Thursday, April 29, 2021
Wednesday, April 28, 2021
VIỆT NAM : 46 NĂM SAU CUỘC CHIẾN VÀ NHỮNG CÂU HỎI CÒN BỎ NGỎ
Nguồn hình ảnh, Getty Images
Chiến tranh đã kết thúc từ lâu, vì sao vết thương vẫn chưa lành?
Đã 46 năm kể từ khi chiến tranh VN kết thúc. Thời gian dài gần bằng hai thế hệ.
Người cộng sản luôn tự hào là họ đã kết thúc được cuộc chiến, thống nhất được đất nước! Cứ mỗi dịp này báo chí nhà nước ở VN lại chạy hết công suất để nhắc lại những "chiến công" lừng lẫy trong "cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam"…còn bên kia ở hải ngoại nhắc lại những nỗi đau của "tháng Tư đen".
Chỉ vài năm gần đây, những cụm từ như "chế độ ngụy, tay sai bán nước" một thời thường được "bên thắng cuộc" dùng để nói đến chế độ VNCH cũ đã bớt đi, một số bài viết cũng khéo léo dùng chữ "mừng ngày thống nhất đất nước" hơn là "mừng ngày chiến thắng"
Ngược lại, theo thời gian ngôn từ căm hận trong những bài viết của "bên thua cuộc" cũng nhẹ bớt. Nhưng tôi thấy vẫn còn đó nỗi đau, sự tiếc nuối cho một chữ "nếu" của lịch sử trớ trêu.
Cùng với nỗi đau chung cho đất nước là nỗi đau về những mất mát riêng của từng cá nhân, từng gia đình khi một biến cố lịch sử ập đến, đã làm đổi thay bao nhiêu số phận.
Có cả những câu chuyện của những người thuộc phe chiến thắng nhưng cũng ẩn chứa những nỗi đau khác, có người ngay sau ngày tiếng súng vừa tắt, đã ngồi bên vệ đường Sài Gòn để khóc vì biết mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời tuổi trẻ để đi "giải phóng" một quốc gia tự do, nhân bản, văn minh, phồn thịnh hơn quốc gia nơi mình sinh ra và lớn lên, có người nhiều năm sau mới ngậm ngùi nhận ra mặt trái của tấm huân chương…
Mỗi gia đình Việt Nam đều có ngày 30/04
Cuộc đời của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam tự nó đã là một cuốn sách, một bộ phim, qua đó người ta có thể hình dung được một phần bức tranh của dân tộc và nếu chỉ cần kể lại một cách trung thực, thì rất nhiều cuộc đời đó còn chân thực hơn gấp bao nhiêu lần những cuốn sách, bộ phim, của người Mỹ hay của người Việt, đã viết, đã thực hiện, về Chiến tranh Việt Nam.
Cũng như bao nhiêu gia đình người Việt khác, gia đình họ hàng tôi có cả hai phe Nam - Bắc và cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi theo chiều ngược nhau sau 30/04.
Nguồn hình ảnh, Getty Images
Sự ly tán đã có trong thời chiến, thời hậu chiến gặp lại nhau, không ai bảo ai nhưng có một chủ đề chung đều muốn né tránh là chuyện chính trị, chuyện chiến tranh. Họ hàng thì vẫn là họ hàng, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng quan điểm chính trị chẳng phải lúc nào cũng đồng thuận, trong một dòng họ đã như thế, nói gì giữa nhà cầm quyền với người dân.
Rồi hàng chục năm sau, họ hàng tôi lại tiếp tục ly tán, quê hương không còn là nơi đất lành chim đậu nên nhiều người phải bỏ nước ra đi, tản mác khắp bốn phương trời. Nhưng dù đã là công dân của nước khác, đa số người Việt vẫn đau đáu chuyện quê nhà, thì giờ dành để theo dõi, vui buồn theo từng biến cố ở VN nhiều hơn dành cho những sự kiện ở quê hương thứ hai.
Vì sao không quên được quá khứ?
Chỉ có thế hệ trẻ như con gái tôi, rời nước khi còn ở tuổi thiếu niên, hay những bạn trẻ sinh ra ở nước ngoài là không quan tâm bao nhiêu tới VN, và không hiểu nổi tại sao người Việt không thể quên?
Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người, rằng tại sao người Việt, ở cả hai phe, cứ luôn nhắc hoài về quá khứ? Sao không bỏ qua, cùng nhau nhìn về phía trước để xây dựng đất nước? Tại sao 40, 42, rồi 46 năm trôi qua nhưng hàng chục triệu người Việt, dù có dính líu trực tiếp đến cuộc chiến hay không, vẫn không thể bình an, thậm chí như một nhà thơ từng nói, là bị hội chứng PTSD (post-traumatic stress disorder)?
Câu trả lời thật ra rất đơn giản. Nếu sau chừng ấy năm, Đảng Cộng sản làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, bảo vệ được chủ quyền trọn vẹn về lãnh thổ lãnh hải, người dân thực sự được sống trong một xã hội tự do, dân chủ, nhân bản, tiến bộ, Việt Nam có vị thế của mình trên thế giới, thì vết thương của cuộc chiến tranh đã qua, dẫu có tàn nhẫn đến đâu, cũng sẽ tự lành. Cả dân tộc sẽ khép lại quá khứ, chấp nhận thực tại và hào hứng hướng về tương lai. Chính vì đảng cộng sản không làm được như vậy, thậm chí ngược lại, nên nỗi đau vẫn cứ còn mãi, thời gian càng lùi xa, càng đau…
Nguồn hình ảnh, Getty ImagesĐẩy nhân dân vào cuộc chiến tương tàn vì lý tưởng XHCH nhưng sau đó Đảng Cộng sản đã phản bội lại chính những lý tưởng, học thuyết, mô hình thể chế chính trị mà họ từng mù quáng tin và bắt nhân dân phải tin theo. Họ đã phản bội lại hàng triệu người dân miền Bắc, trong đó có những người ngã xuống vì tin vào "cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ, giải phóng miền Nam", cho một tương lai tốt đẹp hơn! Tất cả những gì họ đã từng hô hào chống lại trước kia giờ đây họ lại làm theo, nhưng tồi tệ hơn!
Không biết cần bao nhiêu thời gian để phục hồi, xây dựng lại là sự tàn phá về thiên nhiên-môi trường, về văn hóa, đạo đức xã hội, và về nhân cách, khí chất, lòng tự tôn của một dân tộc?
ĐCSVN đã bỏ qua rất nhiều cơ hội "vàng" để hòa giải hòa hợp thực sự với bên thua trận, với nhân dân, và để chuyển hóa thành một thể chế dân chủ đa đảng, hội nhập với xu hướng tiến bộ chung của thế giới.
Nghiêm trọng nhất là mối quan hệ bất xứng, thiệt thòi và nguy hiểm cho độc lập dân tộc của VN giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam-Trung Quốc trong suốt một thời gian dài, khiến Việt Nam phải liên tiếp trải qua hai cuộc chiến tranh khác là chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, mất đảo, lãnh thổ, lãnh hải, phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị, và luôn luôn đứng trước nguy cơ hiểm họa bành trướng của Trung Quốc.
Tất cả những điều đó đã làm cho nỗi đau tháng Tư vẫn không thể nguôi vơi trong lòng rất nhiều người dân Việt Nam như tôi.
Nhưng không thể cứ nhìn mãi về quá khứ, về những sai lầm, những cơ hội đã bị bỏ lỡ.
Nguồn hình ảnh, Getty ImagesMột lần nữa, như một sự trớ trêu của lịch sử, Việt Nam lại nằm trong khu vực sẽ trở nên sôi động nhất, "nóng" nhất trong tương lai gần, với sự đối đầu giữa hai phe, một bên là Hoa Kỳ và các nước đồng minh, bên kia là Trung Quốc vừa bắt tay với Nga, và có thể có thêm Iran, Bắc Hàn, cùng cạnh tranh khốc liệt để giành ảnh hưởng, vị trí trên toàn cầu.
Nhìn lại thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản-cộng sản, Việt Nam có học được bài học lịch sử để một lần nữa, không trở thành con tốt trên bàn cờ chính trị thế giới, hoặc lẻ loi đơn độc và cuối cùng buộc phải ngả vào sự kiềm tỏa của phe Trung-Nga, liệu có là câu hỏi chỉ dành riêng cho nhà cầm quyền, hay cho tất cả người dân?
Từ giữa thập niên 1970, thế giới đã chứng kiến làn sóng thứ ba của quá trình dân chủ hóa lần đầu tiên diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha, rồi một số quốc gia trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, ở Trung Âu và Đông Âu là những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã làm sụp đổ cả khối XHCN cũ.
Sống ở châu Âu nhưng tôi vẫn nhận thấy thật rõ thời gian gần đây một số quốc gia Á Đông tiếp tục có những chuyển động giữa một bầu không khí đang nóng lên trong toàn khu vực. Người dân Thái Lan đã đứng lên biểu tình chống lại chính phủ hiện tại và yêu cầu cải cách chế độ quân chủ, người dân Myanmar đang đổ máu từng ngày để đòi lại nền dân chủ non trẻ vừa bị quân đội thực hiện đảo chính và có nguy cơ trở lại với chế độ độc tài quân phiệt. Nhiều người đã bắt đầu nói đến một làn sóng dân chủ thứ tư sắp đến.
Chỉ có Việt Nam dường như vẫn đứng ngoài mọi biến động. Điều đáng buồn là người Việt, vốn đã chia rẽ vì nguyên nhân lịch sử, mấy năm vừa qua lại thêm chia rẽ vì bất đồng quan điểm khi nhận định về chính trị Mỹ, cộng với sự đàn áp ngày càng hà khắc của công an Việt Nam, khiến những tiếng nói đối lập, những hành vi phản kháng gần như chìm lắng hẳn.
Mỗi thế hệ suy cho cùng cũng chỉ có thể chịu trách nhiệm về những gì xảy ra trong thời của mình. Làm sao để Việt Nam không tiếp tục chịu số phận đi sai đường và thường xuyên bị nhỡ tàu, mà có thể hội nhập với thế giới tự do, để mai này đất nước, con người Việt Nam được "giải phóng" khỏi mọi sự kìm hãm và phát triển hết mức có thể; làm sao để 5, 10 năm nữa người Việt có thể thanh thản khi nhìn lại những trang sử cũ, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả Song Chi, ra đi từ Sài Gòn, tỵ nạn tại Na Uy và hiện sống ở Anh
Nguồn : https://www.bbc.com/vietnamese/world-56826374
Sunday, April 18, 2021
CHUYÊN GIA IBM TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM TRƯỚC 1975
![]() |
| Một quyển sách thuật lại giai đoạn IBM hiện diện trong cuộc chiến Việt Nam |
Trong nhiều tài liệu liên quan đề tài chiến tranh Việt Nam, có một
thông tin trước nay ít được đề cập. Đó là bộ máy kỹ thuật điện toán trong
guồng máy chiến tranh tại chiến trường Việt Nam, trong đó có chuyên
gia điện toán thuộc công ty IBM (International Business Machines).
Theo nguyệt san Vietnam (của giới cựu binh Mỹ), từ 1965-1973, có 250 kỹ thuật viên IBM làm việc tại Việt Nam tất cả đều tình nguyện. Họ trực thuộc quản lý của Bộ tư lệnh hỗ trợ quân sự Hoa Kỳ (MACV) tại Việt Nam. Khi cuộc chiến leo thang từ 1965-1968, hỗ trợ của bộ máy kỹ thuật phân tích dữ liệu càng cần thiết và do vậy không thể không có kỹ thuật viên điện toán, từ các căn cứ ở Long Bình, Biên Hòa, Cam Ranh, Nha Trang, Qui Nhơn và Đà Nẵng. Với chủ trương “điện toán hóa” cuộc chiến của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, hàng lô máy điện toán siêu mạnh thời điểm đó đã được chở sang Việt Nam, từ hệ thống Seek Data II, PIACCS và Igloo White lắp tại Tân Sơn Nhất đến thiết bị AUTODIN đặt tại trụ sở USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ).
![]() | |||
| Hệ thống máy tính IBM 360/65 của Quân đội Mỹ |
Đầu thập niên 1970, quân đội Mỹ tại Việt Nam đã tự hào có trong tay
vài cỗ máy điện toán mạnh nhất thế giới. Tất cả chuyên gia IBM đều độc thân
(điều kiện bắt buộc) và tuổi dưới 30. Họ được cấp thẻ đặc biệt để có thể
vào hầu hết vị trí bí mật, với trụ sở đặt tại số 115 đường Minh
Mạng (nay là đường Ngô Gia Tự, quận 10). Họ sống trong những căn nhà gần
đó. Thông tin từ văn phòng IBM-Sài Gòn được báo cáo cho văn phòng
IBM-Honolulu rồi được chuyển về Mỹ. MACV còn cung cấp cho chuyên gia IBM
một khu vực trước kia là văn phòng Hội Hồng Thập tự. Đó là một nông trại
thời Pháp với tường cao, cổng lớn và dây thép gai chằng quanh. Nơi này
trở thành văn phòng quản lý của IBM trong hơn 5 năm.
![]() |
| Tổng hành dinh MACV (nơi điều hành trực tiếp nhóm chuyên gia IBM tại Việt Nam) |
Thiết bị quan trọng nhất trong văn phòng là máy nhận tín hiệu vô tuyến Collins SSB và cột ăngten cực mạnh có thể truyền sóng khắp Việt Nam và sang tận Thái Lan. Collins SSB hoạt động 24/24. Chuyên gia IBM cũng làm việc 24/24, suốt bảy ngày trong tuần. Mạng Collins SSB làm việc tốt đến mức nó từng ít nhất một lần được không quân Mỹ sử dụng khi hệ thống liên lạc của họ bị hỏng. Qua hợp đồng làm việc cho quân đội Mỹ, IBM cũng tranh thủ móc được nhiều hợp đồng thuần túy thương mại với giới kinh doanh Việt Nam, đặc biệt các ông chủ ngân hàng trong Chợ Lớn.
Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên của Mỹ mà vấn đề xử lý dữ liệu được sử dụng tại tất cả bộ phận quân đội. Có hàng trăm trung tâm xử lý dữ liệu lớn nhỏ khắp Việt Nam và do đó nhiệm vụ chuyên gia IBM còn huấn luyện lính Mỹ lẫn lính VNCH cách sử dụng máy điện toán cũng như học các ngôn ngữ lập trình thời đó (COBOL, FORTRAN, PL/1) cũng như hệ điều hành 360 (Operating System/360), trong một hệ thống gọi chung là PIACCS (Pacific Interim Air Force Command and Control system – hệ thống quản lý và chỉ huy không quân chuyển tiếp Thái Bình Dương); và Seek Data II – công cụ tối quan trọng cho điều khiển chiến tranh không quân (thoạt đầu, hệ thống máy điện toán chỉ là bộ xử lý 1401 hoặc 1460 nhưng sau đó nâng cấp lên S/360 Model 40).
![]() |
| IBM 360/50 (trái) và IBM 360/40 (phải) – ảnh tư liệu |
Seek Data II có ba sứ mạng:
1/ Gửi lệnh tác chiến qua PIACCS để đến một căn cứ không quân cụ thể (mệnh lệnh gồm thời gian và địa điểm tấn công; loại máy bay sử dụng; thông tin về mục tiêu; yêu cầu về hậu cần…). Các mệnh lệnh này được lưu trong hệ thống 360/50, được điều chỉnh và gửi đi dựa theo thông tin tình báo.
2/ Ngoài ra, còn có CREST – hệ thống báo cáo chiến sự. Sau mỗi cuộc oanh tạc, phi công phải đệ trình kết quả cho trung tâm tình báo; kết quả này được PIACCS chuyển đến trung tâm xử lý thông tin tại căn cứ không quân Hickam (Hawaii) rồi toàn bộ được tổng hợp trong bản báo cáo chung đệ trình cho giới sĩ quan cấp cao để làm cơ sở cho kế hoạch tấn công kế tiếp.
3/ Cuối cùng, sứ mạng thứ ba của Seek Data II là quản lý không vận. Đây là kế hoạch điều phối hành quân qui mô về người lẫn khí cụ bằng không quân trên khắp chiến trường Đông Nam Á.
![]() |
| Máy IBM 360/40, máy quay băng 2401, máy in 1403 |
Được xem là một thành phần đặc biệt trong quân đội Mỹ, chuyên gia IBM tại Việt Nam cũng là những người đầu tiên thiết kế thành công “1403 Vietnamese print train” (dãy in tiếng Việt; giúp soạn và in văn bản bằng tiếng Việt có dấu), ứng dụng đầu tiên của bộ mã in tiếng Việt đã được sử dụng trong chương trình “Người cày có ruộng” của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (đó là lần đầu tiên mà toàn bộ ruộng đất Việt Nam được thống kê trong các cỗ máy tính IBM, bằng tiếng Việt).
![]() |
| Máy xuyên phiếu (key/card puch) với các người đẹp VNCH |
![]() |
| IBM 360/50 |
Thursday, April 8, 2021
Thursday, March 11, 2021
ÁO DÀI VIỆT NAM THĂNG TRẦM THEO MỆNH NƯỚC
Cũng theo truyền thuyết, khi ra trận đánh quân Hán, Hai Bà Trưng mặc áo dài mầu vàng. Hình ảnh này được ghi lại trên trang phục của các nữ sinh trường Trưng Vương và Gia Long đóng vai Hai Bà vào ngày lễ kỷ niệm hàng năm (VNCH: Ngày 6-2 Âm lịch). Theo Cư sĩ Trần Đại Sỹ khi viết về anh hùng Lĩnh Nam, đã ghi lại nhận định của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, sau khi Hai Bà trầm mình xuống Hát giang (40-43 AD), cũng như 12 vị công thần, dân làng đã tạc tượng và lập đền thờ. Trang phục của Hai Bà hẳn phải may giống như hồi sinh tiền. Sau này, các bà đồng hầu bóng đã may y phục dựa theo hình thức trên các tượng thờ Hai Bà.
Để ghi nhớ công ơn Hai Bà, Vua Tự Đức (Nguyễn Dực Tông, 1829-1883) có viết trong Khâm Định Việt Sử:
“Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dầy thẹn chết lắm ru!”
Theo lịch sử, ý đồ đô hộ các nước phía Nam được các triều đại Trung quốc thực hiện rất sớm. Với đường lối vừa di dân chiếm đất vừa ép buộc các dân tộc phương Nam phải theo nếp sống văn hóa của người Trung quốc. Việt Nam đã chịu dưới ách độ hộ của Trung Hoa trong 1000 năm Bắc thuộc.
Thời kỳ Bắc thuộc
Trong 1000 năm Bắc thuộc chia làm bốn giai đoạn, không liên tục vì bị quân dân của các triều đại nước Việt chống trả mãnh liệt:- Khởi đầu từ năm 207 trước Công Nguyên (BC), khi Triệu Đà tiêu diệt An Dương Vương và nước Âu Lạc, chia Âu Lạc thành 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Năm 39 sau Công Nguyên (AD), Bà Trưng Trắc và em là Trưng Nhị dấy binh giành được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.
- Bắc thuộc lần thứ hai: từ năm 43, nhà Hán sai Mã Viện mang quân sang đánh, Hai Bà bị thua nên trầm mình ở Hát giang. Thời kỳ này chấm dứt vào năm 541 khi Lý Bí khởi binh chống nhà Lương và thành lập nhà Tiền Lý và nước Vạn Xuân.
- Bắc thuộc lần thứ ba: từ năm 602, khi nhà Tùy mang quân đánh chiếm nước Vạn Xuân. Thời kỳ này chấm dứt vào năm 938, khi con rể của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền đem quân đánh tan quân Nam Hán và lập ra nhà Ngô, khởi đầu nền tự chủ kéo dài gần 400 năm.
- Bắc thuộc lần thứ tư: từ năm 1406 khi nhà Minh đem quân đánh chiếm và sáp nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung quốc. Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam Sơn, Thanh Hóa mở đầu triều đại mới nhà Hậu Lê và chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư vào năm 1427.
Thái Thú Sĩ Nhiếp (137-226) và một số trí thức đã hình thành chữ Nôm nhằm mục đích dễ đồng hóa người Việt, nhưng chính loại chữ này đã giúp Việt Nam tách khỏi hệ thống Hán ngữ của Trung Hoa.Các triều đại Trung Hoa không ngừng đồng hóa người Việt dưới nhiều hình thức. Chính sách đồng hóa của nhà Hán ngoài việc di dân xuống phương Nam, cho người Hoa sống chung với người Việt, lấy vợ Việt để xóa dần huyết thống dân tộc Việt. Việc truyền bá kinh Phật và văn hóa phương Bắc cho người Việt bản xứ như tư tưởng lễ giáo phong kiến của Trung Hoa qua Nho giáo của Khổng Tử, được Thái thú Sĩ Nhiếp du nhập vào Việt Nam năm 187, đã ảnh hưởng tới nếp sống văn hóa Việt trải dài nhiều thế hệ sau này. Thái Thú Sĩ Nhiếp (137-226) và một số trí thức đã hình thành chữ Nôm nhằm mục đích dễ đồng hóa người Việt, nhưng chính loại chữ này đã giúp Việt Nam tách khỏi hệ thống Hán ngữ của Trung Hoa.
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư (1406-1427) tuy không dài như ba thời kỳ trên, nhưng ý đồ đồng hóa dân tộc Việt của Trung quốc nghiêm trọng hơn. Nhà Minh mang về Trung quốc tài liệu sách vở, văn học, lịch sử, binh pháp… của người Việt và bắt người Việt phải rập khuôn theo người Trung quốc từ học hành đến cúng tế, nhất là về trang phục. Mở trường dậy học chỉ để tuyển chọn các nho sinh tuyển cống cho triều đình.
Mặc dù bị đô hộ, phải học tiếng Hán nhưng người Việt vẫn bảo tồn tiếng Việt và văn hóa Việt, giữ phong tục tập quán cổ truyền như tục lệ nhuộm răng đen, búi tóc…
Sau Bắc thuộc lần thứ tư, Việt Nam có khoảng thời gian gần 500 năm (1427-1883) tự chủ cho đến khi nhà Thanh công nhận chủ quyền của Pháp vào năm 1883, khởi đầu thời kỳ mà chúng ta thường gọi là “Thời kỳ Pháp thuộc”. Trong thời gian này, Việt Nam bị chia làm 3 kỳ trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp: Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộ. Nam kỳ là thuộc địa theo Hòa Ước Giáp Thân (1884) được ký kết giữa Pháp và nhà Nguyễn. Thực ra, tên gọi Bắc kỳ, Nam kỳ không do người Pháp đặt, mà tên vùng đất này đã có từ thời nhà Nguyễn, phía bắc Kinh đô gọi là Bắc kỳ, phía nam Kinh đô là Nam kỳ.
Về nền giáo dục Hán học, kể từ khi vua Lý Thánh Tông thành lập Quốc tử giám và mở khóa thi đầu tiên vào năm 1075, trong suốt 800 năm đã đào tạo nhiều danh nhân danh tướng, với 189 khoa thi Đình, 3021 Tiến sĩ và hàng chục ngàn cử nhân, Tú tài của các kỳ thi Hương. Các kỳ thi Hương được duy trì tới khoa Ất Mão (năm 1915) ở Bắc kỳ (trường thi Nam Định), và khoa Mậu Ngọ (năm 1918) ở Trung kỳ (trường thi Vinh). Khoa thi Đình vào năm Kỷ Mùi (1919). Các khoa thi trên đã chấm dứt vì không còn phù hợp với tình trạng xã hội lúc bấy giờ.
Thời kỳ Pháp thuộc
Việc hội nhập văn hóa Tây phương vào thời kỳ Pháp thuộc được dễ dàng là nhờ ở sự phổ biến của chữ quốc ngữ được La Tinh hóa do các giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý đã thực hiện trước đó, nhưng cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes: 1591-1660) là người đã đưa chữ quốc ngữ đến hoàn chỉnh vào năm 1651. Ông đến Hội An năm 1625, truyền giáo ở Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và ở Đàng Ngoài năm 1626 dưới thời chúa Trịnh Tráng.Năm 1651, cuốn từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latilum), dựa trên các ký tự của tiếng Việt ra đời, hiện được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha, đã đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ngoài công trình trên, tác phẩm “Phép giảng tám ngày (Catechismus)” viết bằng văn xuôi, có ghi lại cách phát âm của tiếng Việt vào thế kỷ 17, cũng được giáo sĩ Đắc Lộ biên soạn.
![]() |
Ngày 27-2-1902, tòa nhà chính của trường Y khoa Hà Nội được khởi công xây dựng tại ấp Thái Hà (Nam Đồng), trước ngày khánh thành Cầu Paul Doumer (Cầu Long Biên). Trường Y Khoa Hà Nội đã đào tạo những bác sĩ nổi tiếng, ngang tầm với các trường danh tiếng tại Pháp.
Hệ thống giáo dục phổ thông ngày càng phát triển, trường Bảo hộ (trường Bưởi) cũng như một số trường khác như trường Albert Sarraut và các trường nữ trung học như Trưng Vương, Đồng Khánh, Mary Curie… sau này, đã thay đổi cả về trang phục lẫn nếp sống theo Tây phương của tuổi trẻ tại Hà Nội. Chiếc áo dài mầu đen của nho sinh được thay thế bằng quần tây áo chemise mầu sắc sáng sủa và trang nhã hơn, đã thay đổi bộ mặt của thành phố Hà Nội.
Thời kỳ Cộng thuộc
Trong hơn một ngàn năm thăng trầm của đất nước dưới ách đô hộ của Bắc phương, số phận của chiếc áo dài đã bị cuốn lôi trong cơn lốc của lịch sử dân tộc. Ngày 2-9-1945, khi bóng cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại vườn hoa Ba Đình, Hồ Chí Minh người đứng đầu lực lượng Việt Minh, đọc diễn văn tuyên bố độc lập và danh hiệu “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” ra đời, đã khởi đầu cuộc chiến gọi là “chống Thực dân Phong kiến” kéo dài trong 30 năm chiến tranh đẫm máu. Thực ra, đây chỉ là một cuộc chiến người Việt giết người Việt theo lệnh của Quốc Tế Cộng sản.![]() |
Nhìn vào lịch sử, dân tộc chúng ta đã trải qua những thời kỳ dưới ách đô hộ ngoại bang, từ Bắc thuộc đến Pháp thuộc, tiếp theo là Cộng thuộc, đã nhận ra thời kỳ nào để lại trong tâm tư người Việt những dấu ấn đau thương nhất. Ngày xưa chỉ có Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống, còn bây giờ dưới thời Cộng thuộc, những kẻ bán nước cầu vinh không sao kể xiết.
![]() |
Mặc dù ảnh hưởng bởi văn hóa Tây phương, miền Nam thường giao tiếp với các quốc gia tự do, dân chủ trên thế giới, nhưng áo dài đã trở thành quốc phục được xử dụng trong ngày lễ Tết dưới chế độ VNCH. Nguyên thủ quốc gia vẫn xử dụng áo dài trong trường hợp tiếp đón ngoại giao hay thăm viếng các quốc gia bạn, như trường hợp Tổng thống Ngô Đình Diệm mặc quốc phục (áo dài khăn đóng) đón tiếp Vua Thái Lan. Vào những ngày lễ Tết cổ truyền, các viên chức cao cấp của VNCH luôn mặc áo dài truyền thống của dân tộc.
Áo dài nam không được phổ biến như áo dài nữ, chỉ còn xuất hiện trong lễ hội quan trọng mang đậm tinh thần dân tộc như lễ cưới, hay ngày Tết cổ truyền.
Khi miền Nam bị chiếm đoạt vào ngày 30-4-1975, tà áo dài một lần nữa lại theo chân người tỵ nạn tới các quốc gia không cộng sản. Những người ở lại Saigon đã chứng kiến cảnh đổi thay, nếp sống của người dân được rập khuôn thời tem phiếu sau năm 1954 của miền Bắc, đã tạo ra những cảnh cười ra nước mắt.
“Đói bụng đầu gối phải bò”, các sinh viên Saigon theo nhau tìm việc làm tại các công sở. Vì do Cục R “quản lý”, tại một số nơi coi như hái ra tiền, trang phục cán bộ nam nữ đa phần quần áo bộ đội hay quần đen áo trắng, tóc buộc đuôi gà, nhưng đặc biệt nhất là súng ngắn kè bên hông, vẻ mặt đằng đằng sát khí, lên mặt làm ra vẻ có quyền hành. Chiếc áo dài thường ngày của miền Nam không thấy xuất hiện, chỉ có những chiếc quần Jean, quần ống chân voi… còn lại trước đây được xử dụng hàng ngày, đã trở thành những cái gai trước mắt người cán bộ cộng sản.
Tại thành phố Saigon, đã xuất hiện nhiều địa điểm với đám cán bộ sẵn sàng dụng cụ, cắt xén những ống quần loe “chân voi” hay “hớt” một đường tông-đơ trên đỉnh đầu của những thanh thiếu niên tóc dài, để thực hiện theo “nếp sống văn hóa mới”…
Nhưng chỉ ít lâu sau trang phục của đám cán bộ đã thay đổi để hợp với thời trang, trước nhất là về phía phụ nữ, cũng quần tây áo sơ-mi, đặc biệt là mái tóc uốn quăn đã thay thế lọn tóc buộc đuôi gà. Đã bỏ dần đôi dép râu (làm bằng vỏ bánh xe hơi) để thay thế bằng đôi guốc cao gót, đôi giầy đúng kiểu của miền Nam. Đã thấy lấp lánh những chiếc nhẫn kim cương trên tay, đồng hồ và giây chuyền vàng cùng các thứ nữ trang lỉnh kỉnh khác, hình ảnh của đời sống tư hữu. Đàn ông với mái tóc dài hơn, như để xóa đi vết hằn sau nhiều năm nằm võng tại các cứ điểm trong rừng.
Tình trạng này giống như khi quân Mộng cổ chiếm Trung Nguyên hay đội quân La Mã vào Hy Lạp, trước sau gì kẻ đi xâm lăng cũng bị đồng hóa bởi nền văn minh của người bản xứ.
Trở lại trang phục áo dài, không ai biết xuất hiện vào thời kỳ nào. Theo tài liệu, trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài ngàn năm có khắc hình người với trang phục áo dài hai tà áo xẻ.
Theo Sử gia Đào Duy Anh ghi lại:
"Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách chép đó thì ta có thể đoán rằng trước hồi Bắc thuộc dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung quốc mới mặc áo gài về tay phải." (Việt nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh).
Mặc dầu trong cuộc sống chung và bắt chước theo người ngoại quốc, nhưng tổ tiên ta vẫn duy trì nét đặc thù của nền văn hóa, không đánh mất bản sắc dân tộc. Người Việt Nam, chúng ta hãnh diện về chiếc áo dài, được trang trọng nâng lên ngôi vị quốc phục.
![]() |
Ngoài đồng ruộng hay tại các buổi chợ, người phụ nữ mặc áo tứ thân mầu nâu non, nâu gụ, mặc với váy vải thô nhuộm bùn. Nhưng trong các dịp hội hè đình đám cưới hỏi, áo tứ thân được may bằng hàng the, nhiễu, lụa… mặc bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm, phủ lên chiếc váy lĩnh hay váy sồi, với chiếc thắt lưng mầu cánh chả, lưng đeo bộ xà tích bạc…
Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phía Nam, đất nước thịnh trị bình yên. Chúa Nguyễn xưng Vương hiệu là Vũ Vương, đã chú trọng về cải cách xã hội, phong tục mà quan trọng hơn cả là cải cách về trang phục. Mặc dù đã tổ chức cơ chế chính trị, hành chánh, xã hội có kỷ cương nhưng chưa có quốc hiệu. Người ngoại quốc tới buôn bán tại cửa Hội An thường gọi là “Quảng Nam Quốc”.
Do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc, Vũ Vương hiệu dụ:
“Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cõi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu còn người mặc quần áo theo kiểu người 'khách trú' thì nên đổi theo thể chế nước nhà. Đổi thay y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa. Duy có quan chức thì mới cho dùng xen, the, trừu, đoạn. Còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được theo thói cũ dùng càn…”
Để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng biệt trước làn sóng người Minh Hương tới cư ngụ, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) ban hành sắc dụ về cách ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành. Trong sắc dụ đó, lần đầu tiên chiếc áo dài Việt Nam được định hình như sau:
“Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo từ hai bên nách trở xuống phải khâu kín, không được xẻ mở. Đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn, ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép.” (Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên).
Áo “Tứ thân” thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù, gánh gồng tháo vát. Nhưng với phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài phù hợp với nếp sống nơi đô hội, gia tăng dáng vẻ trang trọng khuê các, cũng như gột bỏ bớt hình ảnh chân lấm tay bùn nơi đồng ruộng.
Do dó, vào thời Vua Gia Long (1802-1819), để thay thế cho áo tứ thân, chiếc áo Ngũ thân ra đời, đã được giới quyền quý và dân thị thành nồng nhiệt đón nhận. Qua cấu trúc của chiếc áo dài ngũ thân, chẳng những là một tác phẩm nghệ thuật, nhưng trong đó còn ẩn tàng ý nghĩa dạy dỗ đạo làm người.
![]() |
Áo “Ngũ thân” phía trước có hai thân , dưới nửa vạt trước phía bên phải có thêm một vạt cụt (vạt chéo), có tác dụng như một cái yếm che ngực, không để lộ áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (trước sau có 4 thân). Theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành của triết học Đông phương, 4 thân áo tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, vạt nhỏ nằm dưới vạt trước tượng trưng cho người mặc áo, hai thân trước mang hình ảnh cha mẹ rang rộng vòng tay ôm đứa con ngoan vào lòng. Vạt con nối với hai thân trước nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ 5 chiếc khuy để giữ cho chiếc áo được ngay ngắn. Năm khuy áo tượng trưng cho quan điểm Ngũ Thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Theo sử gia Đào Duy Anh:
“Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế đã ra chiếu chỉ cấm phụ nữ mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống (thay vì mặc váy như trước đây), nhưng chỉ có những người ở thành thị tuân theo, còn ở vùng quê đàn bà vẫn mặc váy”.
Sách Vũ Trung Tùy bút có ghi:
“Đời xưa học trò và người thường, khi có việc công thì mặc áo xanh lam (thanh cát), lúc thường thì mặc áo mầu thâm (chuy y), người làm lụng thì mặc áo mầu sừng (cú sắc). Từ đời Lê về sau ít khi dùng mầu trắng. Như chúng ta thường thấy vào thời gian sau này, các quan hay mặc áo xanh lam, còn học trò, viên chức…thường dùng mầu xám hay đen, người vùng quê thường dùng mầu nâu, người giầu sang thì mặc the, lụa, gấm vóc, còn người nghèo thì dùng vải thô.”
![]() |
Hình dạng chiếc yếm thay đổi, mang hình dáng một hình vuông nằm phía trước ngực. Góc trên được khoét tròn có hai giây buộc sau cổ, hai góc vải hai bên có giây buộc phía sau lưng, để lộ phần lưng thắt đáy như lưng ong, vừa kín đáo nhưng cũng tăng vẻ khêu gợi. Mùa hè trời nóng bức, áo yếm xử dụng trong nhà, mặc thêm áo cánh khi ra ngoài. Sự xuất hiện chiếc yếm được ca tụng, tôn vinh cái “lưng ong”, nét đẹp của phụ nữ trong văn hóa Việt Nam. Theo phong tục cổ xưa, người thiếu nữ phải có cái lưng ong (thắt đáy lưng ong), không chỉ mang vẻ đẹp thân hình mà còn thể hiện đức hạnh cần thiết cho gia đình. Hình ảnh này đã đi vào ca dao:
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Nét đẹp của chiếc yếm đã xuất hiện trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương:
Yếm đào trễ xuống dước nương long
Đôi gò bồng đảo hương còn ngậm
……..
Một hình ảnh vừa kín đáo để bảo vệ thuần phong mỹ tục nhưng cũng tăng thêm vẻ đẹp khêu gợi, mời gọi của người phụ nữ. Nét đẹp của áo yếm đã hiện diện trong thi ca của văn hóa dân tộc.
Tác giả Nguyễn Nhược Pháp đã giữ lại hình ảnh chiếc yếm trong bài Chùa Hương, thiên ký sự về một thiếu nữ, với ý thơ:
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy.
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Lưng đeo dải yếm đào
………
Chiếc áo yếm cũng níu kéo, làm ngẩn ngơ những cặp mắt của thi nhân:
Sao không thả lỏng để anh nhờ
Rắc rối cho đời thêm cái gút
Gỡ mãi xuân tàn tóc bạc phơ.
Yếm cũng trở thành hình thức diễn tả tình yêu của gái trai:
Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu
Mồng tơi chẳng bắc được cầu
Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang
Theo bước chân của chiếc áo dài, áo yếm cũng không ngừng thay đổi, cổ yếm được thả sâu xuống đã tăng thêm vẻ đẹp quyến rũ của phụ nữ. Sang thế kỷ 20, yếm càng được cải tiến để đáp ứng nhu cầu điểm tô nét đẹp cũng như trang phục phụ nữ theo kiểu tây phương.
Đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị thường may theo kiểu Ngũ thân. Hai thân trước cũng như 2 thân sau khâu dính với nhau theo sống áo, tay áo nối phía dưới khửu tay (vì thời đó khổ vải chỉ rộng 40cm). Phần nhiều áo dài ngày xưa đều có lớp lót. Lớp áo trong thấm mồ hôi nên thường được may bằng vải trắng để không bị hoen ố.
![]() |
| Áo dài "Le Mur" |
Vào thập niên 1930, xuất hiện áo dài “Le Mur” (cổ cao, không có eo) của họa sĩ Cát Tường (Nhà may Cát Tường, phố Hàng Da, Hà Nội) đã biến đổi chiếc áo “Tứ thân” thành hai vạt, trước và sau (do khổ vải đã dệt rộng hơn trước).
Vạt trước được họa sĩ thả dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi, và thân trên may ôm sát theo đường cong cơ thể người mặc, tạo nên vẻ yêu kiều, gợi cảm…Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến đổi như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc hở cổ, mà nhiều người thời đó không mấy thiện cảm vì cho là quá “lai căng”, mất đi tính chất dân tộc.
Cùng thời gian này, bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu trưởng của một trường nữ trung học Hà Nội, đã thêm một chút biến đổi cho chiếc áo dài, cho nhấn eo chiếc áo ôm sát thân hình của người mặc để tăng phần duyên dáng.
Năm 1934, họa sĩ Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm những yếu tố dân tộc từ áo tứ thân và ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài mang nét cổ kính, ôm sát người trong khi hai tà áo tự do bay lượn. Sự dung hợp hài hòa cũ và mới này được nữ giới rất ưa chuộng.
![]() |
Một số nhà phê bình phương Tây cho rằng kiểu áo này chỉ thích hợp với thời tiết nhiệt đới của miền Nam Việt Nam, nhưng những người theo phong tục cổ cho rằng nó không hợp với thuần phong mỹ tục của nước nhà. Loại áo dài không có cổ này vẫn còn phổ biến đến ngày nay, và phần cổ áo được khoét sâu hơn bản gốc, để tăng thêm vẻ đẹp của thân hình người mặc.
Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam dù trải qua bao thay đổi, sau nhiều lần canh tân, hình dạng căn bản của chiếc áo dài vẫn được giữ nguyên. Đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung ở Đakao đưa ra kiểu áo dài mới, áo dài tay Raglan mặc với quần xéo.
Tay và vai áo nối xéo góc 45 độ, nên tránh được những đường nhăn hai bên sườn và vai áo. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, nhất là phần mông, để áo ôm theo thân dáng. Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống quần dài qua mắt cá chân, giúp cho nữ giới thêm tha thướt mỗi bước chân.
Đến gần cuối thập niên 60, sau áo dài raglan là áo mini raglan. Vạt áo may ngắn, có khi đến đầu gối. Áo may rộng hơn, không chít eo, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể. Cổ áo hạ thấp xuống còn 3cm, tay áo cũng được may rộng ra. Kiểu mini raglan được giới nữ sinh Sài Gòn nhiệt liệt tán thưởng (cho tới ngày 30-4-1975).
Vào thời gian này, một số nhà may Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo 3 tà, gồm một vạt sau và hai vạt trước. Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống thắt lưng. Áo ba tà thường được mặc với quần “chân voi”. Kiểu áo này không được ưa chuộng vì không thích hợp với bản chất dịu dàng của phụ nữ Việt Nam.
Sau nhiều lần thay đổi, chiếc áo dài trở thành một tác phẩm tuyệt vời, một nét độc đáo của y phục phụ nữ Việt Nam. Tại hội chợ quốc tế Osaka (Nhật Bản) năm 1970, chiếc áo dài đã mang lại vinh dự cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa. Khách quốc tế đã nhiệt liệt thán phục trước tà áo bay lả lơi theo gió. Khách bình phẩm:
- “Hơi mỏng!”
- “Nhưng rất kín đáo. Đủ sức che mắt thánh!”
Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm cũng hãnh diện về chiếc áo dài tại hội chợ, nên có nhận xét:
- “Nó có sức chở gió đi theo.”
Chiếc áo dài hiển nhiên là một loại “quốc phục”. Khách đến thăm, chủ nhà trịnh trọng mặc chiếc áo dài để tiếp đón. Tại học đường nó là chiếc áo học trò ngây thơ, trong trắng. Một chiếc khăn vành, một chiếc áo choàng phía ngoài sẽ trở thành một bộ y phục cho cô dâu bước lên xe hoa. Trong các buổi tiệc, chiếc áo dài Việt Nam vẫn luôn lộng lẫy, thu hút nhiều cặp mắt.
Hình ảnh người con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống, đã được nhiều nghệ sĩ ghi lại trong thơ và nhạc. Nhà thơ Nguyên Sa đã nặng tình với vẻ đẹp áo dài trong bài thơ “Áo lụa Hà Đông” được phổ nhạc:
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng…
Xuân Diệu đã trải lòng mình với tà áo lụa:
Đã gói hồn tôi suốt trọn đời…
Sau 40 năm dưới chế độ công sản, xã hội đã biến đổi về mọi mặt, xóa tan nếp sống văn hóa truyền thống dân tộc của miền Nam, du nhập một thứ văn hóa nửa vời chạy theo lợi nhuận, khiến đất nước ngày càng tụt hậu. Chiếc áo dài Việt Nam đã gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc. Trên đường lưu vong, bất cứ nơi nào trên thế giới, chiếc áo dài luôn được nâng niu, gìn giữ. Phụ nữ Việt Nam đã biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc áo dài.
Áo dài Việt Nam vừa ôm sát đường cong tuyệt mỹ của thân người, mà cũng điểm tô thêm sự linh động, nét quyến rũ của người mặc. Tà áo uyển chuyển theo gió giúp cho một thân hình dù nặng nề cũng tăng vẻ dịu dàng. Áo dài phụ nữ Việt Nam khác với trang phục của một số nước Á Châu. Áo Xường Xám có thể may sẵn hàng loạt nên khó tạo nên vẻ đẹp riêng của mỗi người, còn chiếc áo Kimono, với nhiều lớp vải mầu sắc lộng lẫy, đã làm mất phần nào nét đẹp thiên nhiên uyển chuyển của thân hình phụ nữ. Cũng giống như áo Xường Xám, áo Kimono được may sẵn nên khó ôm sát thân hình.
Trang phục là biểu tượng của văn hóa, là niềm tự hào của dân tộc, nhưng không phải vì thế mà xóa bỏ sắc đẹp tự nhiên của con người. Ta có thể nói, chỉ có áo dài Việt Nam mới thể hiện được sự hòa hợp giữa người và áo, là sự dung hòa giữa tự nhiên và văn hóa.
Phần trên của áo phô bầy sức sống tràn đầy, niềm khát khao của đời sống con người, thì phần dưới của áo hòa lẫn với gió, đã tạo nên một vẻ đẹp êm đềm, thanh thoát. Ta có thể diễn tả, chiếc áo dài đã tăng thêm nét diễm kiều của người mặc, và người mặc đã giúp cho áo có hồn.
Khác với y phục của các quốc gia trong vùng, áo dài Việt Nam không thể may sẵn hàng loạt bầy bán như những loại quần áo khác. Mỗi mảnh áo tạo ra được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng đường nét thủ công, là một công trình nghệ thuật. Chiếc áo dài chỉ thích hợp với thân hình phụ nữ Việt Nam, vừa kín đáo e ấp, vừa khêu gợi trữ tình.
Bà James Sterson, một sứ giả người Mỹ đã nhận định: “không một nước nào có một trang phục dân tộc vừa đẹp, đậm nét truyền thống mà lại có chiều sâu văn hóa như áo dài Việt nam.”
Ta có thể nói:
Bất cứ người mẫu nào của các quốc gia trên thế giới, cũng không diễn tả được nét mềm mại của tà áo dài phụ nữ Việt Nam, một sản phẩm chỉ dành riêng cho người Việt, đã mang theo hồn dân tộc Việt.
Với ước vọng trở lại nét đẹp của tà áo dài, một biểu tượng của dân tộc, ngày 13-1-2016, Giám đốc sở GD-ĐT thành phố HCM Lê Hồng Sơn, đã ký văn bản gửi tới Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông để khuyến khích nữ học sinh mặc áo dài.
“Cũng kể từ ngày 5-3-2016, một Lễ hội Áo dài do UBND thành phố HCM tổ chức, với chủ đề 'Thành phố HCM - Thành phố áo dài' trong thời gian từ 5-3 đến 19-3-2016. Bắt đầu từ 1-3 đến 31-3-2016, thành phố sẽ vận động người dân mặc áo dài trong sinh hoạt đời thường…”
Đây chỉ là một việc làm cho có, tốn phí tiền thuế của người dân phải oằn lưng đóng góp, mà kết quả đưa tới sẽ giống như công trình “Ngàn năm Thăng Long” tại Hà Nội, cũng chỉ là việc làm đầu voi đuôi chuột, một dịp cho các quan lớn “vừa được tiếng lại có miếng”.
Liệu các nữ sinh với chiếc xe đạp có thể an toàn vượt qua con đường, dù chỉ là đường nhỏ hẹp, người và xe đông như kiến, trong một xã hội bất ổn vì đám công an giao thông tìm mọi cách kiếm tiền, không kể thành phần cướp giật của xã hội đen thường gây ra tai nạn.
Liệu tinh thần các em có thể thoải mái trong cuộc sống phải vật lộn để có ngày hai bữa ăn, trong lúc tiền học chiếm một khoản lớn trong ngân quỹ gia đình. Liệu tà áo dài học sinh có thể bay lượn trong khung cảnh đời sống như hiện tại.
Để trở lại khung cảnh của tà áo dài trước ngày 30-4-1975 của Việt Nam Cộng Hòa, nơi tà áo được ấp ủ yêu thương, một nhu cầu không thể thiếu của người phụ nữ trong sinh hoạt thường ngày. Điểm quan trọng của nếp sống ấy, đòi hỏi một xã hội phải trật tự, quyền tư hữu cũng như quyền căn bản của người dân phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo đảm.
Ước mong trở lại nếp sống hài hòa, Tự do Dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 30-4-1975, vẫn chỉ là một giấc mơ.
Vì “chế độ nào thì xã hội đó”.
Hình ảnh sưu tầm trên internet
























