsk.

Halibut với các thiết bị trinh sát hiện đại đã được sử dụng cho chiến dịch đặc biệt này, có nhiệm vụ tìm một cáp ngầm và lắp đặt một thiết bị nghe trộm đặc biệt có tên là "Cocoon".

"Cocoon" được tích hợp tất cả những thành tựu của công nghệ vô tuyến-điện tử tiên tiên nhất của người Mỹ vào thời điểm đó. Hình dáng bên ngoài thiết bị được đặt ngay phía trên cáp biển này là một khối hình trụ dài khoảng 7m, đường kính 1m.

Ở phần đuôi của nó có một nguồn năng lượng plutonium, về thực chất, là một lò phản ứng hạt nhân thu nhỏ. Nó cần thiết cho hoạt động của thiết bị được lắp đặt trên tàu, bao gồm cả máy ghi âm, được sử dụng để ghi lại các cuộc trò chuyện/đàm thoại.

Tháng 10/1971, Halibut đã thâm nhập thành công biển Okhotsk và tìm được cáp thông tin liên lạc dưới nước của Hải quân Liên Xô ở độ sâu lớn (các nguồn khác nhau cho biết từ 65 đến 120m). Tại khu vực đã định, một phương tiện điều khiển dưới biển sâu được phóng từ một tàu do thám, sau đó các thợ lặn căn chỉnh và lắp đặt Cocoon lên dây cáp.

Thiết bị này thường xuyên ghi lại mọi thông tin các cuộc đàm thoại giữa các căn cứ của Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô ở Petropavlovsk-Kamchatsky và Vilyuchinsk và Bộ chỉ huy Hạm đội ở Vladivostok.

Trình độ công nghệ của những năm đó còn hạn chế, thiết bị không có khả năng truyền dữ liệu, tất cả thông tin đều được ghi lại và lưu trữ trên phương tiện từ tính. Mỗi tháng một lần, các tàu ngầm Mỹ phải quay lại khu vực cài thiết bị để các thợ lặn thu thập băng từ đã ghi, lắp đặt băng từ mới trên Cocoon. Sau đó, thông tin nhận được được đọc giải mã và nghiên cứu toàn diện.

Một phân tích về các đoạn ghi âm cho thấy Liên Xô tin tưởng vào độ tin cậy và khả năng không bị nghe trộm của cáp, vì vậy nhiều bản tin được truyền đi dưới dạng văn bản mở, không mã hóa.

Nhờ các thiết bị trinh sát và việc sử dụng các tàu ngầm hạt nhân chuyên dụng, hạm đội Mỹ trong nhiều năm đã có được các thông tin tuyệt mật liên quan trực tiếp đến an ninh của Liên Xô và Mỹ. Quân đội Mỹ tiếp cận được thông tin về căn cứ chính của các tàu ngầm chiến lược thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Chiến dịch Ivy Bells bị bại lộ

Sĩ quan NSA Pelton tiết lộ về chiến dịch Ivy Bells bị bắt năm 1985; Nguồn: topwar.ru

 Chiến dịch Ivy Bells là một trong những chiến dịch tình báo thành công nhất của Hải quân Mỹ, CIA và NSA trong Chiến tranh Lạnh, nhưng nó đã kết thúc trong thất bại. Sau hơn 8 năm nghe trộm thông tin liên lạc của Hải quân Liên Xô ở Viễn Đông, bí mật về thiết bị nghe trộm kết nối với cáp dưới biển đã được KGB biết đến. Một sĩ quan NSA đã cung cấp thông tin về chiến dịch này cho đặc vụ Liên Xô cư trú tại Hoa Kỳ.

Sĩ quan NSA đó là Ronald William Pelton - người đã thất bại trong một cuộc kiểm tra nói dối vào tháng 10/1979 khi được hỏi về việc sử dụng ma túy. Bài kiểm tra được thực hiện là một phần hồ sơ và ảnh hưởng đến sự nghiệp của Pelton - người bị giáng chức, bị tước quyền truy cập thông tin mật, và lương hàng tháng của nhân viên NSA bị cắt một nửa.

Cay cú với việc này, tháng 1/1980, tiếp cận Đại sứ quán Liên Xô ở Washington, Pelton - người đã làm việc tại NSA trong 15 năm - đã chia sẻ những thông tin quý giá có thể tiếp cận trong suốt sự nghiệp của mình, trong đó có chiến dịch Ivy Bells.

Thông tin có được đã cho phép Hải quân Liên Xô trong những ngày cuối tháng 4/1980 tìm thấy và trục vớt, đưa lên mặt nước thiết bị trinh sát "Cocoon"của Mỹ.

Chiến dịch do thám Ivy Bells chính thức bị khép lại. Điều đáng nói nữa là nhờ thông tin có giá trị, Pelton đã nhận được từ Liên Xô 35 nghìn USD - số tiền không thể so sánh với chi phí của Mỹ cho chiến dịch do thám ở biển Okhotsk và những thông tin thực sự vô giá mà Bộ chỉ huy Mỹ nhận được trong nhiều năm.

 Tuấn Anh/VOV

Tuesday, August 25, 2020

NHỮNG ANH THƯ Ở HOA KỲ

Hình  như chúng ta chỉ nghe nói nhiều tới các NAM TƯỚNG. Kể cũng lạ ! Ngày nay chốn “ba quân” đâu có phải chỉ toàn là các đấng nam nhi. Được đeo sao trên ve áo trong quân ngũ Mỹ không phải chuyện dễ, NAM TƯỚNG hay NỮ TƯỚNG cũng đều phải theo một trình tự khe khắt như nhau. Thử nhìn vào con số trước. Số chuẩn tướng trong quân đội Mỹ hiện có như sau: 
-Hải Quân: 110 Phó Đề Đốc 
-Coast Guard (Tuần Duyên) : 19 Phó Đề Đốc
-Thủy Quân Lục Chiến: 40 Chuẩn Tướng 
-Lục Quân : 150 Chuẩn Tướng
-Không Quân : 139 Chuẩn Tướng. 
Tổng cộng là 439 Phó Đề Đốc và Chuẩn Tướng.
Các điều kiện để được đề nghị phong cấp Chuẩn Tướng khá khó khăn. Trước hết phải mang cấp Đại Tá được 3 năm. Sau đó phải là Chỉ Huy Trưởng xuất sắc. 
Tiến trình sau đó tuần tự như sau: 
- được Hội Đồng Thăng Cấp chọn lọc
-Tư Lệnh quân chủng đề nghị lên Bộ Trưởng Quốc Phòng
-Thượng Viện duyệt xét
-Tổng Thống quyết định bổ nhiệm. 
Thường chỉ có 3% các Đại Tá được đề nghị trở thành Chuẩn Tướng ! 

Ngày nay, chị em phụ nữ Việt chúng ta ở bên Mỹ cũng mang đồng phục nhưng oai phong hơn nhiều. Họ cũng xông pha ra chỗ mũi tên hòn đạn ngang ngửa với các nam nhi. Nam nhi người Việt cũng như nam nhi người Mỹ, to như những ông hộ pháp. Cạnh tranh trong một tình thế lép vế như vậy nhưng chị em phụ nữ oai hùng chẳng kém chi ai. Chẳng phải là ngày phụ nữ, chẳng lễ mẹ chi, tự nhiên tôi muốn nhắc tới NHỮNG BẬC ANH THƯ Việt Nam lỗi lạc này bởi vì tôi ngợp với những CON CHÁU BÀ TRƯNG BÀ TRIỆU nơi xứ người.

Tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ có năm vị. Dẫn đầu là :
-Thiếu Tướng Lương Xuân Việt của Lục quân. 
-Vệ Binh Quốc Gia có Chuẩn Tướng Lập Thể Flora. 
-Thủy Quân Lục Chiến có Chuẩn Tướng William Seely. 
-Không quân có Chuẩn Tướng John Edwards. 
-Hải Quân có Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn. 
Vậy là Hải Lục Không Quân kèm thêm Thủy Quân Lục Chiến và Vệ Binh Quốc Gia, chúng ta đều có tướng. 
Chúng ta tự hào về những NAM TƯỚNG GỐC VIỆT trong mọi binh chủng này.

Nhưng chúng ta tự hào hơn nếu biết là chúng ta còn có hai vị nữ tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ. Đó là Chuẩn Tướng Danielle Ngô và Phó Đề Đốc Vũ Thế Thùy Anh.

1-CHUẨN TƯỚNG DANIELLE NGÔ
Như vậy là bà đi từ cấp bậc thấp nhất lên tới tướng trong 29 NĂM QUÂN NGŨ.
-NĂM 1990, Danielle Ngô gia nhập Lục quân Hoa Kỳ phục vụ trong ngành Công Binh. 
-NĂM 1994, Bà theo học khóa sĩ quan và được gắn lon Thiếu Úy 
Bà có mặt trong hàng ngũ công binh Nhảy Dù và công binh chiến đấu trên các chiến trường Iraq và Afghanistan. 
-Chỉ trong tám năm, bà đã lên tới Trung Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 52 Công Binh. 
-Năm 2012, bà đã chỉ huy vụ dập tắt đám cháy rừng rộng lớn Waldo Canyon. 
-Năm 2013 vào tháng 9, bà lại hoàn thành vụ dập tắt đám cháy rừng lớn hơn Black Forest Fire ở Colorado. 
-Thắng ông thần lửa, bà cũng thắng ông thần nước trong vụ mưa lũ làm sạt lở căn cứ tối mật của Không Quân xây ngầm trong núi Cheyenne Mountain cũng ở Colorado. 
-Năm 2014 vào tháng 8, bà được vinh thăng Đại Tá. 
-Năm 2017, bà Danielle Ngô đảm nhận chức Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn Công Binh 130, hoạt động trong khu vực Thái Bình Dương. 
-Năm 2019 vào tháng 6, Chuẩn Tướng Danielle Ngô được GẮN SAO trên ve áo.
Về học vấn, bà có bằng :
-Cử Nhân Tài Chánh, Đại học Massachusetts
-hai văn bằng Cao học tại trường Command and General Staff College và Đại học Georgetown.

2-PHÓ ĐỀ ĐỐC VŨ THẾ THUỲ ANH
Viên nữ tướng gốc Việt thứ hai trong quân đội Mỹ là Vũ Thế Thùy Anh.
Chào đời vào năm Mậu Thân 1968, di tản qua Mỹ vào năm 1975, Thùy Anh sau đó theo học ngành Dược tại Đại học Maryland. -Ra trường năm 1994, bà làm việc tại Đại học John Hopkins. Là con gái đầu của Hải Quân Đại Úy Vũ Thế Hiệp, bà quyết định theo nghiệp hải hồ của cha. Bà gia nhập U.S.. Public Health Service, viết tắt là PHS, và trở thành SĨ QUAN QUÂN DƯỢC của Hải quân. 
-Năm 2015, sau 12 năm phục vụ trong PHS, bà Vũ Thế Thùy Anh đã mang lon Đại Tá
-Năm 2019 vào tháng 6 Bà được GẮN SAO trên ve áo cùng thời gian với bà Danielle Ngô nhưng vì phục vụ trong Hải quân nên
-quan hàm chính danh của bà gọi là Rear Admiral, PHÓ ĐỀ ĐỐC, tương đương với CHUẨN TƯỚNG trong các binh chủng khác. 

TỔ CHỨC PHS
Ra đời vào năm 1798, PHS được quân đội hóa vào năm 1889 với một chuỗi các bệnh viện Hải quân đặt ở các hải cảng quan trọng như Boston, Charleston, New Orleans…để kiểm soát dịch bệnh khỏi thâm nhập vào Mỹ. Thành viên của PHS là các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá. Họ mang cấp bậc quân đội và hoạt động cho cộng đồng khi có thiên tai, bão lụt, bệnh tật hay dịch bệnh. PHS có nhiệm vụ cách ly và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm trước khi nó bùng nổ và phát tán ra khắp nơi trong cả nước. Chính PHS đã đóng một vai trò quan trọng trong trận đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 và cộng tác với cơ quan phòng chống dịch Centers for Disease Control (tên viết tắt là CDC ) trong trận chiến chống Covid-19 hiện nay.
Như vậy là hiện tại chúng ta có 
-5 NAM TƯỚNG
-2 NỮ TƯỚNG gốc Việt trong quân đội Mỹ.

3-ĐẠI TÁ BÁC SĨ MYLENE TRẦN HUỲNH ( TÊN VIỆT TRẦN THỊ PHƯƠNG ĐÀI)

Một nữ lưu gốc Việt được đề nghị lên tướng nhưng ĐÃ VỂ HƯU không kịp chờ ngày sao mọc trên ve áo. 
Đó là Đại Tá Bác sĩ Mylene Trần Huỳnh, tên Việt là Trần Thị Phương Đài. Bà là con của Bác sĩ quân y Dù Trần Đoàn và Dược sĩ Phan Thị Nhơn. 
Năm 1975, khi Sàigòn Thất thủ, Mylene mới chỉ được 9 tuổi. Gia đình bị kẹt lại, Bác sĩ Trần Đoàn bị tống vào trại tù cải tạo. Cũng may ông chỉ ở tù một năm. Họ vượt biển thành công và tới được Manila, Phi Luật Tân. 
Tới Mỹ, bà đã tốt nghiệp bác sĩ tại Đại Học V irginia và phục vụ trong Không Quân Hoa Kỳ suốt 18 năm. 
Bà giữ chức Giám Đốc của Air Force Medical Service, viết tắt là AFMS, thuộc Chương Trình Chuyên Viên Y Tế Quốc Tế (International Health Specialist), trực thuộc văn phòng “Office of the Air Force Surgeon General”. 
Cựu Trung Tướng Lữ Lan đã ca ngợi Bác sĩ Mylene Trần Huỳnh trong buổi lễ bà được vinh thăng Đại Tá : “Thành tựu của Bác sĩ Mylene Trần không những là một niềm vinh dự của riêng cô mà còn là của cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Chỉ 35 năm trước đây khi những người tỵ nạn mới đặt chân lên miền đất hứa này, mấy ai nghĩ rằng cô bé “thuyền nhân” nhỏ nhắn đã đến đây từ 30 năm trước lại có ngày trở thành một y sĩ đáng kính trong ngành Quân y của quân lực Hoa Kỳ… Điều đáng ca ngợi nơi Mylene hơn nữa, trong khi đang sống một cuộc sống tự do và hạnh phúc nơi xứ sở Hoa Kỳ, cô vẫn không quên nguồn cội mình và người dân Việt Nam còn đang sống khốn khổ dưới chế độ cộng sản. Cô cùng toán y tế của mình đã NHIỀU LẨN TRỞ VỀ VN để săn sóc y tế cho người nghèo và những kẻ thiếu may mắn”.

4-BÀ DƯƠNG NGUYỆT ÁNH-BOMB LADY
Không ở trong quân ngũ, không lon, không sao nhưng được mệnh danh là “Bomb Lady”, bà Dương Nguyệt Ánh đúng là một anh thư kiệt xuất. 
Bà sanh năm 1960, rời Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ bằng trực thăng năm 1975. Sau thời gian ở trại tạm cư tại Pennsylvania, gia đình bà đã tới định cư tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Bà tốt nghiệp các văn bằng :
-kỹ sư hóa học
-khoa học điện toán 
-và hành chánh. 
Bà làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu của Hải Quân tại Maryland. 
-Là Giám Đốc Khoa Học và Kỹ Thuật (Director of Science and Technology) của chi nhánh Indian Head Division thuộc Trung Tâm Vũ Khí Hải Quân Hoa Kỳ (Naval Surface Warfare Center), 
Bà đã đoạt được nhiều giải thưởng. Thành quả nổi đình nổi đám nhất của bà là :
-Người  đã chế ra bom áp nhiệt (thermobaric bomb). 

BOM ÁP NHIỆT (THERMOBARIC BOMB) HAY BOM DIỆT HẦM NGẦM
Trong bài phỏng vấn bà Dương Nguyệt Ánh của báo Washington Post, số ra ngày Chủ Nhật 30/4/2006, có đoạn viết như sau : “Chuyên gia về chất nổ Dương Nguyệt Ánh chỉ huy một nhóm khoa học gia, chỉ trong 67 NGÀY ĐÃ CHẾ RA BOM ÁP NHIỆT đầu tiên của Hoa Kỳ, loại bom mà khi nổ sẽ tạo ra một vầng mây hóa chất và một làn sóng chấn động có khả năng hủy diệt tất cả những gì trong tầm sát hại của nó. 
Được gọi là “bom diệt hầm ngầm”, đây là loại vũ khí dùng để hủy diệt các hang động, địa đạo được dùng làm căn cứ chỉ huy của đối phương trong cuộc chiến A Phú Hãn sau vụ khủng bố 11/9”. 
-Ngoài trái bom “chấm dứt chiến tranh A Phú Hãn” này, 
-bà còn cùng một toán chuyên viên chế tạo ra 18 vũ khí khác trong chỉ có 12 năm. 
Coi bà như… tướng chắc cũng không có chi quá đáng !

Bà Dương Nguyệt Ánh được cộng đồng người Việt trên khắp thế giới biết nhiều rồi. Nếu cần nói thêm chúng ta phải nhắc tới chuyện bà đã đi nhiều thành phố trên nhiều quốc gia để nói lên tiếng nói của hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 29/4/2017 bà đã tới thành phố Montreal nơi tôi ngụ cư và tôi đã tham dự buổi nói chuyện của bà. Là một nhà khoa học nhưng bà không nói chi về việc làm của bà mà chỉ nói tới tấm lòng của bà với tổ quốc Việt Nam. Bà tri ân những người lính đã chiến đấu can trường trong cuộc chiến đầy chính nghĩa trước 1975 và muốn con cháu chúng ta biết rõ những hy sinh của những người đi trước để tự hào về dòng giống của chúng ta.
Cái tôi tâm phục nơi bà là dáng vẻ lịch thiệp và cách nói tình cảm nhưng không thiếu sôi động của bà đã tỏ ra là một con dân một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời. Nếu tìm hiểu về dòng dõi của bà, chúng ta sẽ không ngạc nhiên về phong thái của bà. Bà là dòng dõi của cụ nghè Dương Khuê, một khuôn mặt văn học rất nổi tiếng, thơ văn được giảng dạy trong nhà trường Việt Nam. Dòng họ này có cách dùng chữ lót trong họ tên theo từng thế hệ, tương tự như đế hệ của hoàng tộc nhà Nguyễn. 
Chữ lót cho tên phái nam cho các thế hệ tiếp nối là: Tự, Thiệu, Hồng, Nghiệp. 
Chữ lót cho Bên nữ là : Hạ, Nguyệt, Vân, Thúy. 
Như vậy bà Dương Nguyệt Ánh đồng vai vế với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Giáo sư Dương Thiệu Tống.

5-Bà GIAO PHAN

Bà Dương Nguyệt Ánh là anh thư chế bom
Bà Giao Phan là anh thư đóng hàng không mẫu hạm loại xịn nhất của Hải quân Mỹ. Đó là hàng không mẫu hạm lớp Ford, lớp tàu hiện đại nhất của thế giới. 
Chức vụ của bà là TỔNG GIÁM ĐỐC của Program Executive Office-Aircraft Carrier, Cơ Quan Điều Hành Chương Trình Hàng Không Mẫu Hạm của Hải quân Hoa Kỳ. Bà cho biết trong cuộc phỏng vấn của đài VOA : “Cơ quan của tôi đảm nhiệm tất cả các việc liên quan đến hàng không mẫu hạm, từ A tới Z. Từ lập kế hoạch, thiết kế, xây dựng, bảo trì, sửa chữa. Tóm lại, từ đầu tới cuối. 
Người lãnh đạo cơ quan của tôi là một vị tướng hai sao của Hải quân là Đề Đốc Brian Antonio. 
Tôi là phó của vị này, đứng vị trí thứ hai, là cấp CHỈ HUY DÂN SỰ CAO CẤP NHẤT trong tổ chức. Chúng tôi có ngân sách 40 tỷ đô la để điều hành”. 
Nói cho vui, đứng ngay sau ông tướng hai sao, nếu chúng ta có gắn cho bà một sao cũng là chuyện không có chi quá đáng! Bà đã trông coi việc đóng ba hàng không mẫu hạm lớp Ford tối tân nhất trên thế giới. Đó là các tàu 
-USS Enterprise
-USS Kennedy 
-và USS Gerald R. Ford. (Hàng không mẫu hạm USS Gerald R. Ford)
USS Gerald R. Ford có 5 đặc điểm ăn trùm thiên hạ: giúp máy bay cất cánh bằng điện từ (electro-magnetic aircraft launch system): hệ thống phát năng lượng tối tân nhất; thiết kế mới cho kích thước và vị trí của phi đạo; hệ thống tác chiến hợp nhất (integrated warfare system) và hệ thống điều hòa không khí tối tân nhất.

Hai bà không có sao mà như có sao Dương Nguyệt Ánh và Giao Phan làm người Việt chúng ta tự hào. Nhưng chưa đeo sao cũng có thể là loại xịn. Xịn trên chiến trường đàng hoàng. Đó là hai nữ phi công gốc Việt xuất sắc trong quân đội Mỹ: 
-Trung Tá Michelle Vũ 
-và Trung Tá Elizabeth Phạm

6-TRUNG TÁ MICHELLE VŨ 
Trung Tá Michelle Vũ là nữ phi công duy nhất trong phi đội Kỵ Binh 6-17. Hoa lạc giữa rừng gươm! 
Tốt nghiệp Đại học năm 22 tuổi, Michelle nhập ngũ, học lái máy bay trực thăng trong hai năm tham gia chiến trường Iraq. Phi đội Kỵ Binh 6-17 gồm 35 thành viên, chỉ có bà là nữ.






7-TRUNG TÁ ELIZABETH PHẠM

Người nữ quân nhân gan dạ, quả cảm và nhiều máu phiêu lưu nhất không ai khác ngoài Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Elizabeth Phạm. 
Nhỏ con nhưng chơi đồ chơi thứ xịn nhất: chiến đấu cơ siêu thanh F-18. 
Tốt nghiệp Đại học UCSD, University of California San Diego, 
Bà gia nhập Không quân và được học lái máy bay tại trường T34 của Hải quân Hoa Kỳ tại Florida. 
Tiếp tục học cao hơn tại trường T45 Goshawk thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Meridian tại tiểu bang Mississippi, bà tốt nghiệp thủ khoa “Top Hook”. 
Bà là phi công đầu tiên được chọn để lái chiến đấu cơ siêu thanh F-18. 
Tại chiến trường Iraq, bà phục vụ tại không đoàn nổi tiếng “Bats”, không đoàn Dơi, có nhiệm vụ yểm trợ cực cận cho các lực lượng bộ binh. 
Những phi công của không đoàn này là những phi công ưu tú nhất được tuyển chọn. Là nữ phi công duy nhất của không đoàn, bà có khả năng yểm trợ hỏa lực chính xác nơi những mục tiêu chỉ cách bộ binh 180 thước ! 
Muốn yểm trợ chính xác như vậy, bà phải bay thấp và đã nhiều lần trúng đạn tại chiến trường Iraq. Bạn đồng ngũ đặt cho bà biệt danh “Miracle woman”. Hiện nay bà đang phục vụ tại vùng Thái Bình Dương, đặt căn cứ tại Nhật Bản.

Nữ Trung Tá Phi Công Elizabeth Phạm là nữ phi công gốc Việt đầu tiên lái chiến đấu cơ F/A-18 Super Hornet cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Cô Elizabeth Phạm sinh ngày 13 tháng Giêng, 1978 trong một gia đình Công Giáo, con của Bác Sĩ Phạm Văn Minh  và từng sống ở Seattle, tiểu bang Washington, sau đó gia đình cô dời xuống San Diego, California, định cư.
Phi công Elizabeth Phạm tốt nghiệp Đại Học University of San Diego. Sau đó, cô gia nhập quân đội Hoa Kỳ và được huấn luyện phi hành tại tiểu bang Florida. Cô ra trường với cấp bậc Thiếu Úy, và sau đó tiếp tục được huấn luyện bay cao cấp tại tiểu bang Mississippi.
Cô Elizabeth Phạm tốt nghiệp thủ khoa khóa huấn luyện bay, vì cô đã đáp xuống chiến hạm Ronald Reagon chính xác và dội bom với độ chính xác cao. Cô Elizabeth Phạm đã đánh bại tất cả các nam phi công, và nhờ thành tích nổi bật đó mà đích thân Đại Tướng Chỉ Huy Trưởng đã trao bằng khen và thăng cấp Trung Úy cho cô, đồng thời cô được chọn làm nữ phi công đầu tiên của Thủy Quân Lục Chiến, điều khiển phản lực cơ siêu thanh F/A 18 Hornet vào năm 2003. Chiếc oanh tạc cơ F/A 18 Hornet mà cô điều khiển trị giá hơn $35 triệu Mỹ Kim.
Sau khi tốt nghiệp đại học, vị nữ sĩ quan này đã gia nhập Phi Công Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ; cô đậu thủ khoa trong khóa học đáp xuống hàng không mẫu hạm, thử thách lớn nhất cho mọi phi công.
Cô đã phục vụ tại lực lượng tiền phương vùng Thái Bình Dương, chiến trường Trung Đông, đặc biệt là tại Iraq, tăng cường hỏa lực, yểm trợ tại mặt trận cho lực lượng TQLC Hoa Kỳ trong các chiến dịch tại đó. Cô đã bay tổng cộng hơn 130 phi vụ
Sau một thời gian phục vụ tại Bộ Quốc Phòng tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nhiệm vụ của Trung Tá Elizabeth Phạm là phi công trong lực lượng ứng chiến thường trực tiền phương của Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, căn cứ tại Nhật Bản với hàng không mẫu hạm.
Với các thành tích đáng tự hào của mình, cô đã được lên chức thiếu tá. Sau một thời gian, đến ngày 1 tháng Ba năm 2019, Thiếu Tướng Craig C. Crenshaw, Giám Đốc Nhân Sự của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đã quyết định thăng cấp cho cô lên Trung Tá và tổ chức buổi lễ trên chiến hạm USS Midway ở San Diego.

Vùng Southbay ở miền Nam California còn được mệnh danh là thủ đô của các máy bay chiến đấu được sản xuất tại đây.
Tất cả có 1,458 chiếc FA-18 A/B đã được sản xuất và trị giá 41 triệu dollars cho mỗi chiếc.
Ba nhà sản xuất chính thời bấy giờ là McDonnell Douglas/Boeing và Northrop Aircraft. Mười bảy năm sau, 11/29/1995, chiếc FA-18 Model E/F bay thử lần đầu tiên, trị giá mỗi máy bay lên đến 55.2 triệu dollars.
Tính đến nay 350 máy bay loại này đã được sản xuất, và Elizabeth Phạm là một phụ nữ đầu tiên đã sử dụng loại máy bay chiến lược này.
-Từ những ngày đầu chiếc máy bay FA-18 ra đời lúc ấy, cô Elizabeth Phạm chỉ là một trẻ sơ sinh.
Phu quân của cô Elizabeth Phạm cho biết bây giờ cô không phải chỉ là một phi công bình thường mà Elizabeth Pham được vinh danh trong" Hạng những Phi công xuất chúng. ""
-Và cũng có thể cô đang sử dụng loại máy bay EA-18G -trị giá mỗi chiếc lên đến 66 triệu dollars- là loại mà tất cả gần như tàng hình (stealth) vì nằm trong chương trình “Top secret” bí mật chiến lược quốc phòng.
-Chính vì vậy nên cấp trên đã không cho phép cô thố lộ bất cứ một điều gì với bất cứ ai liên quan đến công việc của cô. 
Còn chiếc máy bay hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm, chiếc X-35 JSF, cô Elizabeth Phạm cũng mong muốn được sử dụng trong tương lai sắp đến.
Tôi tin trong thời gian sắp tới, chúng ta sẽ có thêm ít nhất một nữ tướng. Bà Trưng ngày xưa cưỡi voi mà nên tướng
Con cháu bà ngày nay cưỡi chiến đấu cơ siêu thanh F-18 trị giá 66 triệu đô thì lên tướng cấp kỳ là cái chắc.

8-TRUNG TÁ JOSEPHINE CẨM VÂN - US NAVY (Hải Quân)

Cô Josephine Cẩm Vân Nguyễn đỗ hạng nhì (Á khoa) tại Học Viện Hải Quân Annapolis, Maryland năm 1999; đây là nơi đào tạo với chương trình 4 NĂM  các SĨ QUAN HIỆN DỊCH  của quân chủng Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến.
Vài cựu sinh viên sĩ quan nổi tiếng trong số nhiều vị khác là cựu tổng thống Jimmy Carter (sĩ quan tiềm thủy đĩnh nguyên tử), nghị sĩ John McCain (sĩ quan phi hành trên hàng không mẫu hạm), nghị sĩ Jim Webb (sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến). Theo hệ thống tự chỉ huy của quân trường, cô Cẩm Vân chỉ huy 2 tiểu đoàn sinh viên sĩ quan với quân số 2,000. Mỗi năm Học Viện tiếp nhận một khóa khoảng 1,000 sinh viên và luôn có 4 khoá tại trường.
Cô theo học Y KHOA tại STANDFORD UNIVERSITY khi tốt nghiệp thực tập tại Bethesda Naval Medical Center, trung tâm y tế có nhiệm vụ theo dõi và săn sóc sức khoẻ cho các tổng thống đương nhiệm. 
Sau khi theo học PHI HÀNH tại Pensacola, Florida, cô được thăng cấp hải quân đại úy với nhiệm sở tại Yokosuka và đi theo hàng không mẫu hạm Kitty Hawk trong vai trò BÁC SĨ QUÂN Y PHI HÀNH từ 2005-2009. Hiện nay, cô là Trung Tá đang làm việc tại Trung tâm quân y Walter Reed, tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ.

H1:BÀ CHUẨN TƯỚNG DANIELLE NGÔ
H2: PHÓ ĐỀ ĐỐC VŨ THẾ THUỲ ANH
H3: ĐẠI TÁ BÁC SĨ MYLENE TRẦN HUỲNH ( TÊN VIỆT TRẦN THỊ PHƯƠNG ĐÀI)
H4: BÀ DƯƠNG NGUYỆT ÁNH-BOMB LADY
H5: BÀ GIAO PHAN
H6: BÀ MICHELLE VŨ
H7:BÀ ELIZABETH PHẠM
H8: BÀ JOSEPHINE CẨM VÂN


Friday, June 26, 2020

CÁI CHẾT CỦA MỘT NGÔN NGỮ : TIẾNG VIỆT SÀI GÒN CŨ


Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Bài viết này đề cập tới sự diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam đã dùng trước năm 1975, hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước, và chẳng mấy chốc, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong từ điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa.
Người Việt hải ngoại đã mang tiếng nói này theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, làm cho người ta gợn một nỗi cảm hoài.
Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 1975, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc cũng thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Người dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: “đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân… dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.
Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 1975 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: “Anh xin quản lý đời em”. Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ”. Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như “chế độ xem”, “chế độ bao cấp”. Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơn; bảo đảm – đảm bảo; vùi dập – dập vùi…
Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân”. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.
Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức (hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như “ghi danh, đi xem” đã bị thay thế bằng “đăng ký, tham quan”. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như: sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật…
Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không, vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.
Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.
Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.
Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình hải ngoại thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của VC” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.
Những hình ảnh cộng đồng người Việt tại hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như Linh mục, Thượng tọa, Ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)
Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở Đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 1975, vì nếu dùng, cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.”
Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!
Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:
Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ mới nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ mới.
Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:
Trong nước:
“Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy. Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho biết ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho biết: “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu”.
Ngoài nước:
“Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga. Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện”.
Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: “phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng…”
Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.
Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng Anh sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này.
Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!
Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự “giao lưu văn hoá” đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.
Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là “cái chết của một ngôn ngữ”. Đau lòng lắm thay!
Trịnh Thanh Thủy