Phi cơ. C-47
được trang bị với một khu vực phía sau đủ lớn để chứa một chiếc xe jeep và được tăng cường một hầm chứa hàng. Chuyến bay đầu tiên của C-47 là vào 23 tháng 12 năm 1941, ngay sau khi Mỹ sản xuất vào Thế chiến II. Douglas cung cấp một chuyển đổi vào cuối năm 1940 để cải thiện hiệu suất cất cánh và động cơ để tăng tốc độ.
Đối
với các cuộc chiến tranh Đông Dương, C-47 tiếp tục nhiệm vụ vận chuyển,
nhưng đã vào nhiệm vụ bổ sung, chẳng hạn như trinh sát điện tử
và phi cơ chiến đấu. Các phi cơ trinh sát điện tử này có ba loại, EC-47N, EC-47P và EC-47Q. Bên trong phi cơ trang
bị các máy móc điện tử
để truy tầm và kiểm thính các máy truyền tin của địch quân, và
đặc biệt là để truy tầm và
định vị các máy phát tín hiệu
của địch quân thường được
gọi tắt là ARDF (airborne radio direction finding),
vấn đề này rất quan trọng vì máy phát
tín hiệu thường là bên cạnh các
vị chỉ huy các đơn vị tác chiến
ngay tại chiến trường. Sau khi xác
định được đường kính
của khu vực mục tiêu (khoàng 300 m), các
oanh tạc cơ (có khi là cả phi cơ B-52)
sẽ được gọi đến để thanh
toán mục tiêu
Navigator C-12 compass, swiches and dials ALR-34/35 Systems Navigator console after 1968
Nó
phải được hiểu rằng ARDF được định vị các máy phát vô tuyến, được
cho là gần với một chỉ huy chiến thuật và lực lượng của mình. Đối với hầu hết các phần, EC-47 nhắm mục tiêu truyền thông tần số cao
thấp được hỗ trợ mà cũng thường xuyên được sử dụng bởi quân đội Bắc Việt
và các đơn vị kẻ thù khác. Phi cơ không vũ trang và hộ tống. chỉ có 16
trái khói ở sau đuôi đề chống
hỏa tiển tầm nhiệt SA7; Bay một mình trong một khu vực mục tiêu lớn Chiếc phi cơ bay chậm, vào khoảng 100-120 hải lý. Nó thường bay vào khoảng 10.000 ft. Nhưng sẽ phải thay đổi độ cao của mình tùy thuộc vào thời tiết. Nó có thể được hạ xuống 5-8,000 ft. Hoặc lên đến độ cao 12.000 ft.
Antennas
EC-47 Skyktrain
360th Tactical Electronic Warfare Squadron 8 April 1966 - 31 August 1971 (EC-47N/P/Q Tail Code: AJ)
Deployed from 1st Air Commando Wing, England AFB, Louisiana.
Reassigned to 1st Air Commando Wing, Hurlburt Field, Florida
361st Tactical Electronic Warfare Squadron 8 April 1966 - 31 August 1971 (EC-47N/P/Q Tail Code: AL) (Nha Trang AB)
Deployed from 1st Air Commando Wing, England AFB, Louisiana.
Inactivate
362d Tactical Electronic Warfare Squadron 1 February 1967 - 31 August 1971 (EC-47N/P/Q Tail Code: AN) (Pleiku AB)
Deployed from 1st Air Commando Wing, England AFB, Louisiana.
Hoạt động của Phi đội tác chiến điện tử chiến thuật (TEWS) hỗ trợ cho Combat Cougar (tìm kiếm hướng phát thanh trên không) sử dụng EC-47 được trang bị đặc biệt cho nhiệm vụ. Một nhiệm vụ được điều khiển bởi các phi đội chiến tranh điện tử chiến thuật 360, 361, 362 và các phi đội an ninh 6994.Một nhiệm vụ thu thập thông tin và tìm kiếm hướng phát thanh trên không. Bộ phim này phác thảo các nhiệm vụ đánh chặn và định vị vô tuyến của Phi đội an ninh 6990 của USAF, có nhiệm vụ tương tự như các nhiệm vụ của Nhóm nghiên cứu vô tuyến 509 của Quân đội, Phi đoàn 224 (RR).
Các Phi Ðoàn này là đơn vị của Không Ðoàn 33 thuộc Sư
Ðoàn 5 Không Quân đóng tại căn cứ Tân Sơn Nhứt. Phi Ðoàn 716 có 5
chiếc phi cơ U-6A, và Phi Ðoàn 718 có 36 chiếc phi cơ EC-47.
PHI ĐOÀN 716 HOÀNG LONG
Phi đoàn Quan sát và Trắc giác
VNAF U6
Phi Ðoàn 716 sử dụng phi cơ U-6A Beaver
là một kiểu đã được
thiết kế lại của phi cơ quan sát L-20
của hãng de Havilland (Canada) như trong hình sau
đây:
Phi cơ U-6A
Beaver
Phi cơ U-6A Beaver mang những
đặc tính như sau:
Phi cơ U.6A (L20) có mặt trên chiến trường Việt Nam từ năm 1958. Vào
khoảng đầu năm 1965, phi cơ U.6A (L20) được thu hồi để trang bị
cho hai Phi Ðoàn Trinh Sát 716 và 718 (Reconnaissance Squadron) và hai
Phi Ðoàn Liên Lạc 312 và 314 ở TSN, (Các Phi Ðoàn 312, 314 được Mỹ gọi
là Special Missions Squadron, hay còn gọi là Phi Ðoàn VIP). · U.6A (L20): Vừa liên lạc vừa có thể cải biến để phóng thanh và rãi
truyền đơn chiêu hồi, gọi chung là nhiệm vụ Tâm lý chiến,
(Psychological Warfair, Psywar).
Ðặc biệt, L20 hay U.6A (và U.17) còn đảm trách nhiệm vụ trắc giác.
Ðây là nhiệm vụ khó khăn và rất mật (secret), do chính Phòng 7 Bộ Tổng
Tham Mưu chỉ huy. Trắc giác là làm sao tìm vị trí của các đài phát sóng
của địch để tiêu diệt chúng. Ðây là một nhiệm vụ “tình báo điện tử”. Phi
cơ EC-47 thuộc SÐ 5 KQ trước kia, được dùng để điều chỉnh các beacon
(vô tuyến đăng) như radio compass chẳng hạn, nhiệm vụ đó tuy cũng khó
khăn nhưng không mật như trắc giác.
Hảng sản xuất : de Havilland Aircraf of Canada Ltd. Ðộng cơ Pratt
& Whitney R-985-AN, 450 hp. Sải cánh 48 ft (14.63m), chiều dài 30 ft
4 in (9.24m), chiều cao 10 ft 5in (3.17 m). Tốc độ 156 knots (288 km/h;
180 mph). Bay cao 20,000 ft (6096 m). Tầm hoạt động 600 mi (965 km).
Trọng tải 7 người hay 1000 lb (453 kg). Trọng lượng tối đa lúc cất cánh
4820 lb (2186 kg)
Anh NGUYỄN VĂN XUÂN Biệt đội 7 KTĐB với chiếc U- 6A tại phi trường dã chiến căn cứ Đồng tâm Sư đoàn 7 Bộ binh
U 6 A
EC 47 D
PHI ĐOÀN 718 THIÊN LONG
Phi đoàn 718 EC-47 "Thiên Long" được thành lập tại Tân Sơn Nhứt vào tháng 8/1972, một phi đoàn hoạt động trong thầm
lặng, và hầu hết các đơn vị khác trong Không Lực VNCH không biết gì về
những hoạt động của Phi Đoàn 718.
Chương trình EC 47 được bí mật thành
lập từ 1965-1966 để cung cấp tin tức tình báo cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ
mà sự bí mật được vén màn trước khi Hoa kỳ rút chân khỏi chiến trường
Việt Nam. Tại miền Nam Việt Nam, Phi Đoàn 360th TEWS đóng tại phi trường
Tân Sơn Nhứt, Phi Đoàn 362nd TEWS đóng tại phi trường Nha Trang sau dời
ra Đà Nẵng.
Trong năm 1971, để chuẩn bị chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, để
bàn giao phi cơ EC47 cho Không Lực VNCH nhóm phi hành đầu tiên gồm 6
điều hành viên (Navigator) dưới sự chỉ huy của Đại Úy Nguyễn Văn Thắng
đến xuyên huấn tại Phi Đoàn 360th TEWS để trở thành huấn luyện viên
tháng 12-1971.
Tháng 4-1972 một số hoa tiêu tốt nghiệp tại Hoa Kỳ và nhiều Trưởng Phi
Cơ và Cơ Phi các phi đoàn vận tải 314, 415 và 819 Hỏa Long được tuyển
chọn sang Phi Đoàn 360th TEWS để xác định hành quân dưới sự chỉ huy của
Thiếu Tá Nguyễn Hữu Bách.
Năm 1973 Phi Đoàn Thiên Long 718 chánh thức hoạt động dưới danh nghĩa
Không Lực VNCH, Hoa Kỳ bàn giao trọng trách cho Phi Đoàn này, chỉ còn
Phi Đoàn 361th TEWS, đóng tại Utapao, Thái Lan trách nhiệm dọc theo biên
giới Tam Biên.
Phi Ðoàn 718 EC-47 Không Thám Ðiện Tử chánh thức thành lập tại căn cứ
Không Quân Tân Sơn Nhứt và hoạt động trực tiếp Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu
cho đến tàn cuộc chiến. Tổ chức đầu não của Phi Ðoàn 718 gồm có:
-Phi đoàn trưởng: Trung Tá Nguyễn Hữu Bách
- Phi đoàn phó:Thiếu Tá Phan Văn Lộc
- Phụ trách Ðiều Hành Viên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Thắng.
Phi Đoàn 718 EC-47 Không Thám Điện Tử không những là một phi đoàn tác
chiến mà là một phi đoàn có quân số lớn nhất với hơn 500 quân nhân các
cấp và 36 phi cơ EC-47 được trang bị với hệ thống ALR-34. Phi hành đoàn
âm thầm thi hành nhiệm vụ, không bao giờ tiết lộ việc hành quân kể cả
người thân. Nhân viên Phi Đoàn 718 phải qua máy nói sự thật (Polygragh
test) và tuân theo những luật lệ đặc biệt như phải giữ bí mật về hoạt
động và nhất là không được chụp ảnh của phi cơ bất luận bên trong hay
bên ngòai. Vì lý do nầy hình ảnh hoạt động của Phi Đoàn 718 rất hiếm.
Dưới mắt ngườì ngoài, mỗi chuyến bay chỉ là một phi vụ C47 vận tải. Phi
cơ không trang bị vũ khí ngọai trừ máy móc điện tử bên trong và 16 trái
flare ở sau đuôi để chống hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Phi vụ có vẻ rất yên
bình, thực ra rất nguy hiểm vì phi cơ phải bay lượn trên vùng địch trong
một thờì gian dài, trung bình 3 giờ đến 5 giờ. Khi Hiệu Thính Viên Đơn
vị 17 khám phá ra mục tiêu, phi cơ phảì lại gần để chấm tọa độ thông
thường ở trên những họng súng phòng không hoặc SA7.
Tùy theo nhu cầu chiến trường có hai loạì phi vụ khác nhau.
- Phi vụ ưu tiên 1 hay là search and destroy mission. Sau khi xác định
bán kính của mục tiêu chừng 300 m oanh tạc cơ được gọi đến thanh toán
thông thường là F4 của USAF, đôì khi cả B52. Sau ngày Mỹ rút quân phi vụ
ưu tiên 1 không còn search and destroy nữa, tin tức nhận được lập tức
chuyển xuống cho Bộ chỉ huy hành quân các vùng chiến thuật.
- Phi vụ hàng ngày (Routine mission) thông thường là để theo dõi sự
chuyển quân của địch và các dự kiện gởì về Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu.
Từ ngày thành lập đến tháng 4.1975, có tất cả 3 phi vụ đều cùng mang phi
vụ Thiên Long 13 và cùng bay trên vùng trời biên giới Việt Miên đã lâm
nạn.
- Chiếc đầu tiên vào ngày 26-10-1973, do Trưởng Phi Cơ Tr/Úy Lăng Đức
Triều và Hoa Tiêu phó Th/Úy Trần Văn Vân điều khiển, đã trúng đạn phòng
không bên máy cánh phải, phải bay về phi trường TSN bằng một máy, đáp
khẩn cấp bằng bụng. Kết quả Trưởng Phi Cơ bị tử nạn, riêng Hoa Tiêu phó
Th/Úy Trần Văn Vân bị thương nặng, tưởng đã chết, đưa vào nhà xác sau
nhờ Th/Tá Phi Đoàn Phó Phan Văn Lộc phát giác đem từ nhà xác ra cứu sống
trong tình trạng “thập tử nhất sinh”.
- Chiếc phi cơ thứ hai có tail code là WR 0013, phi vụ 0913 vào ngày
9-5-1974 cất cánh từ phi trường TSN lúc 13:00 hoạt động tại vùng Mỏ Vẹt,
Tây Ninh bị phòng không của địch bắn trúng cánh trái. Nhờ vào sự bình
tỉnh và kinh nghiệm của phi hành đoàn gồm có Trung Úy Nguyễn Ngọc Oanh -
Trưởng Phi Cơ, Trung Úy Đoàn Văn Nô - Hoa Tiêu và Trung Úy Lê Thước-
Điều Hành Viên đã về đáp khẩn cấp an toàn tại phi trường Tây Ninh, nhưng
phi cơ bị gãy cánh trái và xác chiếc phi cơ nầy đã để lại phi trường
Tây Ninh sau khi chuyên viên tháo gỡ các máy móc điện tử trên tàu.
- Sự mất mát lớn lao của Phi Đoàn Thiên Long 718 là trong phi vụ Thiên
Long 13 ngày 13-5-1974 bị trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 bắn rơi trên vùng
trời Tây Ninh, gần núi Bà Đen và Mỏ Vẹt. Phi vụ nghiệt ngã và đau
thương này cũng mang số phi vụ 13, phi cơ mang “tail code” WT 0019 cất
cánh từ phi trường TSN lúc 13:00, ngoại trừ điều hành viên là Th/Úy
Trương Tử Ân nhảy dù sống sót và bị địch bắt giữ làm tù binh, phi hành
đoàn còn lại đều bị tử nạn. Th/Úy Ân bị dẫn bộ đưa ra Bắc ngày
19-7-1974 và được trả về Nam vào khoảng năm 1982.
EC 47
Tóm lại, các hoạt động của Phi đoàn Thiên Long 718 là hoạt động tình
báo, bí mật không phải ai cũng biết. Dù trưởng thành trong một thời gian
quá ngắn, Phi Ðoàn 718 EC-47 Không Thám Ðiện Tử đã tích cực đóng góp
tin tức tình báo cho và các chiến trường, khám phá và hủy diệt nhiều mục
tiêu địch rất hữu hiệu.
"...For the Indochina war, the C-47 continued her transport duties but
took on additional missions, such as electronic reconnaissance and
gunship. The electronic reconnaissance aircraft came in three styles,
the EC-47N, EC-47P and EC-47Q. Their mission was to collect
communications intelligence (COMINT) by intercepting enemy
communications and conduct airborne radio direction finding (ARDF)
against those communications to locate the enemy. It must be understood
that the ARDF was locating the communications transmitter, which was
thought to be close to a tactical commander and his forces. For the most
part, the EC-47s targeted low powered high frequency communications
which were routinely used by the tactical NVA and other enemy units...."