Tác Giả: Vương Hồng Anh
* Những Cảm Tử Quân trên đường rút quân
Theo kế hoạch rút quân, ngoại trừ Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù được di chuyển trên đường lộ với sự bảo vệ an ninh lộ trình của Đại Đội Trinh Sát Dù, các Tiểu Đoàn Dù đều phải băng rừng mở đường di chuyển. Bốn giờ sáng ngày 21/4/1975, tại ấp Quí Cả, gần địa giới hai tỉnh Long Khánh và Phước Tuy, đoàn xe chở Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù và Đại Đội Trinh Sát Dù bị 2 Tiểu Đoàn cộng quân phục kích. Pháo Đội C và một Trung Đội của Đại Đội Trinh Sát Dù bảo vệ Pháo Đội này đã bị tổn thất, đa số quân sĩ đều bị thương vong trước các đợt tấn công biển người của cộng quân. Trên lộ trình triệt thoái, Đại Đội đi đầu của Tiểu Đoàn 9 Dù đã đụng độ nặng với cộng quân tại thung lũng Yarai, dưới chân núi Cam Tiên. Đại Đội này đã bị những “chốt” của cộng quân từ trên cao bắn xuống. Cuộc giao tranh kéo dài nhiều giờ. Để diệt các chốt của cộng quân, các toán cảm tử Dù được thành lập ngay tại trận địa với những quân nhân tình nguyên. Những cảm tử quân này mặc áo giáp, đeo súng phóng hoả tiển cá nhân M 72, lựu đạn, bò đến các “chốt” cộng quân ở trên núi cao. Có nhiều toán vừa bò lên núi, đã bị cả chục trái lựu đạn của địch từ trên cao ném xuống.
Họ phải lách thật nhanh, nằm xuống, trước khi lựu đạn địch quân nổ, hoặc chụp lấy và mém trả lại. Trong trường hợp bắn M-72 nếu không có kết quả, họ phải thay đổi ngay vị trí để tránh sự bắn trả của cộng quân.
Có những người lính Dù đã làm cho mọi người khâm phục về sự dũng cảm phi thường của họ. Chiếc bunker cuối cùng của cộng quân trên núi Cam Tiên vô cùng kiên cố. Đó là hầm chỉ huy của một đơn vị cộng sản bắc việt. Hai cảm tư quân Dù đã bắn M72 vào bunker này nhưng vẫn không hạ được mục tiêu. Một đồng đội của họ từ lưng chừng núi đứng lên, để M 72 trên vai, bắn thẳng vào mục tiêu. Từng loạt đạn của cộng quân bắn trả tới tấp. Nhưng người xạ thủ gan dạ này vẫn đứng thẳng không chịu cúi xuống tiếp tục bắn: chiếc bunker chỉ huy và các ổ súng nặng của cộng quân bị hủy diệt. Thanh toán xong mục tiêu này, các đơn vị Dù tiếp tục cuộc hành trình gian khó tiến về Bà Rịa. (Phần này biên soạn theo tài liệu của Thiếu Tá Phạm Huấn, 1 nhà báo quân đội, và lời kể của một số nhân chứng).
* Tái phối trí tại phòng tuyến mới: Trảng Bom - Long Thành - Phước Tuy
Ngày 22 tháng 4/1975, cuộc rút quân hoàn tất. Sư Đoàn 18 Bộ Binh sau khi về đến Long Lễ trong ngày 21/4/1975, đã được được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cho di chuyển nghỉ dưởng quân hai ngày tại Long Bình, sau đó các Trung Đoàn và đơn vị thuộc dụng được điều động đi tăng cường phòng thủ tuyến mặt Đông thủ đô Sài Gòn, kéo dài từ Tổng kho Long Bình đến Kho đạn Thành Tuy Hạ, tiếp cận với lực lượng của các quân trường như Trường Bộ Binh, Trường Thiết Giáp;
Lữ Đoàn 1 Dù được bố trí giữ Phước Tuy, bảo vệ Quốc lộ 15 từ LongThành về Bà Rịa, và là lực lượng tiếp ứng cứu Vũng Tàu khi thành phố này bị tấn công.
Với kế hoạch phối trí mới của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III để bảo vệ Sài Gòn, kể từ sáng 22/4/1975, phòng tuyến án ngữ phía Bắc và phía Đông của Quân Đoàn III và Quân Khu 3 được thành hình với liên tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy. Lực lượng chính tại phòng tuyến này có Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù, Lữ Đoàn 3 Thiết kỵ (do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy) và Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến. Trước đó, Lữ Đoàn 147 và 258 Thủy Quân Lục Chiến đã được tăng phái cho Quân Đoàn III và là lực lượng bảo vệ phía Bắc của phi trường Biên Hoà
Về lực lượng phòng thủ vòng đai xa của Sài Gòn, tính đến ngày 22 tháng 4/1975, có 3 Sư Đoàn Bộ Binh: Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy; Sư Đoàn 25 Bộ Binh do Tướng Lý Tòng Bá chỉ huy, phụ tại phòng tuyến Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Sư Đoàn 5 Bộ Binh do Tướng Lê Nguyên Vỹ chỉ huy, phụ trách phòng tuyến Bình Dương.
_____________________
6. VÒNG ĐAI SÀI GÒN – TRẬN CHIẾN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 4-75
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG 4 NĂM 1975
* Toàn cảnh về tình hình chiến sự tại miền Đông Nam Phần từ 24-4 đến 27-4-1975
Từ ngày 24-4-1975, tình hình chiến sự tại vùng trách nhiệm của Quân Đoàn III ngày càng sôi động kể từ khi Sư Đoàn 18 Bộ Binh, lực lượng Nhảy Dù, các binh đoàn tăng phái triệt thoái khỏi Xuân Lộc. Trước những diễn biến dồn dập, sáng ngày 26 tháng 4/1975, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp để bàn kế hoạch tái phối trí lực lượng tại Quân Khu 3 và khu vực quanh Sài Gòn. Theo đó, cụm tuyến phòng ngự sẽ gồm có: tuyến vòng đai Thủ đô, tuyến Trảng Bom – Long Thành – Phước Tuy.
Trong khi cuộc họp hành quân đang diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, thì tin tức tình báo ghi nhận cộng quân đang tung quân cố cắt đứt trục giao thông Sài Gòn – Vũng Tàu ở đoạn Long Thành, cùng lúc đó, Thông Tin thám sát của các toán tình báo kỹ thuật cũng ghi nhận một đơn vị Pháo của cộng quân đã di chuyển về hướng Bà Rịa.
Tại tỉnh Phước Tuy, từ ngày 24 tháng 4/1975, phòng tuyến Bà Rịa (Tỉnh lỵ) do Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Dù và Chi Đoàn 2/15 Thiết Vận Xa đảm trách. Quân số Sư Đoàn 3 Bộ Binh chỉ còn hơn 1 ngàn kể cả thành phần quân nhân tập hợp từ Sư Đoàn 1 Bộ Binh nhập lại. Với chừng ấy quân số, chỉ đủ để thành lập 2 Tiểu Đoàn, 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 2 và 1 Tiểu Đoàn cho Trung Đoàn 56. Về lực lượng 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 1 Dù, quân số của mỗi Tiểu Đoàn chỉ còn khoảng từ 357 đến hơn 400 quân sĩ. Nếu tính cả các đơn vị Địa Phương Quân, quân số phòng thủ vòng đai chưa đến 3 ngàn quân, chưa bằng quân số của 2 Trung Đoàn, trong khi đó tại khu vực này đã có 2 Sư Đoàn cộng quân, 1 Trung Đoàn pháo và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp.
Theo phân nhiệm, Lữ Đoàn 1 Dù chịu trách nhiệm trấn giữ vòng đai ngoài của Thị xã Bà Rịa (Tỉnh lỵ tỉnh Phước Tuy) và Quốc lộ 15. Sư Đoàn 3 Bộ Binh phụ trách một số khu vực gần Bà Rịa. Bộ Chỉ Huy Hành quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đóng trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy. Các đơn vị của Sư Đoàn 3 Bộ Binh có đủ súng cá nhân cho binh sĩ nhưng thiếu súng cộng đồng, máy truyền tin và thiếu cả sự yểm trợ của Pháo Binh. Khi còn hoạt động tại chiến trường Quảng Nam (Quân Khu 1), cũng như các Sư Đoàn Bộ Binh khác, Sư Đoàn 3 Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly và 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 ly (mỗi Tiểu Đoàn có khoảng 18 khẩu đại bác).
Sau hai ngày tạm im tiếng súng, vào 6 giờ chiều ngày 26/4/1975, mặt trận Phước Tuy bắt đầu sôi động trở lại. cộng quân pháo kích vào Thị xã Bà Rịa, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Tuy, tư dinh Tỉnh Trưởng, Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp. Trận mưa pháo kích kéo dài 3 tiếng. Toàn bộ hệ thống điện trong Thị xã Bà Rịa đều bị hư hại. Khoảng 10 giờ đêm, cộng quân tổ chức tấn công theo 3 mũi vào Tỉnh lỵ, 2 mũi do Bộ Binh và Thiết Giáp cộng sản bắc việt phối hợp đánh vào Trung tâm Tiếp vận Tiểu Khu và Tư dinh Tỉnh Trưởng, 1 mũi vào khu vực dọc theo xa lộ mới ở phía Nam Thị xã Bà Rịa. Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Mặt trận Bà Rịa, điều động 1 Tiểu Đoàn Dù và đặt đơn vị này thuộc quyền chỉ huy của Đại Tá Tỉnh Trưởng – Tiểu Khu Trưởng Phước Tuy để tổ chức các cuộc phản công đánh đuổi cộng quân ra khỏi trung tâm Thị xã. Tiểu Đoàn Dù đã bắn cháy 5 chiến xa cộng quân ngay trong đêm 26/4/1975.
Rạng sáng ngày 27/4/1975, lực lượng Nhảy Dù đã quét cộng quân ra khỏi Tỉnh lỵ. Để ngăn chận các đợt tấn công kế tiếp của cộng quân, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Dù tăng thêm quân phòng thủ bên ngoài Thị xã. Khoảng 8 giờ sáng, cộng quân điều động hai Trung Đoàn Bộ Binh và khoảng 30 chiến xa từ hai hướng mở đợt tấn công thứ hai vào Thị xã Bà Rịa. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đã chống trả quyết liệt và cả hai bên đều bị thiệt hại nặng.
Theo hồi ký của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh mặt trận Bà Rịa, vào 2 giờ chiều ngày 27/4/1975, Lữ Đoàn 1 Dù được lệnh rút khỏi Bà Rịa và về phòng thủ tuyến Cỏ May (nằm trên đường Bà Rịa – Vũng Tàu). Cùng trong buổi chiều ngày 27/4/1975, một đơn vị Công Binh Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến để giật sập cầu Cỏ May hầu ngăn chận cộng quân tràn qua.
Tại Long Thành, tối 26 tháng 4/1975, cộng quân tấn công vào trường Thiết Giáp, chiếm quận lỵ Long Thành và cắt đứt Quốc lộ 15 nối liền Vũng Tàu và Sài Gòn. Cũng trong ngày 26 tháng 4/1975, một Tiểu Đoàn đặc công cộng quân đánh chiếm cầu xe lửa về hướng Tây Nam thành phố Biên Hoà trong khi đại bác của các đơn vị Pháo Binh cộng quân bắn phá vào căn cứ Không Quân Biên Hoà. Ngày 27 và 28/4/1975, cộng quân tiếp tục pháo kích vào các vị trí của quân trú phòng tại Long Thành và khu vực phụ cận.
Cũng trong hai ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân điều động Bộ Binh và Thiết Giáp tiến đến gần liên tỉnh lộ 25 và nhắm quận lỵ Nhơn Trạch, một đơn vị cộng sản bắc việt đánh chiếm các đồn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân dọc trên đường tiến quân.
Tại Trảng Bom do một đơn vị của Sư Đoàn 18 Bộ Binh phụ trách đã bị cộng quân pháo liên tục trong các ngày 26, 27:
Tại vòng đai Sài Gòn, tuyến phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phải co cụm lại: vùng Tây Bắc còn lại tỉnh Biên Hoà, phía Đông còn Long Thành, phía Bắc còn Lai Khê, phía Đông Nam còn Hóc Môn. Trong đêm 26 tháng 4/1975, cộng quân đồng loạt tấn công khu Tân Cảng, cầu Biên Hoà và đài phát tuyến Phú Lâm. Một Tiểu Đoàn Dù đang bảo vệ dinh Độc Lập đã được điều động đến Tân Cảng và nhanh chóng quét sạch địch quân khỏi khu vực này. Tại Củ Chi, sau khi triệt thoái từ Tây Ninh, lực lượng bộ chiến Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã cố gắng lập tuyến chận địch tại Củ Chi. Tại vòng đai Sài Gòn, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt khu Thủ đô, đã tổng điều động toàn bộ lực lượng cơ hữu và tăng phái để lập các cụm điểm chận địch tại các yết hầu trọng yếu vào Sài Gòn.
Sáng ngày 27 tháng 4/1975, tình hình Thủ đô Sài Gòn đã trở nên sôi động khi cộng quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt, tiếp đó một đơn vị đặc công cộng sản bắc việt đã tấn công cầu xa lộ Tân Cảng và cầu xa lộ Biên Hoà. Lực lượng xung kích của Biệt Khu Thủ Đô đã được điều động khẩn cấp để giải toả áp lực địch. Đến chiều ngày 27/4/1975, lực lượng tiếp ứng Việt Nam Cộng Hoà đã giải toả áp lực địch tại các khu vực này, cộng quân phải rút lui sau khi bị tổn thất nặng.
Tại Bình Dương, liên tiếp trong các ngày 26 và 27/4/1975, cộng quân tấn công mạnh vào phòng tuyến của một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh gần quận lỵ Phú Giáo, 2 phi cơ phản lực của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà luân phiên thực hiện các đợt oanh tạc vào những vị trí tập trung của cộng quân để ngăn cản sức tiến quân của địch. Trong nỗ lực chận đứng các cuộc tấn công của đối phương vào căn cứ Lai Khê, bản doanh của bộ Tư Lệnh và một số đơn vị của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn, đã cho lập các cụm điểm án ngữ quanh vòng đai căn cứ này. Cũng cần ghi nhận rằng từ khi quận Chơn Thành bị bỏ ngõ vào giữa tháng 4/1975, căn cứ Chơn Thành trở thành tiền đồn của tỉnh Bình Dương. Trong một chuyến thị sát tình hình chiến trường, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã khuyên Tướng Vỹ nên di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Lai Khê về Phú Lợi, chỉ nên để lại 1 Trung Đoàn phòng ngự căn cứ. Tuy nhiên Tướng Vỹ đã không đồng ý. Ông nói với tướng Toàn: Nếu bộ Tư Lệnh Sư Đoàn di chuyển về Phú Lợi, anh em binh sĩ sẽ nói mình là "di tản chiến thuật”... Tôi quyết ở lại sống chết với căn cứ này…
_______________________________________
7. KẾ HOẠCH CỦA NGŨ GIÁC ĐÀI CỨU NGUY VIỆT NAM CỘNG HOÀ NĂM 1975
* Bộ Quốc Phòng Mỹ đề nghị những biện pháp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà
Như VB đã trình bày, vào tuần lễ cuối cùng của tháng 3/1975, Tổng Thống Ford đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình…
Đại Tướng Weyand là một vị Tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV). Đại Tướng Weyandrd đã thăm và tìm hiểu tình hình Việt Nam từ ngày 28/3/1975 đến ngày 4/4/1975. Trở về Mỹ, ông đã làm một phúc trình đặc biệt lên Tổng Thống Ford về tình hình Việt Nam và những đề nghị khẩn cấp để cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà. Sau đây là phần phúc trình của Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân, đại diện Bộ Quốc Phòng Mỹ, về những biện pháp khẩn cấp cứu nguy Việt Nam Cộng Hoà trong tháng 4/1955.
– Những gì xảy ra tại miền Nam Việt Nam trong tháng tới hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện, hay không được thực hiện, bởi bắc việt, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, và Hoa Kỳ trong hai tới ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.
– Ngoại trừ lực lượng cộng quân bắc việt bị chận đứng tại trận địa hay Hà Nội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã nào khác, cộng sản bắc việt sẽ đánh bại Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà trên bình diện quân sự. Không có dấu chỉ cho thấy bắc việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói là hai, trong số năm Sư Đoàn cộng quân bắc việt hiện đang có mặt tại Quân Khu 2 sẽ đủ để tấn công lực lượng Việt Nam Cộng Hoà tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn II. Nếu một trong số năm Sư Đoàn của cộng quân bắc việt hiện đã có mặt tại Quân Khu 2 được đưa xuống Quân Khu 3 đặc biệt là nếu được tăng cường với Pháo Binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Quân Khu 3 sẽ bị nghiêng ngửa. Các lực lượng của Việt Nam Cộng Hoà tại vùng Đồng Bằng (Miền Tây Nam phần), đủ khả năng đương đầu với lực lượng cộng quân hiện đã có mặt trong Quân Khu 4, và vùng này sẽ không đứng vững nổi nếu Quân Khu 3 tan rã sau các cuộc thất bại tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2.
– Hình ảnh phác hoạ trên may ra có thể biến cải đang khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà điều quân tại Vùng 3 Chiến Thuật với các đơn vị sống sót từ Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và tái trang bị. Chúng ta có thể chẩn đoán là bắc việt có thể tiến quân và xung trận các Sư Đoàn hiện diện tại Nam Việt Nam nhanh hơn là Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà có thể thiết lập các Sư Đoàn tân trang.
– Còn phần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, phải thực hiện những công tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí quân sự tại Quân Khu 3, nhưng cũng để, và có lẽ quan trọng hơn, khiến cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài lãnh đạo của các nhân vật tối cao của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà. Trong lãnh vực tinh thần, miền Nam Việt Nam, ít ra tại Quân Khu 3, kể cả Sài Gòn, rất gần kề miệng dốc đưa tới thất bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.
* Vai Trò và Các Lựa Chọn Hành Động của Hoa Kỳ
Về phần vai trò và các lựa chọn hành động của Hoa Kỳ trong tình hình nguy kịch của Việt Nam Cộng Hoà, bản phúc trình của Đại Tướng Weyand viết như sau:
– Điều gì Hoa Kỳ làm, hay không làm, trong những ngày tới có lẽ là yếu tố định đoạt cho những biến cố xảy ra trong mấy tuần tới; điều này cũng đúng đối với điều gì Sài Gòn hay Hà Nội làm hay không làm. Một mình Hoa Kỳ không thể cứu vãn Nam Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ có thể, cho dù có vô tình đi nữa, xô đẩy Nam Việt Nam xuống hố chôn.
– Đề nghị cụ thể của tôi có thể được phân thành hai loại. Có những hành động ngắn hạn, một phần về mặt thể lý nhưng chính yếu về mặt tâm lý, cần để nâng tinh thần Nam Việt Nam và, nếu có thể, ép buộc đình trệ hành động. Điều này chỉ mua được thời giờ, nhưng trong tình thế hiện tại thời giờ là điều tối cần. Thứ đến, có những hành động dài hạn, tuy mang tính chất vật chất nhưng cũng có khía cạnh tâm lý mạnh mẽ, cần thiết nếu muốn Nam Việt Nam có tí hy vọng tồn tại trước sự tàn phá của bắc việt hay thương thảo một hiệp ước khác hơn là đầu hàng.
Điều kiện tiên quyết và cấp bách là Việt Nam cảm thấy Hoa Kỳ ủng hộ. Cảm quan này quan trọng về mọi mặt. Cảm quan Hoa Kỳ giảm thiểu ủng hộ Nam Việt Nam khuyến khích bắc việt tiếp tục tấn công. Chính cảm quan này đã khiến Việt Nam Cộng Hoà bắt đầu triệt thoái khỏi các vị trí lẻ tẻ và lộ liễu tại các tỉnh phía bắc. Cảm quan này được cấu tạo bởi các hành động sau đây: Ngay sau khi ký kết Hiệp Định Ba Lê, 1.6 tỷ mỹ kim được đệ trình để cung ứng cho nhu cầu của Nam Việt Nam cho tài khoá 1974; 1.126 tỷ mỹ kim được xuất ra —thanh thoả 70% nhu cầu. Tiếp sau đó 500 triệu mỹ kim còn lại bị từ khước không được tháo khoán. Đối với tài khoá năm nay, 1.6 tỷ được đệ trình để duy trì khả năng tự vệ của Nam Việt Nam; 700 triệu được chấp thuận, thanh thoả 44 nhu cầu. Những hành động này đã giúp khai sinh khủng hoảng tin tưởng khiến Chính Phủ Nam Việt Nam dùng tới biện pháp triệt thoái chiến lược.
– Điều then chốt cho sự tồn tại sống còn của quốc gia Việt Nam nằm trong khả năng của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ổn định tình thế, và đem các nguồn lực quân sự chống đối lại sức tấn công của bắc việt. Khả năng ổn định tình thế này tùy thuộc, một phần lớn, vào khả năng thuyết phục hạ tầng giới quân nhân và dân sự là chưa đến nỗi mất tất cả, và còn có thể chận đứng bắc việt. Tuy đó là trách vụ chính của Chính Phủ Việt Nam, các hành động về phía Hoa Kỳ mang tính chất quyết liệt trong việc tái tạo niềm tin.
Hành động mà Hoa Kỳ có thể làm để gây nên ấn tượng tức khắc cho Việt Nam, Bắc lẫn Nam, —là dùng không lực Hoa Kỳ để chận đứng thế tấn công hiện tại của cộng quân bắc việt. Cho dù chỉ giới hạn trên phần đất Nam Việt Nam và chỉ thực hiện trong một thời gian giới hạn, những tấn công này sẽ gây tổn thất lớn lao cho lực lượng viễn chinh bắc việt về mặt nhân sự và quân cụ, và sẽ tạo một chấn động về mặt tâm lý đối với các chiến binh xâm lăng. Những tấn công không tập này cũng sẽ khiến giới lãnh đạo Hà Nội phải đắn đo suy nghĩ, thái độ mà hiện giờ họ không có, đến hậu quả tai hại có thể xảy đến nếu họ làm ngơ lời cam kết chính thức họ đã hứa với Hoa Kỳ.
Giới lãnh đạo quân sự Việt Nam Cộng Hoà thuộc mọi cấp bậc đều luôn lập đi lập lại tầm mức quan trọng của sử dụng B-52 phản công chống lại một lực lượng địch to lớn hơn và quan điểm này hợp lý về mặt quân sự. Tôi ý thức đến các khó khăn về mặt pháp lý và chính trị gây nên bởi việc thi hành biện pháp không tập này.
Một việc quan trọng mà Hoa Kỳ cần phải làm là xác định một cách rõ ràng Hoa Ky quyết tâm ủng hộ Nam Việt Nam. Việc này phải bao gồm lời minh định tích cực của Tổng Thống và các giới chức cao cấp Mỹ. Tinh thần suy sụp của dân chúng Việt Nam đã hứng khởi lên rõ rệt khi phái đoàn Hoa Kỳ do Tổng Thống phái đi với nhiệm vụ điều tra tình hình đặt chân tới Sài Gòn. Có thêm những hành động tương tự như vậy sẽ minh chứng mối quan tâm của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào các lời xác định của Ngành Hành Pháp, cần thêm nỗ lực tạo một mối quan tâm chung tại mọi lãnh vực trên đất Hoa Kỳ. Sự ủng hộ từ các thành viên của Quốc Hội; xác định lập trường ủng hộ từ các nhân vật có trọng trách trong và ngoài chính phủ; và sự thông cảm trong giới báo chí Hoa Kỳ sẽ cải biến cảm quan về phía Hoa Kỳ liên quan đến tình hình tại Việt Nam.
___________________________
8. SỰ YỂM TRỢ CUỐI CÙNG CỦA HOA KỲ CHO QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN KỂ LẠI CHIẾN SỰ 1975:
* Đại Tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Mỹ, đến Sài Gòn quan sát tình hình chiến sự
Ngày 26 tháng 3/1975, sau khi lực lượng Việt Nam Cộng Hoà triệt thoái khỏi Kontum, Pleiku, Phú Bổn (Quân Khu 2), các Sư Đoàn chủ lực của cộng sản bắc việt gây áp lực nặng quanh vòng đai Đà Nẵng, các quận phía Tây tỉnh Quảng Nam, và các tỉnh duyên hải của Quân Khu 2 (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà). Cũng trong ngày này, chính phủ Hoa Kỳ đã cử Đại Tướng Frederick C. Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đến Việt Nam để tìm hiểu tình hình. Đại Tướng Weyand là một vị tướng đã từng phục vụ ở chiến trường Việt Nam qua nhiều chức vụ khác nhau: Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Lực Lượng 2 Đặc Nhiệm, Tư Lệnh Phó Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (Tư Lệnh là Đại Tướng Creighton W. Abrams), sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Hoa Kỳ (MACV).
Trước khi Đại Tướng Weyand đến Việt Nam, vào cuối tháng 2/1975, ông Eric Von Marbod, Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, đã đến Việt Nam. Lúc đó, cộng sản bắc việt chưa khởi động cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột. Trong thời gian viếng thăm Việt Nam, ông Marbod đã gặp và trao đổi ý kiến với Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, về tình hình chiến sự.
Trong cuộc tiếp xúc với vị Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ đặc biệt cung cấp vũ khí nào mà Không Quân Việt Nam có thể sử dụng được. Đó là loại bom 15 ngàn cân Anh có tên là bom bạch cúc (Daisy Cutter) mà Không Quân Hoa Kỳ thường dùng thả bằng phi cơ C-130 để khai quang dọn bãi đáp trong các khu vực rừng già. Thế nhưng, gần đến cuối cuộc chiến, Hoa Kỳ mới đáp ứng yêu cầu của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sau chuyến viếng thăm của Đại Tướng Weyand.
Như VB đã trình bày trong bài tổng lược về hoạt động của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà vào giai đoạn cuối cuộc chiến, 27 quả bom này được dự trù vận chuyển đến Việt Nam cùng với chuyên viên Hoa Kỳ trong vòng một tuần. Vào giữa tháng 4/1975, ba trái chuyển đến trước và sau đó ba trái nữa chuyển đến chỉ hai ngày trước khi cuộc chiến kết thúc. Một chuyên viên Mỹ đi theo chuyến này để hướng dẫn cho chuyên viên Việt Nam cách gắn ngòi nổ và cách gắn bom lên phi cơ. Thế nhưng chuyên viên Mỹ này không đến kịp. Trước tình hình khẩn cấp và vì mức độ nguy hiểm nếu tồn trữ thứ bom này tại Tân Sơn Nhứt hay tại Long Bình nên Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà phải chọn một phi công kinh nghiệm để bay thả thử trái đầu tiên.
Trở lại với cuộc viếng thăm của Đại Tướng Weyand, theo lời của Đại Tướng Cao Văn Viên trình bày trong cuốn hồi ký do Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ xuất bản (dịch giả Duy Nguyên chuyển sang Việt ngữ và đồng ý cho VB sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến Việt Nam), diễn tiến các cuộc tiếp xúc của vị Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà được ghi nhận như sau.
* Các cuộc tiếp xúc giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên
Trong thời gian Đại Tướng Weyand thăm Việt Nam, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã không có buổi thuyết trình chính thức nào dành cho Đại Tướng Weyand, nhưng giữa Đại Tướng Weyand và Đại Tướng Viên đã có những cuộc tiếp xúc bàn luận về tình hình và trao đổi ý kiến về tình hình chiến cuộc. Trong các lần tiếp xúc, Đại Tướng Cao Văn Viên đã cho Đại Tướng Weyand biết những khó khăn mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đang gặp phải và chỉ yêu cầu một điều duy nhất: Xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 để đánh vào những nơi tập trung quân và các căn cứ lộ thiên mà cộng quân vừa thiết lập. Tướng Viên nói rằng nếu có được B-52 thì sự tự tin và tinh thần chiến đấu của quân sĩ sẽ được phục hồi nhanh chóng.
Trước yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Weyand giải thích cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà biết là “bất cứ hình thức can thiệp mới nào của Mỹ tại Việt Mam cũng đều phải được sự chấp thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ”, do đó yêu cầu của Đại Tướng Cao Văn Viên rất ít hy vọng được chấp thuận.
* Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Weyand
Phái đoàn của Đại Tướng Weyand sau đó cùng với Đại Sứ Hoa Kỳ đến thăm chính thức Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập. Trong khi trao đổi ý kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, phái đoàn Hoa Kỳ đưa ra các điểm chính sau đây:
- Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà nên giải thích cho dân chúng biết tình hình để người dân không còn lo sợ bởi những tin đồn thất thiệt do địch cố tình tung ra. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà nên xuất hiện nhiều hơn trên truyền hình cho dân chúng biết mặt.
- Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cần được trao thêm nhiều quyền hạn hơn trước.
- Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nên tìm một chiến thắng, dù thật nhỏ, để tạo điều kiện cho Chính phủ Hoa Kỳ xin Quốc hội duyệt thêm 300 triệu đô quân viện bổ sung. Theo nhận xét của Đại Tướng Weyand, Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt tại vùng Mũi Két là một mục tiêu tốt để Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tạo một chiến thắng “thật ngoạn mục”.
– Vấn đề di tản dân tị nạn nên được giải quyết sớm. Nhất là phải chú tâm đến các thân nhân gia đình binh sĩ. Thành phần này cần sớm được đưa ra khỏi vùng nào có nguy cơ sẽ xảy ra chiến trận.
Tất cả những vấn đề liên quan chính phủ và dân chúng đều được thảo luận giữa Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ. Theo lời kể của Đại Tướng Cao Văn Viên, vấn đề cho Bộ Tổng Tham Mưu có thêm quyền hạn không được bàn đến nữa vì đây là một vấn đề rất tế nhị và chỉ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới làm được điều đó nếu ông muốn.
Về đề nghị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải tạo một chiến thắng, Đại Tướng Cao Văn Viên hoàn toàn đồng ý nhưng ông nhận định rằng muốn làm cũng không làm được vì bộ Tổng Tham Mưu không còn lực lượng nào trong tay để tiêu diệt Sư Đoàn 5 cộng sản bắc việt, trong tình hình này, phải chờ một cơ hội thuận tiện mới có thể làm được.
* Nỗ Lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Trong cuộc họp, Đại Tướng Cao Văn Viên nhắc lại yêu cầu của ông là xin Không Quân Hoa Kỳ sử dụng B-52 oanh tạc các nơi địch tập trung quân. Theo Đại Tướng Viên, chỉ bằng cách đó mới có hiệu quả, mới làm cho tinh thần quân dân Việt Nam lên cao được. Tướng Viên cũng đã trình bày cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Hoa Kỳ những nỗ lực của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong hoàn cảnh không được sự yểm trợ hoả lực của B-52. Suốt trong vài tháng cuối của cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chỉ thị cho Không Quân dùng phi cơ C-130 vận tải để thi hành nhiệm vụ yểm trợ chiến thuật, tăng cường hoả lực.
Khi được sử dụng để thi hành nhiệm vụ chiến thuật, mỗi C-130 mang theo tám bánh thùng dùng đựng JP-4 chứa đầy dầu phế thải. Phi cơ bay trên độ cao từ 15 đến 20 ngàn feet. Mỗi lần phi cơ bay qua và bom nổ, binh sĩ dưới đất lấy làm vui mừng. Được hướng dẫn bằng vô tuyến từ dưới đất nên rất chính xác, mỗi đợt thả chỉ cách nhau 150 đến 450 mét.
Mỗi C-130 có thể chở đến 8 bành bom loại thùng GP 81-82 (tương đương với 250-500 cân anh) hay ba bành loại GP-117 (tương đương với 750 cân Anh. Binh sĩ đặt tên cho các phi vụ này là “tiểu B-52” hay B-52 Việt Nam. Lần đầu tiên khi loại bom này được thả tại Tây Ninh, dân chúng tưởng đó là B-52 của Mỹ thả. Vậy là tin đồn Không Quân Mỹ can thiệp yểm trợ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã được loan đi thật nhanh.
Về việc di tản thân nhân gia đình binh sĩ rời những nơi có chiến trận, Đại Tướng Viên cho rằng việc làm này thường có tác dụng ngược. Tướng Viên nêu ra nhận xét: nếu không có thân nhân tại đó, tinh thần chiến đấu của binh sĩ sẽ giảm sút. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nhắc đến một số kinh nghiệm trong quá khứ, nhất là kinh nghiệm của trận Mậu Thân 1968 và tại các tiền đồn xa xôi, vợ con binh sĩ là những người giúp tải đạn, tải thương và thậm chí sử dụng cả đại liên rất hữu hiệu.
Những đề nghị của Đại Tướng Viên được phái đoàn Hoa Kỳ ghi nhận, và khi Tướng Weyand rời Việt Nam thì cộng quân đang bao vây phòng tuyến Phan Rang và tấn công vào mặt trận Long Khánh. Trong tình hình chiến sự sôi động, nhiều giới chức của Việt Nam Cộng Hoà hy vọng ở sự can thiệp của Không Quân Hoa Kỳ để chận đứng cuộc tấn công lớn của cộng quân, dù biết rằng đó là một hy vọng vô cùng mong manh…
Vương Hồng Anh
No comments:
Post a Comment