; }

Saturday, April 20, 2019

TRÒ CHUYỆN GIỮA TOM GLENN VÀ GEORGE J. VEITH "THÁNG TƯ ĐEN"

BM
Nguyên tác: “Tom Glenn speaks with the author of Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-1975” (May 10, 2012)

LỜI GIỚI THIỆU:

BM
Tom Glenn

Tháng Tư 1975, khi Tom Glenn – một nhân viên mật vụ – rời khỏi Việt Nam thì George J. Veith chỉ mới tốt nghiệp trung học Hoa Kỳ. 

Đến khi “Jay” Veith rời quân ngũ với cấp bậc Đại Úy binh chủng Thiết Giáp đóng quân tại Đức thì Tom Glenn dành nhiều thì giờ với những bệnh nhân AIDS vì đó là cách duy nhất giúp ông quên đi những ám ảnh đớn đau từ Việt Nam. Một người già, một người trẻ, cách nhau cả một thế hệ nhưng cả hai có cùng một điểm chung: Việt Nam.

Đối với Tom đó là mảnh đất ông đã để lại một phần thân thể – tai ông bị điếc vì tiếng bom nổ. Đối với Jay đó là vùng đất chưa bao giờ đặt chân tới nhưng chất chứa quá nhiều thứ bị che dấu. Sau nhiều năm ròng rã tìm hiểu, Jay đã khám phá ra nhiều điều đáng kinh ngạc. Những sự thật lịch sử trong hai năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa được ông trưng ra trong tác phẩm dày trên 600 trang: “Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-75“.

BM
  
Dưới đây là cuộc phỏng vấn tác giả “Black April ” – George J. Veith, được thực hiện bởi tác giả “Last of The Annamese” – Tom Glenn.

Tom Glenn: Anh đã có 3 cuốn sách viết về [chiến tranh] Việt Nam, thế nhưng anh lại lớn lên khi cuộc chiến đã tàn. Lý do gì anh đam mê đề tài này đến thế?

Jay Veith: Ngay khi tôi chỉ mới là đứa trẻ, tôi đã rất thích thú với hai điều trong lịch sử: những biến cố quân sự và những bí ẩn lịch sử. Do đó, tôi bị thu hút bởi vấn đề Tù Binh/Quân Nhân Mất Tích, một vấn đề đáp ứng cả hai sở thích của tôi từ lúc nhỏ. Khoảng 20 năm trước, một người bạn biết đến khả năng biên khảo của tôi đã nhờ tôi giúp ông truy tìm một số tài liệu trong căn cứ quân sự Carlisle Barracks tại tiểu bang Pennsylvania. Trong khi lục lạo các hồ sơ trong “Vietnam Room”, tôi phát giác ra các bản sao những báo cáo gốc của cơ quan Joint Personnel Recovery Center, một đơn vị được thành lập tại Việt Nam có nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu tù binh Hoa Kỳ. Vậy mà hầu như chưa có tài liệu nào được công bố về đơn vị này, theo như tôi được biết. Và vì luôn bị thôi thúc phải viết, nên tôi đã nhận ra ngay là cuối cùng thì dịp may đã đến với tôi!

Tom Glenn: Những cuốn sách của anh được viết với cung cách của người có kinh nghiệm trực tiếp. Anh đã từng đến Việt Nam chưa? Anh có nói được tiếng Việt không?

Jay Veith: Tôi chưa bao giờ đến Việt Nam – mặc dù tôi luôn muốn đến thăm nơi ấy. Sau khi dành rất nhiều thì giờ nghiên cứu về chiến tranh [Việt Nam], tôi cảm thấy như đó là quê hương thứ hai của mình! Tôi không nói được tiếng Việt. Tuy nhiên, tôi có một người bạn tốt, ông Merle Pribbenow, là người đã dịch tất cả các tài liệu rất bao quát nầy. Ông Merle từng phục vụ tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn từ tháng Tư, 1970 cho đến ngày 29 tháng Tư, 1975. Thật may mắn cho tôi vì Merle, cũng như tôi, có một mối quan tâm sâu sắc, trong việc đưa ra ánh sáng những gì đã thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Đối với ông ấy, cũng giống như đối với ông, đó là chuyện cá nhân. Còn đối với tôi, đó chỉ là một bí ẩn lịch sử lớn cần được điều tra.

Tom Glenn: Nếu anh không nói được tiếng Việt, vậy làm thế nào anh có thể phỏng vấn những người Việt đã trải qua cuộc biến động tại Việt Nam? Anh đã phỏng vấn bao nhiêu người Việt?
 
Jay Veith: Phỏng vấn những người Việt Nam là một công việc đầy tế nhị, khác hẳn phỏng vấn những người Mỹ. Một khi đã xác định được một sĩ quan người Việt nào bạn muốn nói chuyện, cách tốt nhất là được sự giới thiệu chính thức từ một người hoặc là trong gia đình ruột thịt, hay thuộc “đại gia đình quân đội” (cùng khoá, cùng đơn vị, cùng binh chủng v.v…) hoặc từ người đã từng là sếp trực tiếp hoặc từng có cấp bậc cao hơn. Nếu như họ đồng ý cho phỏng vấn, bạn phải đi theo trình tự: giải thích bạn là ai, bạn đang tìm kiếm thông tin gì, và bạn dự định làm gì với thông tin đó. Thường thì tôi bắt đầu bằng cách hỏi họ sinh ra ở đâu, họ vào quân đội như thế nào, v.v… Sau khi chúng tôi cảm thấy khá thoải mái với nhau, và cũng còn tùy thuộc vào tính khí và khả năng nói tiếng Anh của người ấy, chúng tôi mới có thể đi vào các khía cạnh cụ thể của một trận chiến.

Nếu người được phỏng vấn có trở ngại về tiếng Anh, tôi sẽ yêu cầu họ viết những trải nghiệm của họ bằng tiếng Việt và sau đó tôi nhờ người dịch lại. Cách làm này đạt kết quả rất tốt. Tôi đã phỏng vấn khá nhiều, có lẽ khoảng 45 sĩ quan, từ Đại Tướng Cao Văn Viên – vị Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội miền Nam Việt Nam – xuống đến các tiểu đoàn trưởng.

Nhiều người rất cởi mở, họ không chỉ ngạc nhiên khi thấy một người Mỹ quan tâm đến câu chuyện của họ mà còn vui mừng khi tôi muốn tìm hiểu về kinh nghiệm chiến tranh của họ. Tuy nhiên cũng có một số người rất đắn đo trong lời nói. Một số khác thì không thể thuật lại một cách chi tiết vì bị bệnh tật hoặc tinh thần chưa ổn định, hậu quả của nhiều năm tù đày. Còn một số ít, phần nhiều là các sĩ quan cao cấp, đã từ chối nói chuyện.

Đối với tất cả những sĩ quan tôi có dịp tiếp xúc, cuộc phỏng vấn bắt họ phải trải qua những thời khắc vô cùng đau đớn. Tôi không thể nào thể hiện đầy đủ lòng biết ơn với những người ấy.

Thật không dễ dàng [khi phải] chứng kiến những người đàn ông luống tuổi – những người từng dạn dày trong chiến đấu, từng khổ nhọc trong tù đày – đã bật khóc khi nói đến sự mất mát đồng đội hoặc sự kết thúc chiến tranh.

Tom Glenn: Tôi được biết có hai sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát khi Miền Nam thất thủ. Trường hợp tuẫn tiết như thế có nhiều không?

Jay Veith: Tôi lại biết có tới năm vị tướng đã tự sát. Rất nhiều sĩ quan cấp thấp hơn cũng đã tuẫn tiết.

Một câu chuyện không được ghi lại trong sách (Black April) nhưng luôn ám ảnh tôi. Có lần tôi phỏng vấn tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn Nhảy Dù. Lúc ấy là khoảng 1 giờ sáng, và chúng tôi đang ngồi trên bậc thềm trước nhà anh ta. Khi chúng tôi gần xong câu chuyện thì anh chợt bắt đầu kể về những ngày cuối cùng [của cuộc chiến]. Anh cho biết vào đêm 29 tháng Tư, vị lữ đoàn trưởng của anh đã ra lệnh cho đơn vị anh phải yểm trợ để bảo vệ căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt. Vị lữ đoàn trưởng còn năn nỉ anh đừng bỏ rơi ông ấy. Vì vậy, khi anh tiểu đoàn trưởng này bắt đầu rời khỏi căn cứ để đảm nhiệm việc phòng thủ bên ngoài vành đai, anh đã hết sức phân vân giữa hai lựa chọn: Hoặc khi ra khỏi cổng căn cứ thì rẽ phải để đi đến các vị trí được chỉ định. Hoặc rẽ trái và đi về phía bến cảng, tại đó anh hy vọng gặp được một tàu Hải Quân đang thoát chạy ra khơi. Và, người sĩ quan ấy đã chọn… rẽ phải, chọn ở lại với nhiệm vụ được giao phó.

Cuối ngày hôm sau, sau khi nghe lệnh đầu hàng, anh nhận được tin qua máy truyền tin từ một đồng đội cho biết họ đang rút lui đến một tòa nhà trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt. Do dự vài phút, nhưng rồi anh cũng lái xe jeep đến nơi tập họp. Nhưng đúng lúc anh vừa tới nơi thì nghe thấy một tiếng nổ khủng khiếp làm rung chuyển cả tòa nhà. Rất nhiều đồng đội của anh đã tự sát trong đó. Anh chấm dứt câu chuyện, mắt anh đẫm lệ. Còn tôi, lặng im mà xúc động đến run cả người.

Nghe xong câu chuyện ấy chúng ta còn điều gì để nói nữa?

Và điều tệ nhất ở đây là, do hậu quả của việc rẽ phải thay vì rẽ trái – để làm tròn nhiệm vụ và không bỏ rơi những người lính cũng như người chỉ huy – người sĩ quan ấy đã phải ngồi tù 10 năm!

Tom Glenn: “Tháng Tư Đen” đưa ra những câu trả lời thỏa đáng cho rất nhiều câu hỏi của tôi về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Vậy, còn có những câu hỏi nào anh cảm thấy vẫn cần có câu trả lời?

Jay Veith: Câu hỏi chính sẽ xoay quanh những gì Bộ Chính Trị [Bắc Việt] đã thực sự toan tính ngay trước và ngay sau khi ký kết Hiệp Định Hòa Bình Paris. Vẫn còn một lỗ hổng khá lớn trong sách vở Việt Nam về khoảng thời gian này. Đối với số câu hỏi khác, ông sẽ phải đợi cho đến khi tập thứ hai của tôi ra đời! Cuốn sách này sẽ đề cập đến các mưu đồ chính trị và ngoại giao.

Tom Glenn: Vì lý do nghề nghiệp, tôi chú ý tới vai trò của sự lừa bịp về mặt tình báo truyền tin và truyền thông trong trận chiến cuối cùng. Theo anh, tầm quan trọng của mỗi yếu tố như thế nào?
 
Jay Veith: Chiến lược của Cộng Sản cho mỗi chiến dịch bao gồm các kế hoạch lừa dối công phu. Hầu hết các kế hoạch này là nhằm đánh lừa tình báo truyền tin của Mỹ và QLVNCH mà trong chiến tranh có lẽ là nguồn tin tình báo tốt nhất của chúng ta. Tuy nhiên, có những ý kiến khác nhau về việc Cộng Sản có thành công hay không. Tại Ban Mê Thuột, chắc hẳn nó đã đóng một vai trò quan trọng, ít ra trong việc khiến cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tin rằng quân đội Bắc Việt sẽ tấn công vào Pleiku chứ không phải vào Ban Mê Thuột. Với Quân Đoàn I, tôi nghĩ đó là một thất bại hoàn toàn. Câu hỏi lớn hơn, hy vọng một ngày nào đó Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (National Security Agency –NSA) sẽ trả lời, là họ và tình báo tuyền tin của miền Nam thực sự đã biết tới mức nào. Tôi cho rằng điều đó phù hợp với câu hỏi của ông về những gì vẫn còn cần câu trả lời.

Tom Glenn: Trong số rất nhiều câu chuyện buồn về những người phải cam chịu thất bại, câu chuyện nào khiến anh xúc động nhất?

Jay Veith: Những chuyện xúc động thì quá nhiều. Câu chuyện người sĩ quan mà tôi vừa kể là buồn nhất. Sau đó, anh ấy nói với tôi là khi còn ở trong trại tù Cộng Sản, anh đã phải ăn gián để sống. Một nguồn protein tốt, anh còn nói thế. Tôi hỏi anh đã ăn bao nhiêu con gián? Chắc cỡ 10 ngàn con, anh trả lời. Hãy thử tưởng tượng mình phải bỏ con gián vào miệng! Tôi còn nhớ tới một vị chỉ huy tiểu đoàn khác, lần này là một sĩ quan Biệt Động Quân, anh nói với tôi rằng cha mẹ anh đã phải trông chừng anh liên tục từ ngày có lệnh đầu hàng cho đến khi anh phải trình diện đi tù. Họ sợ anh sẽ tự tử vì quá tuyệt vọng.

Tom Glenn: Tôi thấy nhiều điểm tương đồng giữa Việt Nam và Iraq và đặc biệt là Afghanistan. Có đúng thế không?

Jay Veith: Không hẳn vậy. Kẻ thù hoàn toàn khác, trật tự chính trị thế giới đã được định hình lại hoàn toàn, và người ta không thấy thái độ chống chiến tranh gay gắt xảy ra trong chiến tranh [Iraq]. Nếu nhìn rộng hơn ra, tôi cho rằng người ta có thể rút ra sự tương đồng về một cuộc chiến bất khả chiến thắng, v.v…, nhưng tôi không cho rằng các viễn kiến lịch sử tương tự nhau.

Tom Glenn: “Tháng Tư Đen” là cuốn sách đầu tiên của một bộ hai tập. Vậy, chủ đề của cuốn sách thứ hai là gì? Bao giờ thì sách được xuất bản?

Jay Veith: Cuốn thứ hai sẽ đề cập tới các vấn đề chính trị, ngoại giao và kinh tế làm Nam Việt Nam sụp đổ. Cụ thể, sách sẽ thảo luận về các mưu mô ngoại giao trong những ngày cuối khi các quốc gia cố gắng dàn xếp một lệnh ngừng bắn. Ngoài ra, sách sẽ nói tới một câu chuyện có lẽ là bí mật lớn cuối cùng của Chiến Tranh Việt Nam. Còn khi nào nó sẽ được xuất bản thì xin để cho tôi thêm vài năm. Việc nghiên cứu coi như đã xong, tôi chỉ cần tìm thời gian để viết.

(Ghi chú: Jay Veith quyết định nghỉ việc vào tháng Năm 2018 để dành toàn thời gian cho sách – TBA)

Tom Glenn: Trong tất cả các yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam, điều gì nghiêm trọng nhất? Chúng ta có thể tránh được điều ấy không?

Jay Veith: Đúng, chúng ta có thể tránh đươc. Nhưng nó đòi hỏi một nỗ lực bền bỉ về ý chí và sự tham gia của người Mỹ, là những yếu tố mà chúng ta sẽ rất khó khăn để duy trì.

Tom Glenn: Nếu tất cả hỏa lực, nhân lực và tài nguyên mà Hoa Kỳ mang đến không thể chiến thắng cuộc chiến chống lại Bắc Việt, tại sao chúng ta nghĩ rằng chỉ riêng Nam Việt Nam có thể làm nổi điều đó? Kế hoạch Việt Nam Hóa (đào tạo và trang bị cho Nam Việt Nam tiếp tục chiến đấu mà không có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường) có tác dụng gì không?

Jay Veith: “Việt Nam Hóa” đã có tác dụng. Tuy nhiên, không có tướng lãnh Hoa Kỳ hay Nam Việt Nam nào tin rằng đất nước này có thể đứng vững nếu không có đầy đủ sự yểm trợ của Không Quân Mỹ. Lý do đơn giản là vì địa hình Việt Nam, chứ không phải vì sự thiếu ý chí của Nam Việt Nam. Tôi sẽ trình bày chính xác hơn trong cuốn sách tiếp theo của tôi. Nhìn bên ngoài, tình hình tiếp tế của Bắc Quân có vẻ rất tốt. Nhưng có điều ít ai biết hay hiểu ra, đó không phải là do Trung Cộng và Nga Xô chi viện ào ạt mà là do Bắc Việt đã dốc tất cả kho vũ khí của họ ra. Nói một cách khác, họ đánh xả láng cú chót để giành chiến thắng. Thật không may, lần này họ đã đoán đúng. Tôi chỉ mới phát hiện ra điều này trong khi xem xét một số ấn phẩm mới của Cộng Sản. Cho ông biết trước một chút xíu thôi đấy nhé.

Tom Glenn: Một số người tin rằng nỗ lực chống cộng ở Việt Nam đã bất khả thi ngay từ đầu. Chiến thắng của Bắc Việt [có phải] là đương nhiên không?

Jay Veith: Không đúng. Nếu chúng ta quyết định cắt đường mòn Hồ Chí Minh bằng quân đội Hoa Kỳ, tôi tin rằng chúng ra đã có thể thắng cuộc chiến. Sau khi Hải Quân cắt đứt nguồn tiếp tế trên biển, và nếu chúng ta phong tỏa hải cảng Sihanoukville (Cambodia), thì “cách mạng” tại Nam Việt Nam không còn nguồn cung cấp nữa, do đó, về căn bản, sẽ thoái hóa thành một cuộc chiến tranh du kích lẻ tẻ, một cuộc chiến mà người miền Nam có thể cáng đáng được.

Tom Glenn: Vậy thì với những điều bây giờ chúng ta đã biết, liệu Hoa Kỳ khi đó có nên nhúng tay vào Việt Nam không? Một câu hỏi cực kỳ tế nhị cho anh trả lời đấy.

Jay Veith: Tôi sẽ phải tránh né câu hỏi nầy bằng cách yêu cầu ông suy nghĩ như sau. Một trăm năm nữa, khi các học giả viết lịch sử của nước Mỹ và thế giới trong thế kỷ 20, chẳng biết họ sẽ định nghĩa cuộc sống Mỹ vào thời kỳ này như thế nào? Họ sẽ nhập chung thời kỳ hậu Đệ Nhị Thế Chiến với một khoảng thời gian dài hơn sau đó, và mô tả thời kỳ đó là một cuộc chiến dài chống lại chủ nghĩa Cộng Sản chăng? Nếu vậy, ai đã thắng cuộc chiến đó? Nếu nhìn từ góc độ lịch sử lâu dài hơn, tôi nghĩ mọi người cuối cùng sẽ đánh giá Việt Nam một cách không thiên vị hơn.

* GHI CHÚ:

I. Về tác giả Tom Glenn:

BM
  
Tiểu thuyết về Việt Nam của ông có tên “Last of The Annamese“. Tác phẩm kể câu chuyện của một sĩ quan Quân Lực VNCH và người vợ tận tụy. Cả hai đã cùng tuẫn tiết tháng Tư 1975. Xoay quanh họ là hình ảnh đau thương của một Nam Việt Nam bị bức tử.

II. Về tác giả George J. Veith:

BM
  
– George J. Veith là cựu Đại Úy binh chủng Thiết Giáp Hoa Kỳ từng phục vụ tại Đức quốc.

– Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt tháng Tư 1975, ông chỉ mới tốt nghiệp trung học. Vì sở thích lúc còn trẻ của ông là tìm hiểu về các biến cố quân sự và các bí ẩn lịch sử, nên khi lớn lên ông luôn quan tâm tới vấn đề Tù Binh/Quân Nhân Mất Tích (POW/MIA), là hai vấn đề đáp ứng sở thích và ý hướng của ông.

– Vốn có khiếu trong công việc biên khảo dù không là nghề nghiệp chính, “Jay” được yêu cầu thực hiện cuộc tìm kiếm tài liệu trong văn khố của căn cứ quân sự Carlisle Barracks. Tại đây, cơ duyên đã đưa vào tay ông những tài liệu mật về Trung Tâm Giải Cứu Nhân Viên Hỗn Hợp (Joint Personnel Recovery Center) – một tổ chức bí mật được thành lập năm 1966 để thu thập và phân tích các báo cáo tình báo về người Mỹ bị bắt ở Lào, Campuchia & Việt Nam và tổ chức các cuộc đột kích giải cứu.

– Kết quả, Jay đã cho ra đời hai tác phẩm:

BM
  
“Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts during the Vietnam War ” (1998).

“Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War ” (2004).

– Từ đó, Jay đặc biệt quan tâm tới những gì đã xảy ra trong cuộc chiến dài nhất lịch sử Hoa Kỳ. Cơ duyên thêm một lần nữa đưa Jay gặp gỡ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo khi muốn tìm hiểu thêm về mặt trận Xuân Lộc 1975. Jay và bạn ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng suốt một năm về đề tài này. Bài viết của họ làm tướng Đảo hài lòng vì đã mô tả chân thực tình hình chiến trường lúc ấy.

BM
  
Từ đó, tướng Đảo yêu cầu Jay thực hiện một cuộc biên khảo về hai năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì đa số người Mỹ cho rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ là “những kẻ tham nhũng và hèn nhát”, do đó chứng minh ngược lại thành kiến này là vô cùng khó khăn. Nhưng, Jay đã nhận lãnh cuộc thử thách!

– Bẩy năm tiếp theo, Jay lao vào công việc tìm và đọc vô số tài liệu từ cả ba phía: Hoa Kỳ, Bắc Việt và Nam Việt Nam. Ông cũng phỏng vấn rất nhiều sĩ quan QLVNCH. Cuối cùng, năm 2012, cho ra đời tác phẩm có tên: “Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-75“.

III. Về các tác phẩm của George J. Veith:

BM  
CODE-NAME BRIGHT LIGHT: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts during the Vietnam War

– Trong các chủ đề về Chiến Tranh Việt Nam, chủ đề gây đau đớn và tranh cãi nhiều nhất cho người Mỹ là vấn đề POW / MIA (Prisoner of War / Missing in Action).

– “Mật Mã Ánh Sáng: Chuyện Chưa Kể Về Những Nỗ Lực Giải Cứu Tù Binh Trong Chiến Tranh Việt Nam” kể lại những cố gắng giải cứu đồng đội giữa những hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm tại Lào, Campuchia & Việt Nam, đó là những câu chuyện bi thảm nhưng đầy tình người.

– Bắt đầu từ các nhóm Tìm Kiếm & Cứu Nạn (SAR – Search And Rescue) rồi các nhóm Nghiên Cứu & Quan Sát (SOG – Studies And Observations), hợp lại năm 1966 để thành Trung Tâm Giải Cứu Nhân Viên Hỗn Hợp (JPRC – Joint Personnel Recovery Center) dấu dưới vỏ bọc một cơ quan an ninh quốc gia, và thường được gọi với cái tên bí mật là “Bright Light “.

– Thế nhưng, những hành động dũng cảm – thậm chí liều lĩnh – đã không đem lại “ánh sáng” cho tất cả các tù binh: đã có khoảng 500 người lính Việt Nam Cộng Hòa được giải thoát, 110 thi thể lính Mỹ được đưa về, nhưng đau đớn thay, không một chiến binh Hoa Kỳ nào được giải cứu!

  
– Vậy lý do gì khiến cho các nỗ lực của JPRC suốt 6 năm, với hơn 125 cuộc giải cứu, đã gặp thất bại? Có nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, những “trại giam” thường xuyên di chuyển nên rất khó truy ra dấu vết. Thứ hai, do địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt. Sau cùng là sự miễn cưỡng của các cấp chỉ huy Mỹ khi cho rằng phải chịu rủi ro quá cao mà kết quả không có gì chắc chắn. Do quá nhiều trở ngại trong khi các hoạt động giải cứu lại đòi hỏi phải thật nhanh chóng và chính xác, vì thế, kết quả thật thương tâm…

– Tác giả cũng mô tả chi tiết về hoàn cảnh những tù binh bị bắt ra sao, bị giam cầm thế nào. Có nhiều người bị chết trong khi bị bắt giữ, có người tìm cách vượt ngục và chịu đựng cuộc đuổi giết dã man của quân cộng sản.

– Điều bi thảm hơn, vì phải giữ bí mật tuyệt đối nên điệp vụ Bright Light đã gây nên nỗi đau đớn khôn cùng cho gia đình các chiến sĩ bị cầm tù hay mất tích. Họ cho rằng chẳng ai thèm ngó ngàng gì tới những người thân yêu của họ đã lên đường chiến đấu vì Tổ Quốc. 

Từ đó, họ lớn tiếng phản đối sự tham chiến của Mỹ tại Việt Nam. Còn với nhiều sĩ quan Hoa Kỳ từng tham gia điệp vụ, mặc cảm đã không giải cứu được đồng đội trở thành nỗi thống hận đầy xót xa, cay đắng, thế nhưng vẫn phải cố kìm nén trong im lặng… 
 
LEAVE NO MAN BEHIND: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War

– Bill Bell gia nhập quân ngũ năm 17 tuổi, rồi trở nên một Airborne-Ranger (Biệt Kích Dù) trực thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Ông đã 4 lần tới Việt Nam. Ông thông thạo tiếng Việt, Thái và Lào. Sau chiến tranh, ông trở lại VN với chức vụ Chief of the U.S. Office cho cơ quan POW/MIA Affairs tại Hà Nội. Trong nhiệm kỳ 12 năm, ông giúp đưa về nước 359 hài cốt binh sĩ Hoa Kỳ.

– Với kiến thức sâu sắc về Cộng Sản, với tính bền bỉ không kém một người châu Á, cộng với sự uyển chuyển “biết mình, biết người” của một nhà thao lược, tất cả đã giúp Bill thực hiện xuất sắc một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và tế nhị. Ông tận sức tìm kiếm “câu trả lời” cho những gia đình có con, anh, em, hay chồng đã mất tích trên chiến trường Việt Nam để họ vơi bớt nỗi đau khôn nguôi.   

Bill Bell đã cống hiến những năm tháng thanh xuân cho nhiệm vụ, từ những ngày đầu khi còn là anh lính bộ binh trẻ hành quân trên núi rừng Cao Nguyên Trung Phần, đến người sĩ quan tiếp nhận lính Mỹ mất tích trong chiến dịch Operation Homecoming. Ông là một trong những người Mỹ cuối cùng rời Việt Nam trên nóc tòa Đại Sứ tháng Tư 75. Ông cũng là người đến những trại tị nạn bị bỏ rơi để phỏng vấn những nạn nhân đang trong tình trạng tuyệt vọng.

– Và chính Bill cũng chịu chung nỗi đau chia lìa của hàng triệu người dân Việt Nam: Vợ và con trai ông đã tử nạn trên chuyến bay đầu tiên của chiến dịch Operation Babylift ngày 4 tháng Tư 1975.

– Bill Bell là điển hình cho sự đấu tranh bền bỉ và khôn ngoan của một người Mỹ hơn 25 năm đối đầu với kẻ thù xảo quyệt và tàn nhẫn CSVN, ngoài mặt chúng rêu rao những lời hoa mỹ về “hàn gắn vết thương quá khứ” nhưng sau lưng xử dụng người chết để mặc cả lợi lộc chính trị và kinh tế.

– “Không Bỏ Lại Bất Kỳ Ai: Bill Bell Trong Nỗ Lực Tìm Kiếm Những Tù Binh Và Người Mỹ Mất Tích Trong Chiến Tranh Việt Nam” là câu chuyện thật của một nỗ lực đậm tình người. Qua đó, cũng vạch trần bộ mặt thật của CSVN, như được mô tả qua nguyên văn của đồng tác giả George J. Veith: “the cold hearted rulers of Hanoi“.

BM  
THÁNG TƯ ĐEN: Những Ngày Tháng Cuối Cùng của Miền Nam Việt Nam 1973-1975 (Dịch giả: Nguyễn Ngọc Anh)

– “Tháng Tư Đen” đã sưu tầm rất nhiều tài liệu Mỹ bản gốc, những cuộc phỏng vấn chưa bao giờ được công bố của một số nhân vật chính thuộc phía VNCH, và rất nhiều các điện tín và văn kiện tối mật của phe Cộng Sản Bắc Việt để viết thành một cuốn sử trung thực nhất về một trong những sự thảm bại lớn nhất và chấn động nhất trong lịch sử Hoa Kỳ mà tới bây giờ vẫn còn bị dư luận Mỹ hiểu sai.

– “Tháng Tư Đen” nghiên cứu sâu xa về hai năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, làm sáng tỏ những yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam chỉ trong vòng 55 ngày. Sách trình bày những nguyên nhân chính, từ các tính toán độc ác của Cộng Sản Bắc Việt cố tình phá hoại Hiệp Định Paris ngay sau lúc ký kết, đến việc Mỹ lạnh lùng cắt bớt viện trợ cho Miền Nam, cho đến các quyết định quân sự và chính trị sai lầm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu…

– “Tháng Tư Đen” đưa ra những bằng chứng đi ngược lại các luận điểm của các học giả và giới truyền thông Mỹ và quốc tế từng rêu rao rằng “Đồng minh Miền Nam của Mỹ là một bọn độc tài tham nhũng chỉ biết dựa vào hỏa lực của quân đội Mỹ”.

– “Tháng Tư Đen” kết luận:

BM
  
1/ Đến năm 1973, mặc dù phải đối phó với các vấn đề nội bộ và kinh tế, Quân Đội Nam Việt Nam đã phát triển thành một lực lượng chiến đấu có khả năng đánh bại quân Cộng Sản Bắc Việt. Nếu quân đội đó đã được chi viện đầy đủ và được Hoa Kỳ yểm trợ lâu dài sau thỏa ước ngưng bắn, thì kết cục của cuộc chiến có thể khác xa.

2/ “Việt Nam Hóa” đã có tác dụng. Tuy nhiên, không có tướng lãnh Hoa Kỳ hay Nam Việt Nam nào tin rằng đất nước này có thể đứng vững nếu không có đầy đủ sự yểm trợ của Không Quân Mỹ. Lý do đơn giản là vì địa hình Việt Nam, chứ không phải vì sự thiếu ý chí của Nam Việt Nam.
  
3/ Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phải là “những kẻ bất tài vô dụng” như cái nhìn đầy thành kiến của phương Tây. Nhiều người trong số họ đã biểu lộ lòng can đảm lạ thường, thậm chí trong những tình huống tuyệt vọng như trong các trận đánh ở Tân Sơn Nhứt, Hố Nai và nhiều nơi khác nữa.



Lược dịch_Trịnh Bình An

Tuesday, March 5, 2019

TRẬN BAN MÊ THUỘT THÁNG 3 NĂM 1975

Lâm Vĩnh Thế


Trận Ban Mê Thuột diễn ra chỉ trong khoảng 1 tuần lễ ngắn ngủi (từ ngày 10-3 đến ngày 18-3-1975) nhưng có tầm vóc hết sức quan trọng trong cuộc chiến kéo dài gần 20 năm. Nó mở màn cho Chiến dịch Tây Nguyên của phe Cộng sản trực tiếp đưa đến quyết định tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệt thoái khỏi Vùng II và gián tiếp tạo ra sự sụp đổ của VNCH vào cuối tháng 4-1975.
Sau khi mất tỉnh Phước Long (vào đầu tháng 1-1975, mà chính quyền VNCH quyết định bỏ luôn, không tìm cách đánh chiếm lại như đối với tỉnh Quảng Trị trong Mùa Hè 1972), các nhà lãnh đạo quân sự của VNCH đều nghĩ và tin rằng phe Cộng sản sẽ tấn công mạnh ở Vùng II, tại Cao Nguyên Trung Phần.
Thật ra, ngay từ trước khi xảy ra trận Phước Long, vào 2 ngày 9-10 tháng 12-1974, trong cuộc họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, diễn ra tại Dinh Ðộc Lập dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, để thảo luận về kế hoạch phòng thủ cho năm 1975, Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH đã tiên đoán là Cộng sản sẽ không tiến hành một cuộc tổng tấn công như họ đã làm trong mùa Hè năm 1972, mà chỉ thực hiện những cuộc tấn công có quy mô lớn, khởi sự tại Vùng II và thời điểm sẽ là trong tháng 3-1975. Tại Vùng II, ông dự đoán là họ sẽ tập trung các cố gắng ở phía Bắc của vùng chiến thuật này, cụ thể là Kontum và phía Bắc của Bình Ðịnh.72 Chính vì vậy, dự kiến Cộng quân sẽ cắt đứt các quốc lộ chính từ duyên hải lên cao nguyên, từ cuối tháng 1-1975, BTTM đã cho chuyển lên Pleiku và Kontum một số lượng rất lớn về lương thực và đạn dược đủ để cho lực lượng phòng thủ Pleiku và Kontum (ước lượng khoảng 20.000 quân) sử dụng trong 60 ngày mà không cần tiếp tế.73

Bản đồ dưới đây cho thấy rõ sự tập trung phòng thủ dày đặc của QLVNCH ở phía Bắc của Vùng II (Pleiku và Kontum) vào đầu tháng 3-1975 như sau:

Bản Ðồ Bố Trí Các Lực Lựợng Phòng Thủ Tại Vùng II
Vào Ðầu Tháng 3-1975
(Trích từ trang 149 của sách Black April)
• 3 Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân (BÐQ) bảo vệ Kontum và 1 Liên Ðoàn BÐQ bảo vệ Quốc Lộ 14 (nối liền Kontum và Pleiku; chạy thẳng xuống phía Nam, đến Ban Mê Thuột)
• 2 Trung Ðoàn 44 và 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh bảo vệ Pleiku
• 4 Trung Ðoàn 40, 41, 42 và 47 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh bảo vệ phía Bắc Bình Ðịnh và các đèo Mang Giang và An Khê trên Quốc Lộ 19 (nối liền Qui Nhơn--tỉnh lỵ của Bình Ðịnhh--với Kontum)
Ðể bảo vệ Ban Mê Thuột chỉ có Liên Ðoàn 21 BÐQ đóng ở Buôn Hồ (một thị trấn nằm cách Ban Mê Thuột khoảng 40 km về hướng Ðông Bắc), các đơn vị cơ hữu của tỉnh Darlac, và Trung Ðoàn 53 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Theo Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Darlac, trên thực tế, Trung Ðoàn 53, đóng tại Phi trường Phụng Dực (cách Ban Mê Thuột khoảng 8 km về hướng Ðông), vào lúc đó chỉ gồm có bộ chỉ huy Trung Ðoàn và 1 Tiểu Ðoàn mà thôi.74
Khi trận tấn công Ban Mê Thuột nổ ra vào ngày 10-3-1975, lực lượng hai bên được bố trí như trong bản đồ sau đây:

Bản Ðồ Trận Ban Mê Thuột
(Trích từ trang 157 của sách Black April)
Nhìn vào bản đồ bên trên, chúng ta thấy rõ là địch quân đã tấn công vào Ban Mê Thuột từ 5 phía với các lực lượng như sau:
• Từ hướng Tây Bắc: với Trung Ðoàn 148, thuộc Sư Ðoàn 316
• Từ hướng Ðông Bắc: với Trung Ðoàn 95B, thuộc Sư Ðoàn 325
• Từ hướng Ðông Nam: với Trung Ðoàn 149, thuộc Sư Ðoàn 316
• Từ hướng Tây: với Tiểu Ðoàn 4, thuộc Trung Ðoàn 24, Sư Ðoàn F10
• Từ hướng Nam: với Trung Ðoàn 174, thuộc Sư Ðoàn 316
Như vậy, lực lượng chính tấn công Ban Mê Thuột là Sư Ðoàn 316, với 3 Trung Ðoàn cơ hữu là 148, 149, và 174, tăng cường thêm với 1 trung đoàn của Sư Ðoàn 325 và 1 tiểu đoàn của Sư Ðoàn F10, và, dĩ nhiên, với các đơn vị pháo binh, chiến xa, và đặc công. Sư Ðoàn 316 trước đây chỉ hoạt động tại Lào và từ năm 1974 đã được lệnh quay trở về Bắc Việt. Sư hiện diện của sư đoàn này tại Miền Nam sẽ là một bất ngờ cho giới tình báo VNCH.
Sau đây chúng ta cố gắng tìm hiểu sự sắp xếp và chuẩn bị cho cuộc tấn công của phe Cộng sản và những hoạt động tình báo của hai bên trước khi cuộc tấn công nổ ra.
Việc phe Cộng sản quyết định tấn công Ban Mê Thuột thay vì Pleiku một phần lớn là do họ đã nắm được tin tức về buổi họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia của VNCH vào 2 ngày 9-10 tháng 12-1974. Toàn bộ kế hoạch phòng thủ cho năm 1975 của Ðại Tướng Cao Văn Viên trình bày tại buổi họp đã được một điệp viên thuộc loại “trường kỳ mai phục,” làm việc ngay trong văn phòng của Tướng Viên tại BTTM QLVNCH, báo cáo đầy đủ về Hà Nội.75,76
Trong khi đó, nội bộ ban tham mưu của Quân Ðoàn II lại không đồng ý với nhau về mục tiêu tấn công của phe Cộng sản tại Vùng II: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II tin rằng họ sẽ tấn công Pleiku, trong khi đó thì Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 (phụ trách về tình báo) của Quân Ðoàn II thì lại tin là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột. Việc Tướng Phú không tin vào nhận định của Ðại Tá Tiếu có thể có một số lý do như sau: 1) Tướng Phú tin tưởng và dựa vào kế hoạch phòng thủ năm 1975 của BTTM như đã trình bày trên; 2) Sự tin tưởng này của Tướng Phú được tăng cường thêm sau buổi họp ngày 18-2-1975 tại Sài Gòn để duyệt lại kế hoạch phòng thủ 1975 này và chính Tổng Thống Thiệu lưu ý ông việc Cộng quân có thể sẽ đánh Pleiku; chính vì vậy ông đã một lần nữa, tại buổi họp ngày hôm sau, 19-2-1975, tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn ở Pleiku, bác bỏ báo cáo của Ðại Tá Tiếu về khả năng tấn công Ban Mê Thuột dựa trên những tin tình báo mới; và 3) Khi nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Tướng Phú không chọn được những sĩ quan thân tín của mình mà phải chấp nhận những sĩ quan đang phục vụ trong bộ tham mưu của Quân Ðoàn (trong đó có Ðại Tá Tiếu).
Về phía Cộng quân, dựa vào kế hoạch phòng thủ năm 1975 của VNCH mà họ đã nắm được cộng thêm việc bố trí lực lượng phòng thủ dày đặc của Quân Ðoàn II ở phía Bắc của Vùng II, họ thấy rõ là Tướng Phú tin rằng họ sẽ tấn công Pleiku. Do đó họ đã tập trung cố gắng làm mọi động tác giả để đánh lừa Tướng Phú, làm cho ông tin rằng ông đã tính toán đúng là họ sẽ đánh Pleiku chứ không phải Ban Mê Thuột.
Nhìn chung, phe Cộng sản đã lại áp dụng phương thức mà họ đã từng sử dụng trong lúc chuẩn bị trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân để đạt được mục tiêu này. Phương thức đó gồm 2 phần: 1) Bảo mật tối đa về mục tiêu thật của trận tấn công là Ban Mê Thuột; và, 2) Thực hiện môt số động tác giả để đánh lừa đối phương khiến cho đối phương tin là mục tiêu thật của trận tấn công sẽ là Pleiku-Kontum.
Bảo mật:
Về phương diện bảo mật, rút kinh nghiệm từ trận Mậu Thân, mục tiêu Ban Mê Thuột của trận tấn công được giữ kín tối đa. Các tư lệnh tại mặt trận chỉ được biết vào cuối tháng 1-1975, và tư lệnh các đơn vị sẽ tham gia tấn công chỉ được thông báo từ đầu tháng 2-1975. Hà Nội cũng quyết định giữ nguyên các đơn vị đang có mặt ở phía Bắc của Vùng II (Pleiku-Kontum) là các Sư Ðoàn 2, Sư Ðoàn 3, Sư Ðoàn F10 và 2 Trung Ðoàn độc lập 25 và 95A, và ra lệnh cho các đơn vị đó tăng cường các hoạt động đe dọa vùng này. Trong khi đó, các đơn vị sẽ tham gia tấn công Ban Mê Thuột đều là các đơn vị trừ bị đang đóng quân tại Lào hay tại Bắc Việt được bí mật di chuyển vào các vị trí chung quanh Ban Mê Thuột để chuẩn bị tấn công. Sư Ðoàn 316, đơn vị chủ lực của trận tấn công vào Ban Mê Thuột, trước kia chỉ hoạt động tại Lào, sau đó được điều dộng trở về Miền Bắc, đã nhận được lệnh di chuyển vào Nam vào ngày 15-1-1975, nhưng để lại bộ phận truyền tin tại Miền Bắc để tiếp tục gửi đi các báo cáo nhằm đánh lừa các đơn vị SIGINT của QLVNCH.77
Ðánh lừa:

Ðầu tháng 2-1975, một đơn vị của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh QLVNCH bắt được 1 binh sĩ Bắc Việt tại một địa điểm ở phía Tây tỉnh Bình Ðịnh gần đèo An Khê. Qua thẩm vấn được biết binh sĩ này đã tháp tùng viên tư lệnh của Sư Ðoàn 3 Bắc Việt đi thám sát đèo An Khê. Trong mình binh sĩ này có giữ một bản đồ ghi rõ các địa điểm mà Sư Ðoàn 3 dự định sẽ đóng chốt để cắt đứt Quốc Lộ 19 là con đường huyết mạch nối liền Qui Nhơn (tỉnh lỵ của tỉnh Bình Ðịnh) với Pleiku. Cùng lúc đó, Phòng 2 của Quân Ðoàn II cũng bắt được tin Sư Ðoàn 968 Bắc Việt đang đóng tại Lào đã di chuyển sang lãnh thổ VNCH. Tướng Phú tin rằng Cộng quân đang chuẩn bị tấn công Pleiku, và ông đã ra lệnh cho Trung Ðoàn 47 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đến trấn giữ đèo An Khê.78 Lý do Trung Ðoàn 47 được giao cho nhiệm vụ này vì vị sĩ quan Trung Ðoàn Trưởng, Trung Tá Lê Cầu, là người rất quen thuộc địa hình vùng đèo An Khê vì ông đã từng chiến đấu tại đây trong trận Tổng Tấn Công Mùa Hè 1972. Trong suốt tháng 2-1975, các đơn vị Cộng quân hiện diện trong vùng liên tục pháo kích Kontum và Pleiku cũng như đánh phá các chốt bảo vệ đèo An Khê trên Quốc Lộ 19 của Trung Ðoàn 47.79 Các đơn vi này do 2 Sư Ðoàn F10 và 320 để lại để thực hiện kế hoạch nghi binh, còn toàn bộ 2 sư đoàn này đã di chuyển xuống phía Nam để chuẩn bị tấn công Ban Mê Thuột. Tất cả những hoạt động này của địch làm cho Tướng Phú càng thêm tin là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của cuộc tấn công sắp tới của Cộng quân.
Giữa tháng 2-1975, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Nguyễn Tú của báo Chính Luận, Tướng Phú đã nói ra tất cả những gì ông suy nghĩ và phân tích về cuộc tấn công sắp tới của địch. Ṓng tin rằng địch sẽ sử dụng một lực lượng cấp sư đoàn để cắt đứt Quốc Lộ 19 trước khi tấn công Pleiku.80
Ngày 18-2-1975, Tướng Phú về Sài Gòn dự phiên họp với các tướng tư lệnh quân đoàn do Tổng Thống Thiệu triệu tập để duyệt lại kế hoạch phòng thủ cho năm 1975. Tại phiên họp này, chính Tổng Thống Thiệu tái xác định khả năng địch có thể tấn công Pleiku ở Vùng II. Ðiều này càng làm cho Tướng Phú thêm tin tưởng là ông đã nghĩ đúng về mục tiêu tấn công sắp tới của địch quân.81 Do đó, ông đã một lần nữa bác bỏ nhận định của Ðại Tá Tiếu về khả năng địch sẽ tấn công Ban Mê Thuột tại phiên họp của ban tham mưu Quân Ðoàn II ở Pleiku vào ngày hôm sau, 19-2-1975.
Ðầu tháng 3-1975, trước một số tin tình báo về các hoạt động của địch chung quanh Ban Mê Thuột làm Tướng Phú có phần nao núng. Ngày 4-3-1975, ông ra lệnh cho Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh di chuyển về Ban Mê Thuột. Việc di chuyển này sắp bắt đầu thì vào lúc 2 giờ trưa cùng ngày, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II tại Pleiku bị địch quân pháo kích, Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân này.82 Cùng ngày địch quân tấn công dữ dội vào các đơn vị của Trung Ðoàn 47 và cắt đứt Quốc Lộ 19 tại hai nơi. Tướng Phú tin chắc là địch quân đã bắt đầu chiến dịch tấn công vào Pleiku.
Việc chuyển quân của Sư Ðoàn 316 từ Bắc vào Nam cũng như của Sư Ðoàn 968 từ Lào sang Việt Nam, mặc dù được ngụy trang rất kỹ như đã trình bày bên trên, sau cùng vẫn bị SIGINT của QLVNCH phát hiện. Sau khi phân tích tín hiệu, và đánh giá, Phòng 7 BTTM QLVNCH nhận định là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột. Ngày 7-3-1975, 3 ngày trước khi trận Ban Mê Thuột nổ ra, Chuẩn Tướng Phạm Hữu Nhơn, Trưởng Phòng 7, BTTM QLVNCH, cùng với Tom Glenn là Trưởng đơn vị của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (National Security Agency – NSA) của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã bay lên Pleiku để đích thân báo cho Thiếu Tướng Phú về nhận định của Phòng 7 là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột (cuộc họp này có mặt cả Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 của Quân Ðoàn 2) nhưng Tướng Phú vẫn không tin.83 Ngay cả vào lúc 10 giờ sáng ngày 9-3-1975, sau khi Thuần Mẫn, thuộc tỉnh Phú Bổn, đã mất, và Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức cũng đã bị chiếm, ông bay xuống Ban Mê Thuột để họp với các đơn vị trưởng tại đây để duyệt xét tình hình, Tướng Phú vẫn còn tiếp tục nghĩ và tin là tất cả chỉ là nghi binh. Ông vẫn chờ cuộc tấn công vào Pleiku, một cuộc tấn công chẳng bao giờ xảy ra. Sáng sớm ngày hôm sau, 10-3-1975, trận tấn công vào Ban Mê Thuột nổ ra và chỉ trong 2 ngày toàn bộ thị xã này đã lọt vào tay Cộng quân.
Kết luận: QLVNCH thua trận Ban Mê Thuột không phải vì tình báo yếu kém mà rõ ràng là do Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II bị định kiến quá nặng nề, Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, với trách nhiệm phải bảo vệ một lãnh thổ quá rộng lớn như thế (gồm tất cả 12 tỉnh, 7 tỉnh cao nguyên là Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Tuyên Ðức và 5 tỉnh duyên hải là Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận), thì Quân Ðoàn II, chỉ với 2 sư đoàn bộ binh (22 và 23) cùng một số liên đoàn BÐQ, cũng khó mà đương đầu nổi với một lực lương địch quân đông gấp 3,4 lần với các Sư Ðoàn 2, 3, F10, 968, 316, 320, và 325, và 1 số trung đoàn độc lập. Một bằng chứng rõ ràng là việc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột đã không thể thực hiện được. Và đó là một trong những lý do đưa đến quyết định triệt thoái Quân Ðoàn II rất tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại phiên họp định mệnh ngày 14-3-1975 tại Cam Ranh.
Thay Lời Kết
Không thể phủ nhận được vai trò hết sức quan trọng của tình báo trong Chiến Tranh Việt Nam, cũng như trong bất cứ cuộc chiến tranh nào. Và vì thế, dĩ nhiên, các quân đội của các phe lâm chiến đều phải tổ chức một hệ thống tình báo thật đầy đủ và tinh vi để có thể nắm được ý đồ và mục tiêu của đối phương cũng như che dấu và đánh lừa đối phương về ý đồ, mục tiêu của mình. Trong Chiến Tranh Việt Nam, VNCH và Ðồng Minh Hoa Kỳ đã tổ chức được một hệ thống tình báo rất hữu hiệu. Rất tiếc, trong một số trận đánh quan trọng, các cấp chỉ huy tình báo và quân sự của VNCH và Hoa Kỳ, vì định kiến quá nặng nề, đã không tin tưởng vào chính hệ thống tình báo của mình, và vì thế đã thất bại, không nắm được ý đồ và mục đích của địch quân.




GHI CHÚ:

 72. Veith, George J., Black April: the fall of South Vietnam, 1973-1975. New York: Encounter Books, 2012. Tr. 116-117.
73. Veith, George J., sđd, tr. 118.
74. Nguyễn Trọng Luật, Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://googletienlang2014.blogspot.ca/2015/03/ai-ta-nguy-nguyen-trong-luat-nhin-lai.html
75. Veith, George J., sđd, tr. 124-125.
76. Giải mật về điệp viên H3: người khiến CIA kinh ngạc, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/giai-mat-ve-diep-vien-h3-nguoi-khien-cia-kinh-ngac-854914.tpo
77. Veith, George J., sđd, tr. 131.
78. VEith, George J., sđd, tr. 136-137.
79. Chiến dịch Tây Nguyên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn#Nghi_binh
80. Nguyễn Tú, “Trận đấu trí tại Tây Nguyên,” Chính Luận, số, ra ngày 18-2-1975, tr. 1, 3, 6.
81. Veith, George J., sđd, tr. 143.
82. Nguyễn Trọng Luật, tài liệu trực tuyến đã dẫn.
83. Veith, George J., sđd, tr. 148, 150.

Wednesday, February 13, 2019

NSA TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trụ sở Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA)
Ngày 17 tháng 2 năm 2000, trung tướng Michael V. Hayden, giám đốc NSA đã đọc một bài điều trần đặc biệt về lịch sử và tầm quan trọng của NSA đối với nền an ninh, hòa bình và thịnh vượng của Hoa Kỳ cũng như thế giới. Được biết, theo sắc lệnh USC 201, giám đốc NSA phải được chính tổng trưởng quốc phòng bổ nhiệm với sự phê chuẩn của tổng thống. Theo quân lệnh 500.20 của bộ quốc phòng Hoa Kỳ, người được tổng trưởng quốc phòng bổ nhiệm vô chức vụ giám đốc NSA phải là quân nhân cấp tướng 3 sao trở lên. Riêng phó giám đốc NSA sẽ là một chuyên viên kỹ thuật có kinh nghiệm và trình độ. Khi bổ nhiệm giám đốc NSA, tổng trưởng quốc phòng Mỹ phải có trách nhiệm tham vấn giám đốc cơ quan tình báo CIA và hai bên phải đạt được sự đồng thuận khi bổ nhiệm, trước khi đệ trình lên tổng thống. Sau đây, mời qúy độc giả theo dõi một số dữ kiện quan trọng về cơ quan an ninh NSA được tổng hợp từ bài điều trần của trung tướng Michael Hayden và tài liệu của NSA trên Internet.
Trung tướng Michael Hayden
     Trong thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, do nhu cầu tìm kiếm, phát hiện và giải mã những bản mật mã vô tuyến của Đức quốc xã và Phát xít Nhật, một tổ chức tình báo vô tuyến được thành lập trực thuộc phòng quân báo Hoa Kỳ. Đến năm 1952, nhận thức được vai trò quan trọng của một cơ cấu tình báo chiến lược cần có những quyền hạn vượt khỏi sự kiểm soát của lập pháp nên năm 1952, tổng thống Mỹ Truman đã ban hành sắc lệnh thành lập NSA. Trên danh chính ngôn thuận, tổ chức này trực thuộc bộ quốc phòng Mỹ nhưng thực tế, đó là một tổ chức tình báo quyền lực bí mật nhất trong số các cơ cấu tình báo quốc nội cũng như quốc ngoại của Mỹ.
Vì không phải là một tổ chức do quốc hội Mỹ thành lập hay đề nghị nên nhìn chung hoạt động của NSA vượt khỏi sự kiểm soát của quốc hội. Các thành viên hoạt động trong cơ cấu NSA được coi là "miễn nhiễm" khỏi mọi sự chất vấn từ các thành viên trong quốc hội Mỹ.
Không những vậy, là một tổ chức có trách nhiệm thu thập các tin tức tình báo của đối phương qua mạng lưới truyền thông vô tuyến để cung cấp những dữ kiện quan trọng cho các cơ quan công quyền, bộ quốc phòng cũng như các cơ cấu tình báo quốc gia khác nên NSA không có bổn phận phải liên lạc với báo chí hoặc công khai hóa các hoạt động của mình trước công chúng.
Cho đến gần đây, thấy quyền lực của NSA quá rộng rãi, ảnh hưởng đến quyền tự do được hiến pháp quy định, lưỡng viện quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật có tên Foreign Intelligence Surveillance Act, đồng thời cả hai viện đều cho thành lập ủy ban tình báo để giám sát NSA. Tại Hạ Viện Mỹ hiện nay, dân biểu Porter Goss là chủ tịch Ủy Ban Tình Báo giám sát NSA. Tuy nhiên, hiểu biết của ông về các hoạt động của NSA vẫn rất hạn chế.
Trong khi các cơ quan tình báo khác của Mỹ như FBI, CIA, phòng quân báo Mỹ... đặt trọng tâm việc thu thập tin tức tình báo qua con người (HumInt - Human Intelligence) thì trái lại NSA lại đặt trọng tâm việc thu thập tin tức qua mạng lưới điện tử (ElInt - Electronic Intelligence), trong đó có mạng lưới Echelon.
Phi cơ thám thính U2

Trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, cơ quan NSA đã duy trì một cách thường xuyên liên tục ba mạng lưới thu thập tin tức tình báo điện tử. Mạng lưới thứ nhất có bí danh là Olympic Torch. Mạng lưới này bao gồm các phi cơ thám thính U2 bay ở độ cao từ 20 cây số trở lên trên không phận Lào. Mạng lưới thứ hai có bí danh Comfy Gator. 
Phi cơ C-130 có mang phi cơ Ryan 147
drone (UAV) do thám dưới cánh

Mạng lưới này bao gồm các phi cơ C-130 cũng bay trên không phận Lào nhưng ở độ cao từ 7 ngàn cho đến 10 ngàn thước. Về phía đông bay trên không phận biển Nam Hải và vịnh Bắc Bộ là mạng lưới thứ ba có bí danh Apple. Mạng lưới này bao gồm các phi cơ trinh thám điện tử EC-135 cất cánh từ Okinawa và bay dọc theo miền duyên hải từ Đà Nẵng đến Hải Phòng ở độ cao trên 10 cây số.
Tất cả những phi cơ có mặt ở cả ba mạng lưới trên đều có bổn phận thu thập tất cả những điện tín vô tuyến có trong không gian rồi gửi về Thái Lan hoặc Okinawa. Tại đây, những điện tín đó sẽ được chuyển về Fort Meade ở Maryland, Hoa Kỳ. Những bức điện tín hoặc điện đàm này nhiều khi bằng tiếng Việt, tiếng Lào ở nguyên dạng bạch thoại nhưng cũng nhiều khi được mã hóa. Vì vậy, một số chuyên viên có trách nhiệm giải mã các bức điện tín hay điện đàm luôn luôn túc trực suốt ngày đêm tại Fort Meade.
Ngoài ra, các phi cơ tình báo điện tử của Hoa Kỳ còn có trách nhiệm thu thập, phân tích tất cả những bức điện vô tuyến từ các đài không lưu, các trung tâm phòng không chiến lược của cộng sản Việt Nam cũng như cộng sản Lào.
Dựa vào tài liệu lưu trữ của cơ quan NSA, người ta được biết cơ quan NSA đã thu thập được đủ loại đủ dạng những cuộc điện đàm khác nhau của đối phương. Thậm chí ngay cả tên người, bí danh, mệnh lệnh tác chiến, cơ cấu báo động của cộng sản Bắc Việt một khi có máy bay Mỹ đến oanh tạc cũng đều được ghi nhận thường xuyên.
Một trong những nhân vật chuyên phân tích và giải mã các cuộc điện đàm vô tuyến thu thập được là Jerry Mooney, người đã được NSA tuyển chọn từ năm 1957. Sau khi được huấn luyện để trở thành một sĩ quan tình báo chuyên phân tích và giải mã các bản mật điện vô tuyến, Jerry Mooney được gửi đến hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ, Libya và Hồi Quốc. Khi cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn nóng bỏng, Jerry Mooney được lệnh trở lại Fort Meade với trách nhiệm tiếp nhận và phân tích tất cả những tin tức tình báo NSA thu thập được trên không phận vùng Đông Nam Á.
Nhưng trong thời gian 5 năm đầu của cuộc chiến tranh, những tin tức thu thập được của NSA xem ra phí phạm vì không được ứng dụng một cách hiệu quả trên chiến trường cũng như tìm kiếm những phi công Mỹ bị mất tích. Nói đúng hơn, thời gian đầu của cuộc chiến Việt Nam, NSA cố gắng đặt trọng tâm trách nhiệm thu thập những tin tức gì có liên quan đến việc vận chuyển người và vật liệu của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh.

Như chúng ta đã biết, ngay từ khi cộng sản quyết định tiến chiếm Miền Nam bằng võ lực vào năm 1958, cả cộng sản lẫn Hoa Kỳ đều thừa nhận vai trò quan trọng có tính cách chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh. Thực tế, trong thời gian hơn một thập niên, không biết bao nhiêu lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, binh lính của cộng sản được di chuyển qua đường mòn Hồ Chí Minh trước khi thâm nhập vào Miền Nam.
Tuy nhận thức được thực tế nguy hiểm này, chính phủ Hoa Kỳ bị trói chân trói tay vì đường mòn Hồ Chí Minh nằm trên lãnh thổ Lào, một quốc gia trung lập. Nói đúng hơn, đây là một quyết định sai lầm của quốc hội Mỹ qua đạo luật được mệnh danh là "Congressional Rules of Engagement". Đây là một đạo luật ấn định những luật lệ nhằm kiểm soát việc tiến hành chiến tranh của hành pháp đứng đầu là tổng thống Mỹ.
Dựa vào những gì đã được phanh phui trong thời gian gần đây, người ta thấy đạo luật trên đã có những điều khoản thật vô lý dẫn đến những thuận lợi lớn lao cho cộng sản Bắc Việt. Cụ thể như đạo luật đó đã ấn định không quân Mỹ chỉ được phép tấn công các mục tiêu trên đường mòn Hồ Chí Minh như binh lính hay xe cộ một khi mục tiêu di động. Trong trường hợp binh lính cộng sản nghỉ qua đêm hay xe cộ của cộng sản dừng lại tại một bãi đậu xe cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 100 thước, phi công Mỹ không được phép tấn công cho dù có phát hiện được. Thậm chí các phi công cũng không được phép tấn công những khẩu súng phòng không điện của cộng sản được bố trí để bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh (The Congress stated that lorries and men could only be attacked while they were actually moving down the trail. Pilots were not allowed to attack troops resting for the night or trucks parked up in a lorry park a 100 yeards or so off the trail. They were not even supposed to attack the anti-aircraft batteries that protected the trail. Comfy Gator Holding an Olympic Torch. tr.33).
Chính những điều khoản cấm đoán này đã khiến các chuyến bay của phi công Mỹ trên không phận Lào trở nên nguy hiểm nếu không nói là tự sát. Ngay trên lãnh thổ Bắc Việt, mạng lưới súng phòng không hoạt động bằng điện và hệ thống hỏa tiễn SAM cũng nằm trong tình trạng bắn phi công Mỹ một cách thoải mái mà không lo sợ bị phi công Mỹ tấn công. Đến khi tướng Lavelle, tư lệnh đệ thất không lực Mỹ, ra lệnh cho các phi công Mỹ được quyền tấn công các phi cơ MiG một khi chúng tấn công các pháo đài bay B-52, lập tức ông bị truy tố tội bất tuân lệnh dám thực hiện những cuộc tấn công trái phép tại Bắc Việt Nam.
Hậu quả của những đạo luật vô lý trên đã khiến các nhân viên thuộc cơ quan NSA chỉ được lệnh sàng lọc những tin tức tình báo trên không phận Lào để tìm kiếm những cuộc di chuyển của cộng sản Bắc Việt chứ không phải phát hiện những nơi cộng sản đồn trú.
Nhưng đột nhiên vào ngày 25 tháng 11 năm 1968, Jerry Mooney phát hiện ra một bức điện văn của cộng sản Bắc Việt có nội dung khác hẳn những bức điện văn từ trước đến nay. Bức điện văn được gửi từ trung đoàn phòng không 218 đến ban tham mưu sư đoàn 367 với nội dung "Joseph C. Morrison San D. Francisco vừa bị bắt sống và đang được giải lên bộ tư lệnh sư đoàn".
Thoạt đầu khi nhận được bức điện tín như vậy, Jerry Mooney cho rằng người phi công bị bắt quê ở Francisco. Nhưng sau khi phối kiểm với lực lượng không quân tiền phương tại Việt Nam, Jerry Mooney biết được vào ngày 25 tháng 11 năm 1968 có hai phi công Mỹ tên là Joseph C. Morrison và San D. Francisco đã bị mất tích trên không phận Việt Lào. Khi đó cả hai đang thực hiện một phi vụ chiến thuận trên chiếc phi cơ F4D tại khu vực gần Ban Karai Pass, một cửa khẩu hậu cần quan trọng của cộng sản giữa Bắc Việt và Lào.
Theo báo cáo của phòng quân báo thuộc không lực Hoa Kỳ thì phi cơ đã bị trúng đạn phòng không và cả hai đã nhảy dù an toàn xuống mặt đất. Lúc đầu, cả hai đã nhanh chóng tránh né được kẻ thù và Francisco đã liên lạc bằng vô tuyến với một phi cơ Mỹ đang bay trên trời. Cuộc tìm kiếm và giải cứu được thực hiện gấp rút nhưng không làm sao bắt liên lạc được Morrison. Đến khi cuộc giải cứu được thực hiện thì đột nhiên, mối liên lạc với Francisco bị cắt đứt. Từ đó, Francisco và Morrison được ghi nhận là mất tích.
Nhưng với bức điện văn của cộng sản do Jerry Mooney phát hiện, rõ ràng cả hai phi công trên đã bị cộng sản Bắc Việt bắt làm tù binh. Không những vậy, Jerry Mooney còn tiếp tục sàng lọc những bức điện văn khác ghi nhận được trong những ngày tiếp đó và phát hiện ra những chi tiết quan trọng như sau.
Thứ nhất, hai viên phi công trên đã bị trung đoàn phòng không 218 bắt sống. Sau cả hai được giải lên bộ tư lệnh sư đoàn 367 lúc đó đang đồn trú tại một vùng thôn quê phía nam của thành phố Vinh, trung phần Việt Nam. Tại đây, hai người đã bị phỏng vấn và bị tra tấn rất dã man.
Thứ hai, sau khi phỏng vấn, cộng sản giải hai viên phi công về trung đoàn 284 tại trung tâm tiếp vận A72 và A1-29. Lúc đó cả hai trung tâm này đang được xây dựng rất quy mô tại vùng Thạch Bản và Long Đại thuộc tỉnh Quảng Bình để chuẩn bị tồn trữ một số lượng khổng lồ lương thực, vũ khí sẵn sàng cho cuộc tấn công vào đầu năm 1972.
Thứ ba, hai viên phi công đã bị buộc làm lao công tại một số vị trí tối mật của cộng sản Bắc Việt. Điều này có nghĩa cộng sản đã áp đặt án tử hình cho cả hai người nên sau này trong số những tù binh Mỹ được trao trả không hề có tên Morrison và Francisco.
Chính những phát hiện động trời trên đây đã khiến Jerry Mooney tin tưởng từ xưa đến nay cơ quan tình báo an ninh NSA của Hoa Kỳ đã không biết tận dụng những bức điện văn của kẻ thù để qua đó khai thác những tin tức liên quan đến sự mất tích của các quân nhân Mỹ. Nhưng sau khi đệ trình lên thượng cấp đề nghị của mình, Jerry Mooney đã phải chờ đợi tới hai năm trời trước khi anh được phép báo cáo những gì anh đã phát hiện. Kết quả, nếu từ năm 1963 đến 1970 chỉ có 5% tổng số phi công Mỹ mất tích được cơ quan tình báo NSA theo dõi thì sau năm 1970 đã có tới 90% được tường trình và lập thành hồ sơ báo cáo.

Phạm Thái Lai