; }

LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT HOA KỲ TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM (PHẦN 2)

 Hành-quân Salem House Cam Bốt 161


Ðầu năm 1969, hải cảng SihanoukVille nhộn nhịp qua lại với những chiếc tầu chở hàng đến từ những quốc gia Ðông Âu. Hàng đoàn xe vận tải của công ty Hak Ly chờ bốc hàng, sau đó dùng đường số 4 đến Nam Vang.Ðoàn xe rẽ vào một kho tiếp vận quân sự ở ngoại ô thành phố, giao đồ tiếp liệu cho các viên chức Bắc Việt Nam. Những kiện hàng bí mật chứa vũ khí, đạn dược được tiếp tục vận chuyển suốt đêm trên đường số 7, băng qua đồn điền cao-su đến vùng biên giới rậm rạp thuộc tỉnh Kompong Cham hay khu vực Lưỡi Câu. Khu vực này do đơn-vị Hậu-Cần 70 chăm sóc, gồm nhiều kho lương thực tiếp vận yểm trợ cho công-trường 5, 7 Cộng Sản Bắc Việt và công-trường 9 Việt-Cộng.
Tất cả vũ-khí, đạn dược vào đến lãnh thổ quân-khu III và IV đều qua ngả Cambodia. Sao hai mươi mốt tháng bí mật xâm nhập, đơn vị SOG đã khám phá ra nhiều mật khu chứa tới 200 ngàn quân CSBV và Việt-Cộng. Hành quân xâm nhập vào đất Miên có tên là Daniel Boon, đến mùa thu năm 1969 cải danh thành Salem House để bảo mật. Sự hiện diện của quân đội Bắc Việt được xác định ngày 2
tháng Ba khi một toán biệt kích SOG thuộc bộ chỉ-huy Nam (CCS) bị địch phát giác, truy kích kết quả chết hai quân nhân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ là Trung-Sĩ William Evans và Micheal May. Xác của họ không tìm ra.
Tổng thống Hoa-Kỳ Johnson ra lệnh cho pháo-đài bay B-52 bí mật thả bom khu vực Lưỡi Câu gây ra 73 tiếng nổ phụ. Chỉ có viên phi công và sĩquan navigator biệt mục tiêu của trận ném bom. Một tháng sau, tổng thống Johnson ra lệnh cho B-52 thả bom trên mục tiêu do tướng Abram đề nghị. Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) do một hàng binh chỉ điểm. Mục tiêu này cách Memot 14 dặm về hướng
đông nam, trên đất Cambodia, cách biên giới một dặm. Trận đánh bom này xẩy ra ngày 24 tháng Tư.
Chuẩn Tướng Phillip B. Davision trưởng phòng Nhì cơ-quan MACV yêu cầu đơn vị SOG cho một đơn vị nhẩy vào thanh toán chiến trường sau khi trận ném bom B-52 chấm dứt. Ðại-Tá Cavanaugh ra lệnh cho bộ chỉ huy Nam (CCS) chuẩn bị cho một đại đội Hatchet Force nhẩy vào.
Trong khi đó nơi bộ chỉ huy Nam, Nhiệm vụ được giao cho 'Mad Dog Shriver' một huyền thoại sống. Taị căn cứ Fort Braggs (bộ chỉ huy LLÐB/HK) không ai biết đến đơn vị SOG cũng như hành quân Daniel Boon hoặc Salem House, nhưng đều biết Trung-Sĩ Nhất Jerry Shriver mà đài Hà-Nội gọi là 'Chó Ðiên'. 'Mad Dog' Shriver cũng là người phát ra câu nói nổi tiếng trong lịch sử đơn vị SOG. Toán của anh ta bị địch bao vây, phi cơ điều không FAC cho Shriver biết 'Tình hình coi bộ rất xấu', anh ta trả lời tỉnh bơ 'Không, không có gì đâu. Tôi phải đánh nhau với tụi nó tại chỗ tôi muốn - (Bị bao vây cứng bên trong lòng địch)'.
Sáng ngày 24 tháng Tư năm 1969, trong khi các phi cơ B52 cất cánh từ đảo Guam, đại đội xung-kích Hatchet Force thuộc bộ chỉ huy Nam (CCS) tập họp trên phi đạo Quản-Lợicách bộ chỉ huy Trung-Ương Cục Miền Nam khoảng 20dặm. Ðại đội xung kích này có nhiệm vụ vào thanh toán chiến trường, sau khi B-52 ném bom.
Năm chiếc trực thăng Green Hornet chỉ đem được hai trung đội vào vùng hành quân.Trung đội 3 do Thiếu-Úy Bob Killebrew phải ở lại phi trường Quản-Lợi. Trung đội 1 của Trung Úy Walter Marcantel và trung đội 2 doTrung-Úy Greg Harrigan nhẩy xuống bộ chỉ huy Trung Ương Cục. Khi hai trung đội lên máy bay, các pháo đài bay B52 sửa lại đội hình lần cuối trước khi đến mục tiêu. Trận ném bom vừa xong, các trực thăng đáp xuống thả hai trung-đội xung kích rồi bay đi.
Rồi thì súng đạn vang dội nổ khắp nơi, các biệt-kích quân vội nhào xuống các hố bom hoặc nằm sau những thân cây mới bị B-52 đốn ngã để tránh đạn. Nằm cuối đoàn quân, Shriver gọi máy cho biết có khẩu đại liên của địch phiá trước bên trái. Khẩu này trấn áp không cho toán của Shriver ngóc đầu lên được,trong khi đó Ðại-úy Cahill, Trung-úy Marcantel và y-tá Trung-Sĩ Ernest Jamison báo cáo cũng bị địch đàn áp. Jamison chạy ra để cứu người bị thương bị bắn gục tại chỗ.
Không ai có thể di chuyển được. Nổi điên, Shriver cùng một biệt kích quân Thượng chạy lên để thanh toán khẩu đại liên. Cả hai biến mất, không tìm ra xác. Jamison nằm chết cách hố bom chừngvài thước, Ðại-úy Cahill nghe từng tràng đạn AK, B-40 của địch cầy nát mặt đất, khi ông ta ngóc đầu lên, một viên AK xuyên qua miệng, đi ngược lên trên làm hư một mắt. Bị thương nặng, ông ta gục xuống. Trong một hố bom khác, Trung-Úy Harrigan đang điều khiển trực thăng võ trang bắn rocket và minigun cản những đợt xung phong của địch. Harrigan báo cáo đã thiệt hại hơn nửa trung đội chết hoặc bị thương. Nhờ bìnhtĩnh điều không, Trung-Úy Harrigan cầm cự được khoảng 45 phút, sau đó trúng đạn tử trận.
Ðại-Úy O'Rourke bay trên đầu muốn xuống nhưng chiếc trực thăng chở ông ta không qua khỏi màn lưới lửa của địch quân. Trung-Tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam cũng không xuống được, biết phe ta đang bị tàn sát ở dưới họ đành bó tay. Cuối cùng chỉ còn Trung-Úy Marcantel còn sống, anh ta điều khiển luôn mất chiếc B57 Canberra của Úc-Ðại-Lợi thuộc phi-đoàn số 2 cất cánh
từ Phan Rang vào đánh giải vây cho trực thăng vào đem ra được Trung-Úy Marcantel đã bị thương cùng chín biệt kích quân Thượng. Ba chiếc khác vào đem ra được thêm 15 quân nhân bị thương cùng xác Trung-Úy Harrigan. Cuộc hành quân coi như chấm dứt Ðại-Tá Cavanaugh đến thăm hỏi các quân nhân sống sót, sau đó nói với Tướng Davidson 'Nếu tôi biết kết qủa sẽ như vậy, tôi sẽ không đưa họ vào chỗ chết'. Tướng Davidson nhận trách nhiệm về chuyến hành quân vào bộchỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam. Trung Úy Marcantel bình phục, ông ta chết khoảng sáu tháng sau trong một chuyến nhẩy dù trong căn cứ Fort Davens, tiểu bang Massachusetts. Ðại-Úy Cahill giải ngũ vì vết thương. Xác Ernest Jamison thâu hồi được ít lâu sau. 'Mad Dog' Shriver cho đến nay vẫn không tìm ra xác.
Ðược báo cáo về số tổn thất của đơn vị SOG, Tướng Abrams ra lệnh cho cơ quan MACV phân tích về sự thiệt hại của đơn vị SOG trong vòng hai tháng đầu năm 1969. Kết quả 15 quân biệt-kích Mũ-Xanh Hoa-Kỳ chết hoặc mất tích, 68 bị thương và mườitrực thăng bị rớt. Ðổi lại, biệt kích SOG tiêu hủy 13 xe vận tải Molotova, giết 1400 địch quân, chỉ điểm mục tiêu cho phi cơ đánh bom gây 455 tiếng nổ phụ.
Tổng thống Nixon ra lệnh cho B-52 thả bom bí mật lần thứ ba trên lãnh thổ Cambodia đầu tháng Năm. Lần này trên nhiều mục tiêu trong đó co căn cứ của trung-đoàn 27 Cộng-Sản Bắc Việt. Toán biệt-kích Illinois xâm nhập vào mục tiêu, phối kiểm trận đánh bom. Toán trưởng là Trung-Sĩ Ben Thompson, toán phó là Trung-Sĩ George Bacon III xuống mục tiêu hai mươi phút khi trận đánh bom chấm dứt. Chưa được nửa ngày, toán biệt kích vừa bắn vừa chạy lấy thân, điều này chứng tỏ bom thả trên mục tiêu có nhiều địch quân. Vài tháng sau, ngày 25 tháng Tám, toán biệt kích Florida do Trung-Sĩ Ken Worthley làm trưởng toán xâm nhập vùng đông bắc Cambodia, nơi tình nghi có trung-đoàn 66 CSBV. Toán này có thêm Trung-Sĩ Bob Garcia, Dale Hanson và bốn biệt-kích quân Việt-Nam, tổng cộng bẩy quân nhân.
Họ xuống bãi đáp an toàn vào lúc trưa và bắt đầu leo lên một dốc núi cao. Ðến hai giờ chiều, toán biệt kích đang ngồi nghỉ trên một sườn núi, Garcia trông thấy hai lính Bắc Việt đang dò tìm dấu vết của họ để lại. Anh ta bắn gục một địch quân, rồi thì đạn AK nổ tứ phiá, thì ra cả một đại đội lính Bắc Việt đang dàn quân ra bao vây toán biệt kích.
Trong khi chạy, người hiệu thính viên Dale Hanson trúng một viên AK mất ngón giữa bàn tay trái, vừa chạy vừa băng bó, Garcia phải thay anhta mang máy. Ðến gần tối, trưởng toán Worthley quyết định trốn trong một thung lũng qua đêm, họ đã rải hơi cay mắt để đánh lạc hướng chó. Sáng sớm hôm sau, họ băng qua khu rừng, khoảng 9:30, toán đang di chuyển trên một sườn đồi bỗng người dẫn đạo
ra dấu im-lặng. Worthley bò tới trước trông thấy hai lính Bắc Việt nơi một con đường mòn. Họ khai hoả giết cả hai, biệt kích quân hướng đạo bị thương nơi tay. Quần áo cho thấy một địch quân là cấp chỉ huy, đeo súng lục có thể mang cấp bậc đại-tá, người kia có lẽ là cận vệ. Toán biệt kích lấy được túi đeo da có đựng tài liệu của viên sĩ quan BắcViệt. Ðơn vị SOG sau khi xem xét tài liệu cho biết toán
Florida đã giết được một sĩ quan tình báo cao cấp của địch.
Trên đường chạy, trưởng toán Worthley trúng một viên AK vào cổ chết tức khắc, còn tất cả đều được trực thăng thả dây cấy cứu kéo lên. Khi về đến Kontum, một chiếc 'Chim Ðen' C-130 của đơn vị SOG đến đem chiếc túi da của viên sĩ quan Bắc Việt về Saigon. Tài liệu trong túi da cho biết một danh sách điệp viên nằm vùng của địch. Tài liệu này cũng xác nhận về chuyện Thái Khắc Chuyên bị Ðại Tá Robert Rheault cựu chỉ huy trưởngLiên Ðoàn 5 LLÐB/HK ra lệnh hành quyết vào tháng Năm1969. Vài tháng sau Ðại-Tá Rheault được tự do, ông ta cũng không biết nhờ công của toán biệt kích Florida.
Trong một chuyến đàu tiên xâm nhập Cambodia năm 1970, toán biệt kích Vermont trên Kontum nhẩy xuống khu rừng rậm rạp trong tỉnh Ratanakiri ngày 5 tháng Giêng tìm kiếm căn cứ binh trạm của địch. Trưởng toán là Trung-Sĩ Franklin 'Doug' Miller, người biệt kích hướng đạo dẫm lên một sợi dây giăng ngang đường, tiếp theo là một tiếng nổ lớn làm bốn biệt kích quân bị thương. Trong phút chốc một nửa toán viên bất khiển dụng và địch đã phát giác sự hiện diện của toán. Miller phụ giúp băng bó cho những người bị thương rồi ra lệnh cho toán phó dẫn toán lên đồi lập vị trí phòng thủ, còn anh ta ở lại, đương đầu với địch quân.
Vừa bắn cầm chừng vừa lui về chỗ phòng thủ, Miller liên lạc yêu cầu triệt xuất toán, sau đó dẫn toán di chuyển đến bãi trực thăng nơi một hố bom lớn cách đó khoảng 175 thước. Khi chiếc trực thăng định đáp xuống bốc toán biệt kích, địch bắn lên xối xả đuổi chiếc trực thăng bay ra chỗ khác rồi tiếp tục tấn công toán Vermont. Toán biệt kích núp trong hố bom chống trả quyết liệt mặc dầu tất cả đều bị thương, kể cả trưởng toán Miller trúng đạn AK nơi tay trái. Anh ta vẫn tiếp tục hướng dẫn toán đến một bãi đáp trực thăng khác, sau đó được một toán cấp cứu Bright Light đem ra an toàn. Miller đem về cho đơn vị SOG huychương danh dự thứ bẩy.
Vùng đông bắc Cambodia rất 'nóng' (nguy-hiểm). Ngày 9 tháng Giêng, một toán biệt kích thuộc bộ chỉ huy Nam do Trung-Sĩ Nhất Larry Barlett làm trưởng toán, toán phó là Trung-Sĩ Richard Thomas trên đường di chuyển đến bãi đáp cách nơi toán Vermont bị tấn công khoảng 30 dặm về hướng nam. Toán này bất ngờ bị một đơn vị địch tấn công chết cả hai quân nhân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ. Toán cấp cứu Bright Light vào chết thêm một biệt kích quân Thượng trước khi đem xác họ ra.
Ngày 11 tháng Ba năm 1970, đảo chính bên Cambodia, hàng ngàn người Miên đập phá toà đại sứ Bắc Việt và Việt-Cộng ở Nam Vang, Hoàng-Tử Sihanouk chạy qua tỵ nạn bên Pháp. Ba hôm sau, toán biệt kích Pennsylvania do Trung Úy Jerry Poole làm trưởng toán xâm nhập vùng rừng núi trong ttỉnh Ratanakiri. Toán này có thêm hai quân nhân Hoa Kỳ là Trung Sĩ Nhất John Boronski, Trung-Sĩ Gary Harned. Sau ba ngày lẩn trốn, họ được một trực thăng vào bốc. Khi chiếc báy may bay lên cao khoảng 100 bộ, trúng một quả B-40 nổ tung, tất cả quân nhân trên máy bay gồm toán biệt kích Pennsylvania cùng phi hành đoàn gồm Ðại úy Michael O'Donnell, Chuẩn Úy John Hosken, Rudy Becerra, và Berman Gande Jr. đều thiệt mạng. Không thâu hồi xác họ được.
Tin tức tình báo cho biết quân Bắc Việt đang mở rộng vùng kiểm soát trên đất Miên về phiá bắc và tây. Họ lấy tỉnh Svay Riêng trong vòng mấy ngày, trong khi đơn vị Bắc Việt khác lấn xuống phiá nam đuổi quân đội Cambodia ra khỏi vùng Mỏ Vẹt. Trong vòng hai tuần lễ, quân đội Bắc Việt chiếm được hai trong số mười bẩy tỉnh của Miên và bao vây thêm năm tỉnh khác, yểm trợcho quân Khmer Ðỏ. Chính phủ mới bên Miên báo động cho thế giới biết về sự xâm lăng của quân đội Bắc Việt, và
Hoa Kỳ bí mật gửi sang Miên 3000 khẩu AK.
Trong trung tâm nước Cambodia, ba Trung-Sĩ Troy Gilley, Ben Lyons, và Charles Chapin bí mật xâm nhập để phối kiểm tin tình báo về một binh trạm dành cho sĩ quan cao cấp Bắc Việt. Họ được bốc ra và ba hôm sau thả xuống một nơi gần những chòi dành cho cấp lớn của địch. Họ gặp lính Bắc Việt di chuyẻn cùng với voi chở đồ. Quân biệt kích phục kích đánh tơi tả, sau đó gọi trực thăng lên bốc về an toàn. Troy Gilley về Saigon báo cáo về chuyến đi, anh ta biết thêm đơn vị Bắc Việt có voi tải đồ bị chận đánh có nhiệm vụ hộ tống hai tướng lãnh Bắc Việt và cả hai đều chết trong trận phục kích vừa qua. Khi bắt đầu trận đánh qua đất Miên do Quân-Lực VNCH và Hoa-Kỳ đảm trách, đơn vị SOG ra lệnh đưa mấy toán biệt kích ngoài Ðà-Nẵng và trên Kontum vào Ban Mê Thuột trợ lực cho bộ chỉ huy Nam (CCS). Sau đó, ngày 30 tháng Sáu, đơn vị SOG chuyển năm toán biệt kích ra bộ chỉ huy Bắc, năm toán khác lên bộ chỉ huy Trung, giao đất Miên hoàn toàn do QL/VNCH đảm trách.
A-244 Dak Pek

TRẬN KHE SANH:
P8
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh , pháo binh của Hennelly đã bắn trên 1.000 quả đạn với đầu nổ hẹn giờ để nổ trên cao, chống bộ binh nhằm yểm trợ làng Khe Sanh
Sau trận đánh, đại tá Lownds đã cho rút toàn bộ đơn vị ở làng Khe Sanh về căn cứ Khe Sanh do vị thế ở đây không thích hợp cho việc phòng thủ. Khu vực này hoàn toàn trống trải do đó thường xuyên bị bắn tỉa. Bên rìa ngôi làng có 1 ngôi đền cao và đây là vị trí duy nhất để có thể quan sát chung quanh. Quan trọng hơn cả, 1 trung đoàn quân BV thuộc sư đoàn 304 đang hoạt động gần đó và có thể tấn công, cô lập ngôi làng bất cứ lúc nào. Đại tá Lownds cũng cho các trực thăng di tản các binh sĩ Nam Việt Nam, cố vấn Mỹ, … tổng cộng hơn 250 người về đóng quân tại phía Tây Nam căn cứ thuộc khu vực FOB-3
Lúc 19h30, 1 toán đặc công của quân BV tìm cách đột nhập vào khu Đỏ – Red Sector nhưng bị trung đội 2 của đại đội L/3/26 đẩy lùi. Quân BV thiệt hại 14 chết. Tổng cộng trong ngày 21, bao gồm cả trận đồi 861, TQLC Mỹ chết 9, 37 bị thương và đã được di tản. Ngoài ra còn có 38 bị thương nhẹ vẫn ở lại chiến đấu
Lúc này, trên đài truyền hình Mỹ bắt đầu xuất hiện 1 số người e ngại về số phận căn cứ Khe Sanh. Họ cho rằng căn cứ Khe Sanh vẫn tồn tại là do quân BV cho phép nó tồn tại. Căn cứ với quân số ít ỏi và phải trải dài phòng thủ trên các ngọn đồi tiền đồn khiến quân Giải Phóng rất dễ thâm nhập hoặc đơn giản bỏ rơi mục tiêu này. Tuy nhiên, đây sẽ là 1 mục tiêu lý tưởng để quân BV tiêu diệt căn cứ này nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền. Trên lý thuyết, khi đường 9 bị cắt đứt, toàn bộ tiếp tế cho Khe Sanh sẽ phụ thuộc đường hàng không và quân Mỹ sẽ phải chơi trò chơi theo sự điều khiển của quân BV giống như tình hình ở trận Điện Biên Phủ. Do đó, theo ý kiến của những người chỉ trích, tốt nhất là rút quân khỏi đây trước khi quá muộn
Tuy nhiên, ở Việt Nam, chỉ có rất ít sự phản đối. Tướng Westmoreland và tướng Cushman . “Sau khi bàn bạc với nhau và tham khảo mọi tình hình. Cả 2 thống nhất với nhau hoàn toàn”. Có nhiều lý do để giữ Khe Sanh. Căn cứ này và các tiền đồn chung quanh chế ngự toàn bộ khu vực và là cửa ngõ để vào Quảng Trị. Tuy không hiệu quả 100% nhưng đây cũng đã là chướng ngại rất lớn để chống lại sự thâm nhập của quân BV từ Lào vào Quảng Trị. Tướng Cushman cho rằng, quân Mỹ có tiềm lực quân sự mạnh hơn và có thể dễ dàng tung các đợt tấn công bằng sự cơ động của không kỵ. Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 1968, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chưa có đủ sức mạnh về trực thăng, căn cứ tiếp liệu, … cho 1 cuộc hành quân lớn như thế. Thời tiết khu vực này rất xấu, mây rất thấp và các đợt mưa lớn khiến các cuộc yểm trợ từ không quân không hiệu quả. Thậm chí nếu Lực Lượng Dã Chiến số 3 có đủ máy bay và nhân sự cho cuộc hành quân thì cũng phải đợi đến tháng 3 hoặc tháng 4 khi thời tiết tốt lên. Do đó, mọi việc phòng thủ đều phụ thuộc vào tự thân của đơn vị trung đoàn 26 TQLC
Các chốt tiền tiêu của căn cứ Khe Sanh trong trận đánh Khe Sanh năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - Location of outpost for Khe Sanh Combat base in battle of Khe Sanh 1968 in Vietnam war
Một sự xem xét kế tiếp là đây là cơ hội để quân đội Mỹ đụng trận với quân BV trong 1 trận mang tính quyết định mà các đợt hành quân Tìm và Diệt của Mỹ theo đuổi bấy lâu nay. Đến lúc này, chưa có vị chỉ huy nào ở Việt Nam mà chưa từng thất vọng khi thất bại trong việc lùng sục, truy bắt, .. một đơn vị quân BV mà luôn trốn thoát được. Ở Khe Sanh, quân BV lại chọn phương án không phải đánh rồi rút mà là đánh rồi ở lại. Đây là cơ hội tốt để đánh bại họ. Thực tế thì căn cứ Khe Sanh đang lôi kéo các đơn vị quân BV tập trung về chung quanh và không quân và pháo binh đang liên tục tấn công họ. Và mặc dù có ý kiến tương phản rằng quân BV lại là người đang dụ TQLC Mỹ về phía khu DMZ thì vẫn có thực tế rằng 2 sư đoàn tinh nhuệ của quân BV là sư đoàn 325C và sư đoàn 304 đang bị trói chân ở Khe Sanh chỉ bằng 1 trung đoàn TQLC mà lẽ ra 2 sư đoàn này có thể tham gia trận đánh các quan trọng khác ở Huế và Quảng Trị
Như thế, chỉ có 2 cách trả lời : rút lui hoặc tăng viện. Tướng Westmoreland trong bản báo cáo đã viết :
“Vấn đề là chúng ta có thể tiến hành tăng viện cho Khe Sanh, giữ nguồn tiếp tế từ đường hàng không, chời đợi thời tiết tốt hơn để tiến hành chiến dịch trên bộ để đánh bại quân BV với quân số đông hơn hẳn. Tôi tin là có thể làm được. Với sự đồng thuận của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Dã Chiến số 3 – III MAF của trung tướng Robert E. Cushman Jr., tôi đã quyết định tăng viện nhằm giữ vững Khe Sanh và tiêu diệt quân BV bằng hỏa lực mạnh đồng thời chuẩn bị phản công khi thời tiết thuận lợi”
Tướng Westmoreland đã gửi báo cáo này đến Washington và binh sĩ tăng viện được chuẩn bị đưa đến tham gia trận đánh Khe Sanh
Lúc 19h ngày 22 tháng 1, tiểu đoàn 1/9 Thủy Quân Lục Chiến của trung tá John F. Mitchell được đưa đến tăng viện cho Khe Sanh. Tuy đã có đến 3 sĩ quan cao cấp Quân BV đã thiệt mạng ở khu vực Đỏ – Red Sector, tướng Tompkins và đại tá Lownds vẫn e ngại cạnh sườn phía Tây và khi tiểu đoàn 1/9 đến nơi, ông liền phái tiểu đoàn này đến lập tuyến phòng thủ ở mỏm đá cách đường băng 1.500m hướng Tây Nam. Khi thiết lập bộ chỉ huy ở mỏm đá này, trung ta Mitchell còn cẩn thận phái 1 trung đội thuộc đại đội A đến lập chốt tiền tiêu trên 1 mỏm đá khác ở hướng Tây cách đó 500m. Các tuyến phòng thủ của tiểu đoàn 1/9 được kết nối chặt với đại đội L/3/26 để có thể dễ dàng yểm trợ lẫn nhau và phía Tây đã khá yên tâm.
Tướng Tompkins và đại tá Lownds lại bàn với nhau về hướng Đông. Đây là địa hình khó khăn nhất cho quân BV do dốc rất đứng và trải ra lòng sông Rào Quán. Tuy nhiên đây lại là khu có cây cối rậm rạp rất dễ để quân BV ngụy trang và băng qua. Lời khai của trung úy Quân BV đầu hàng ngày 20 cũng khá rõ ràng về kế hoạch của trận đánh Khe Sanh. Đầu tiên sẽ là tấn công đồi 861 và 881 Nam. Sau đó, quân BV sẽ dồn ép về phía căn cứ Khe Sanh dọc theo phía Bắc và phía Tây của căn cứ. Tuy nhiên, đó chỉ là hướng nghi binh, một trung đoàn của sư đoàn 304 sẽ lẻn về phía Nam và đánh vòng lên vào mạn Đông của căn cứ thuộc tuyến phòng thủ của tiểu đoàn 1/26 và theo đó, căn cứ sẽ hoàn toàn sụp đổ
--------------------------------------------------------------------------
P9
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh 1968 , tướng Tompkins và đại tá Lownds vẫn luôn e ngại về tuyến phòng thủ sườn Đông của căn cứ
Ngày 27 tháng 1, tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa với quân số 318 người và cũng là tiểu đoàn cuối cùng được đưa đến tăng viện. Đại tá Lownds đã phái tiểu đoàn này đến phía Đông để tăng viện cho tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn này đã ra ngoài tuyến phòng thủ 200m để lập phòng tuyến mới
Tuy hiệp định ngừng bắn trong tháng 1 đến gần nhưng tình hình ở Khe Sanh có thể thấy rõ về sự báo hiệu của trận đánh Khe Sanh với quy mô lớn đang hiện rõ. Sau đó, khi cuộc Tổng Tiến Công và Nội Dậy Tết Mậu Thân 1968 diễn ra khắp nơi, lệnh ngừng bắn ở Vùng I Chiến Thuật bị hủy bỏ. Thủy Quận Lục Chiến Mỹ ở Khe Sanh càng gấp rút gia tăng hoạt động phòng thủ như đào thêm các chiến hào, gia cố các vị trí phòng thủ bằng các bao cát, đắp thêm các hầm chống pháo, … với trù tính về việc căn cứ phải đứng vững trong ít nhất 2 tháng. Quân BV cũng gia tăng các đợt pháo kích cũng như các cuộc tấn công thăm dò ở các vị trí tiền đồn. Trận đánh Khe Sanh đang diễn ra tình trạng cả 2 phía giống như 2 võ sĩ đấu võ đài khi 1 người liên tục tung các quả đấm thăm dò còn 1 đấu sĩ thì phòng thủ kín kỹ chờ đợi tung 1 quả đấm quyết định hạ gục đối thủ
Vị trí các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong tuyến phòng thủ của căn cứ Khe Sanh trong trận đánh Khe Sanh năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - Location of US Marines for Khe Sanh Combat base in battle of Khe Sanh 1968 in Vietnam war
Vị trí các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong tuyến phòng thủ của căn cứ Khe Sanh trong trận đánh Khe Sanh năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam – Location of US Marines for Khe Sanh Combat base in battle of Khe Sanh 1968 in Vietnam war
PHẦN IV
VÒNG VÂY KHE SANH
Khi trận đánh Mậu Thân 1968 diễn ra khắp miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 1 năm 1968 tại 36 trung tâm của tỉnh, 64 trung tâm của địa phương và 5 thành phố lớn thì căn cứ Khe Sanh lại không hề bị tấn công. Rõ ràng là Hà Nội không cảm thấy thích nghi được với cuộc chiến tiêu hao kéo dài nên muốn tổ chức 1 trận đánh mang tính quyết định. Kết quả là Hà Nội đã tung vào trận đánh 62.000 quân sĩ mà một số lớn đã trà trộn vào các thành phố bằng cách giả dạng các thường dân và hy vọng có thể kêu gọi người dân nổi dậy chống chính quyền và kêu gọi binh sĩ miền Nam Việt Nam đào ngũ . Các đơn vị quân Giải phóng này được hứa rằng trong vài ngày tới sẽ có lực lượng tiếp viện đến yểm trợ
Cuộc tấn công diễn ra đã gây bất ngờ trong thời điểm ban đầu nhưng lực lượng Đồng Minh đã nhanh chóng phản công và đến ngày 11 tháng 2 đã tiêu diệt khoảng 32.000 quân BV với phần lớn là du kích và quân sĩ từ Bắc vào. Nhiều đơn vị quân Bắc Việt với mệnh lệnh chỉ là tấn công và chiếm giữ mục tiêu để chờ lực lượng tiếp viện đến đã nhanh chóng bị quét sạch. Đáng chú ý nhất chính là việc những người này là những cán bộ nòng cốt và là những chỉ huy quan trọng của cuộc chiến du kích mà Hà Nội đã nhiều năm đào tào và giữ gìn . Ngoại trừ ở Sài Gòn và Huế, cuộc chiến diễn ra nhiều ngày. Còn ở những nơi khác, đều bị tiệu diệt trong vài ngày
Tuy trả 1 cái giá rất đắc, nhưng Hà Nội đã thành công trong việc gây tiếng vang trong lòng người dân Mỹ. Sự phản đối cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam ngày càng gia tăng và ngày càng nhiều người yêu cầu rút quân Mỹ về nước
Dù muốn dù không, Khe Sanh thực tế là mục tiêu tối thượng của quân BV do đó, họ đã tập trung 2 sư đoàn tinh nhuệ ở đây nhằm mục đích chiếm Khe Sanh, sau đó chiếm Quảng Trị. Có thể xem trận đánh Khe Sanh là mục tiêu chính cho kế hoạch lớn hơn
Sau trận đánh Mậu Thân, các đơn vị du kích là lực lượng chính quy địa phương bị tổn thất nặng thì các đơn vị chính quy miền Bắc không bị ảnh hưởng nhiều. Với 4 sư đoàn quân Bắc Việt đang ở Vùng I Chiến Thuật và trong đó có 2 sư đoàn đang ở Khe Sanh, thực tế cho thấy đòn đánh lớn vẫn chưa được tung ra. Trong nhiều ngày liền sau đó, các đơn vị quân Giải Phóng ra sức đào các vị trí đặt pháo tầm xa lẫn vị trí pháo tầm gần, vị trí pháo cối, lập thêm nhiều nơi cất giấu vũ khí, … tất cả nhằm cho trận đánh Khe Sanh sắp đến
Các sự kiện liên tiếp cho thấy trận đánh Khe Sanh có mức lớn không thể đoán được. Nếu quân BV thắng thế ở Khe Sanh thì tỉnh Quảng Trị sẽ bị nguy khốn vì sườn Tây bị hở. Khi đó, Sài Gòn sẽ bị mất thế trên bàn đàm phán. Chưa kể nếu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tổn thất nặng ở Khe Sanh thì nguy cơ về viễn cảnh của trận Điện Biên Phủ sẽ lặp lại và quân BV sẽ thắng về mặt trận tuyên truyền
Tướng Tompkins và đại tá Lownds cố gắng hết sức để gia cố tuyến phòng thủ để chống lại pháo binh của quân Giải Phóng đang pháo kích ngày càng nặng. Gần như mọi binh sĩ nào vừa được tăng viện đều lập tức được điều đi gia cố các bunker và các hào sâu có nắp che chắn phía trên. Trước đây, quy mô của căn cứ chỉ có 1 tiểu đoàn. Hiện giờ đã tăng lên 5 tiểu đoàn do đó cần thêm nhiều công sự mới, chiến hào mới càng nhanh càng tốt
Bộ chỉ huy trung đoàn yêu cầu các đơn vị cấp dưới phải có hầm trú ẩn với nóc hầm được che chắn chịu được tối thiểu pháo cối 82mm. Các bunker công sự được xây trung bình với diện tích 2.5mx2.5m và các góc hầm và ở giữa được chống bằng các khúc gỗ dày gần 20cm. Trên nóc là lót các tấm vỉ sắt trên đắp các bao cát. Thậm chí 1 số Thủy Quân Lục Chiến còn dùng các vỏ đạn 105mm xếp lên trên như lớp giáp. Trung bình đội công binh của trung đoàn 26 xây 1 bunker như thế mất 3-4 ngày. Bộ binh thì tốn thời gian lâu hơn.
Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến luôn nhận được các câu hỏi : “Công sự của anh chịu được cỡ pháo bao nhiêu ?.”. Vật liệu xây dựng ở Khe Sanh chỉ phụ thuộc đường tiếp liệu hàng không. Bao cát thì dễ dàng nhưng các tấm thép, gỗ, .. thì quả là khó khăn. Do đó quả thực rất khó để TQLC Mỹ xây các hầm, chiến hào, … đủ sâu, đủ dày để chống lại các đợt pháo kích của quân BV
Sự việc càng trở nên đáng ngại khi đại tá Lownds yêu cầu hầm chỉ huy của trung đoàn phải chịu được pháo kích cỡ tên lửa 122mm của quân BV. Khi công binh xây xong, đại tá Lownds yêu cầu nắp hầm phải có độ dày gấp đôi. Nhưng trước khi bộ chỉ huy dời vào trong hầm, 1 quả đạn pháo 152mm của quân BV rơi trúng và xuyên qua cả 2 lớp nóc hầm
--------------------------------------------------------------------------
P10
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh 1968 , tướng Tompkins và đại tá Lownds vẫn luôn e ngại về các đợt pháo kích liên tục bằng pháo 130mm, tên lửa 122mm và thậm chí pháo 152mm của quân BV
Các đợt pháo kích khiến các đồi tiền đồn càng trở nên quan trọng. Nếu họ có thể chiếm các tiền đồn này, họ có thể pháo kích thẳng xuống căn cứ Khe Sanh và Thủy Quân Lục Chiến không thể chống đỡ nổi. Do đó, các ngọn đồi tiền đồn ngoài việc chống đỡ các cuộc tấn công, các đại đội trên đó còn phải thường xuyên giám sát sự di chuyển của các đơn vị quân BV và cảnh báo các vị trí tập trung quân, các đợt tấn công của quân BV, … Trong các vị trí tiền đồn, xa nhất và quan trọng nhất là đồi 881 Nam, đó cũng là lý do vì sao nơi đây chịu nhiều đợt pháo kích và đợt tấn công nhất
Các vị trí súng cối 60mm, 82mm của quân BV thường đóng rải rác cách căn cứ Khe Sanh trong bán kính 2km-3km. Còn các vị trí pháo 130mm, rocket 122mm, .. thường nằm xa về phía Tây và ngoài tầm bắn của các khẩu 105mm, 155mm của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Các dàn phóng tên lửa 122mm của Quân BV là vũ khí cực kỳ lợi hại. Các dàn phóng này khi phóng có độ chính xác cao về quỹ đạo. Tuy nhiên, do sử dụng lực đẩy nên sai số cự ly lại rất lớn. Do đó, quân BV thích sử dụng các vị trí phóng cố định. Khi đó các quả xa lẫn quả gần sẽ đan xen và tạo sự sát thương và phá hủy lớn dọc theo trục bắn. Trong trận đánh Khe Sanh, đường băng ở căn cứ Khe Sanh chạy dọc từ Đông sang Tây do đó trợ thành mục tiêu quá lý tưởng cho các dàn phóng rocket 122mm của quân BV
Trong các vị trí để đặt pháo, lý tưởng nhất là ở quanh đồi 881 Nam, đồi 861. Từ 2 nơi này, quân BV có thể nhìn trực tiếp thẳng xuống căn cứ để pháo kích trực diện. Tuy nhiên, 2 nơi này đã bị quân Mỹ đóng quân. Còn từ vị trí đồi 881 Bắc thì lại bị đồi 861 che khuất. Tuy vậy, quân BV vẫn đặt những dàn rocket 122mm quanh đồi 881 Bắc và từ nơi này, có khoảng 5.000 quả rocket đã được phóng xuống căn cứ Khe Sanh
Với các dàn pháo lớn 130mm và 152mm, do có tầm pháo xa, quân BV đặt ở các sườn núi Cô Rọc hay còn gọi là núi Cơ Rốc nằm phía Tây Nam của đường 9 dọc biên giới Việt Lào. 1 khu vực khác cũng được quân BV đặt pháo gọi là khu 305. Gọi là khu 305 vì nơi này ở vị trí 305 độ hướng Tây – Tây Bắc của đồi 881 Nam và cách đồi khoảng 10.000m. Có khoảng 60-70% các cuộc pháo kích bắt nguồn từ 2 nơi này. Quân BV rất tài trong việc ngụy trang. Nên không quân rất khó phát hiện. Lại quá xa tầm pháo của các khẩu pháo 105mm, pháo 155m từ căn cứ Khe Sanh và cũng vượt tầm của các khẩu 175mm từ căn cứ Rockpile. Quân BV cứ bắn vài phát rồi lại che chắn các khẩu pháo lại nên khó phát hiện các chớp lửa lóe lên từ nòng pháo. Các vị trí này cũng ngoài tầm dọ thám của các đội trinh sát. Các khẩu pháo này có tầm bắn xa và có khả năng phá hủy lớn. Thậm chí có trường hợp quả đạn tịt ngòi nhưng xuyên đến gần 1.3m dưới mặt đất
Đồi 881 Nam thật sự là cái gai trong mắt quân BV vì từ nơi này, các binh sĩ của đại đội I tiểu đoàn 3/26 có thể dùng ống nhòm hoặc các chốt tiền đồn của nơi này có thể quan sát được các diễn biến từ đồi 881 Bắc, khu 305 và khu vực núi Cơ Rốc. Mỗi khi có rocket phóng lên hay chớp lóe sáng của nòng pháo từ các khu vực này, đại đội I lại cảnh báo cho căn cứ Khe Sanh. Bất cứ khi nào có thể, đại đội I lại chỉ điểm cho máy bay oanh kích lập tức. Thực ra rất khó phát hiện ánh sáng lóe lên từ nòng pháo từ hướng núi Cơ Rốc hay khu 305 do khoảng cách quá xa và bị nhiều cây che khuất nhưng tiếng các quả đạn rít trong không khí khi bay qua đồi 881 Nam lại hoàn toàn dễ nghe thấy. Các binh sĩ đại đội I lập tức báo cho mạng đài chiến thuật của tiểu đoàn 3. Mạng này hoàn toàn độc lập và không bị chung với các mạng khác. Các tin tức thường ngắn gọn và dễ hiểu : “Pháo kích, pháo kích, Cơ Rốc” hoặc “Pháo kích, pháo kích, 305”
Ở căn cứ Khe Sanh, binh sĩ giám sát điện đàm khi nghe báo động lập tức nhấn còi hú báo động. Chiếc còi này là từ còi của xe tải 2.5 tấn và còi được lắp trên cây cao. Cả căn cứ sẽ được báo động và các binh sĩ lập tức tìm chổ nấp. Trong các trận đánh quanh Khe Sanh, hạ sĩ Robert J. Arotta sử dụng máy điện đài PRC-41 UHF để liên lạc trực tiếp với các máy bay và chỉ điểm vị trí để các máy bay oanh kích các vị trí pháo và rocket của quân Giải Phóng với tổng cộng hơn 200 đợt tấn công mà không cần sự hỗ trợ của bộ phận điều khiển không quân chiến thuật – Tactical Air Controller và anh được mệnh danh là hạ sĩ can trường nhất thế giới
Đại đội I đóng trên đồi 881 Nam thực sự là cái gai trong mắt quân Giải Phóng nên họ liên tiếp pháo kích vào đâu và các đợt pháo kích đã trở thành cơn ác mộng của Thủy Quân Lục Chiến. Không có thống kê chính xác bao nhiêu viên đạn mà đại đội I đã gánh chịu và họ chỉ chịu số ít đạn cối 60mm và 82mm nhưng lại gánh số lượng đạn pháo 130mm, 152mm lẫn rocket 122mm cực nhiều
Vị trí đặt súng cối mà cày nát đồi 881 Nam là từ hướng Tây Nam của đồi, nơi có thung lũng nhỏ hình chữ U mà quân TQLC Mỹ gọi là vị trí Móng Ngựa. Nơi đây có ít nhất 2 khẩu cối 120mm của Quân BV và chúng liên tục cày nát quả đồi 881 Nam. Mặc dù không quân Mỹ liên tục oanh kích vùng này nhưng không thể phá hủy hoàn toàn được các khẩu cối vì chúng liên tục được thay thế mỗi khi bị phá hủy. Đại úy Dabney cho biết thực tế cần ít nhất 1 tấm vỉ lót sân bay, 8 bao cát, 1 tảng đá to hoặc 1 vỏ đạn 105mm để ngăn chận 1 quả đạn cối 120mm loại có ngòi nổ lập tức và đồi 881 Nam hoàn toàn không có vật liệu gì có thể chống lại nếu quả đạn cối 120mm được lắp ngòi nổ chậm
Vì địa hình theo dạng chỏm, nên càng lên cao, địa hình càng thu nhỏ và 1 viên đạn cối 120mm thực sự gây thiệt hại nặng nề khi rơi trúng trong chu vi phòng thủ. Chỉ tính riêng đồi 881 Nam, đã có 40 binh sĩ TQLC bị thiệt mạng và hơn 150 người đã bị thương ít nhất 1 lần vì đạn pháo
-------------------------------------------------------------------------
P11
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh 1968, các đợt pháo kích liên tục của quân BV đã thực sự trở thành cơn ác mộng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ
Có 2 yếu tố giúp giảm thiểu thương vong do đạn pháo đến mức thấp nhất đối với TQLC trong trận đánh Khe Sanh. Đầu tiên đó là áo giáp khoác bên ngoài. Đây là áo đặc biệt dùng bằng sợi nylo kết hợp sợi thủy tinh. Chiếc áo này không thể chống trực tiếp được các viên đạn có tôc độ ca nhưng thực sự đã bảo vệ cơ thể binh sĩ chống các mảnh đạn pháo cực kỳ hiệu quả. Khi đi tuần mà khoác những chiếc áo nặng nề này trong thời tiết nóng thì không dễ chịu chút nào nhưng TQLC thực sự cần đến nó khi đóng quân hoặc khi đang phòng thủ.
Yếu tố thứ 2 giúp giảm thương vong đó là kinh nghiệm và tài năng của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là ở cấp trung đội và đại đội. Các viên sĩ quan liên tục đến từng chiến hào để đốc thúc các binh sĩ mà trong đó rất nhiều đều còn trẻ, thiếu kinh nghiệm hoặc lần đầu đến Việt Nam. Kinh nghiệm chiến trận của các viên sĩ quan cho thấy rằng ” Phải luôn khiến binh sĩ bận rộn. Nếu để binh sĩ nhàn rỗi thì họ dễ có thái độ buông xuôi, tăng thời gian phản ứng với sự việc và giảm thời gian sống “
Kết quả là binh sĩ TQLC làm việc túi bụi suốt ngày : đào chiến hào, làm bao cát, chạy trốn vào vị trí ẩn nấp khi bị pháo kích, rồi lại quay ra đào chiến hào, … Kết quả là tỉ lệ thương vong của TQLC Mỹ ở căn cứ Khe Sanh thấp đáng ngạc nhiên
Mặc dù quân BV bao vây và dưới áp lực nặng nề, chu vi phòng thủ của hệ thống căn cứ Khe Sanh chưa hề bị suy giảm. Từ ngữ “vòng vây căn cứ Khe Sanh” có lẽ không thích hợp ở đây vì TQLC Mỹ vẫn tiến hành đi tuần tra mỗi ngày và họ thường tiến xa ít nhất 500m từ vị trí phòng thtua62nexcursion. Tướng Tompkins yêu cầu đi tuần tra liên tục vì ông không muốn binh sĩ của ông ẩn nấp bên trong căn cứ còn quân BV thì bao vây bên ngoài. Mỗi khi chạm địch, quân tuần tra tránh bị lôi kéo vào cuộc chiến mà tìm cách rút lui và gọi pháo binh, không quân yểm trợ
Vào tháng 2, thời tiết rất xấu, việc tiếp tế phụ thuộc hoàn toàn bằng đường hàng không và thả dù. Khu vực bãi đáp trở thành khu vực mang tính sống còn. Lúc đầu, đại tá Lownds lập bãi đáp ở khu FOB-3, nhưng sau đó dời sang phía Tây vài trăm mét vì e ngại các kiện hàng khi thả xuống dễ làm tổn thương binh sĩ. Trung tá Mitchell của tiểu đoàn 1/9 được lệnh thiết lập vòng đai phòng thủ, binh sĩ của ông liên tục lùng sục khu vực chung quanh để tránh tình trạng quân BV tập kích các binh sĩ đi thu gom hàng được thả dù xuống
Ngày 5 tháng 2, khi giữa khuya, quân BV lại pháo kích nặng nề vào căn cứ Khe Sanh, cùng lúc đó, 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 325C tấn công vào đồi 861A. Đại tá Lownds ra lệnh báo động toàn đơn vị. Tiểu đoàn 1/13 cũng nhanh chóng nổ sung yểm trợ đại đội E/2/26 . Cuộc chiến trên đồi 861A vô cùng ác liệt. Đại đội E//2/26 của đại úy Breeding bị pháo kích nặng nề bằng súng cối 82mm. Các khẩu súng DKZ và súng B40, B41 làm nổ tung nhiều ụ súng máy và công sự của đại đội E. Các toán đặc công của quân BV lẻn vào, dùng thuốc nổ làm nổ nhiều hàng rào kẽm gai . Vị trí trung đội 1 của trung úy Donald E. Shanley bị áp lực nặng nhất và buộc phải lùi về phía hầm chỉ huy. Đại úy Breeding ra lệnh tấn công bằng hơi cay để yểm trợ phòng thủ nhưng không hiệu quả. Quân BV chiếm được góc chiến hào hướng Bắc nhưng không tiến lên được. Sự chần chừ của quân BV giúp đại đội E tập trung quân lại và trung úy Shanley tung đợt phản công, đẩy lùi được quân BV, giành lại góc chiến hào đã mất
Cuộc phản công là 1 cuộc chiến khốc liệt ở cự ly gần do trời tối và sương mù dày đặc làm cản trở tầm nhìn, 2 bên nhiều khi phải đánh xáp là cà, vật lộn lẫn nhau. Cuộc chiến đã diễn ra bằng nắm đấm, dao găm, lưỡi lê, … Sau trận đánh, đại úy Breeding – cựu sĩ quan cuộc chiến Triều Tiên đã thừa nhận rằng ông đã rất e ngại các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến còn quá trẻ và thiếu kinh nghiệm chiến đấu đã không thể trụ vững được nhưng họ đã chiến đấu đầy quả cảm. Trong cuộc đánh giáp lá cà và trong tình thế đêm tối, sương mù, quân sĩ 2 bên sử dụng nhiều lựu đạn ở tầm gần và quân Mỹ có lợi thế do được trang bị áo giáp chống được mảnh lựu đạn. Nhiều trường hợp, quân Mỹ ném lựu đạn trong cự ly dưới 10m rồi xoay qua, nằm úp xuống, lựu đạn nổ và mảnh ghim đầy lên lưng áo chống đạn.
Cuộc chiến kéo dài gần 1 giờ. Đại úy Breeding tăng cường thêm trung đội 2 và 3 để đánh tạt sườn quân BV. Dù đã là dày dạn chiến trận, Breeding vẫn tỏ ra khiếp sợ tính khốc liệt của cuộc chiến :
“Trông giống như trận đánh hồi Thế Chiến Thứ 2 trên phim ảnh”
Khi số quân BV rút lui khỏi đồi 861A và xuống đến sườn đồi, họ tiếp tục bị tấn công bằng súng không giật, súng máy, … từ tiểu đoàn 2/26 TQLC Mỹ ở đồi 558
Khoảng 06:10 , quân BV cố gắng tập trung lại và tấn công lần thứ 2 nhưng bị nhanh chóng đẩy lùi do lần này họ bị tấn công từ 5 vị trí : Đồi 861, đồi 881 Nam, đồi 558, các khẩu pháo của căn cứ Khe Sanh và các khẩu 175mm từ Rockpile. Đặc biệt các khẩu cối 81mm của đại úy Dabney ở đồi 881 Nam đã yểm trợ vô cùng hiệu quả. Chỉ trong 3 giờ, đồi 881 Nam đã bắn gần 1.000 quả đạn cối 81mm. Ngoài ra, đài kiểm soát không lưu còn hỗ trợ các máy bay đến oanh tạc dữ dội
Đến 14:30, binh sĩ của tiểu đoàn 2/26 được trực thăng thả xuống tăng viện cho đồi 861A, đại úy Breeding tổn thất 7 chết, 35 bị thương và được di tản. Quân BV tổn thất 109 chết ngoài ra còn lượng lớn binh sĩ bị thương và được đồng đội di tản. Sư đoàn 325C bị tổn thất nặng trong trận đánh này
Khuya rạng sáng ngày 7 tháng 2, quân BV phục thù bằng cách tấn công trại đặc biệt Làng Vei – Lang Vei . Lúc 00:42, các cố vấn Mỹ báo cáo căn cứ bị tấn công bởi xe bọc thép của quân BV. Đây là lần đầu tiên quân BV sử dụng xe tăng ở miền Nam. Trong 13 phút, 9 chiếc xe tăng PT-76 đã tràn qua bãi mìn và tấn công vào trại. TQLC Mỹ yểm trợ bằng pháo binh và không quân nhưng không hiệu quả do quân BV đã tràn vào trong quá nhanh. Các binh sĩ trong trại còn sống sót đã cố thủ trong bunker và yêu cầu pháo binh bắn trùm lên cả vị trí của họ
Pháo binh của trung tá Hennelly đã bắn hơn 300 quả đạn nổ cao với mảnh chống bộ binh để yểm trợ căn cứ Làng Vei. Các binh sĩ cố thủ ở Làng Vei đã hét lên trong điện đài : “Tôi không biết các bạn đang sử dụng gì nhưng vì Chúa hãy tiếp tục bắn đi”. Đến 03:10, Làng Vei mất liên lạc với căn cứ Khe Sanh
--------------------------------------------------------------------------
P12
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh 1968, sau đợt tấn công thất bại vào đồi 861A ngày 5 tháng 2 , quân BV đã quay hướng tấn công vào Làng Vei ngày 7 tháng 2
Vào đầu tháng 1, trung tá Alderman và thiếu tá Caulfield đã tổ chức các cuộc trinh sát đoạn đường giữa Khe Sanh Và Làng Vei nhằm xem xét có thể di chuyển quân bằng đường bộ ở đoàn đường này và kết luận rằng điều này là không thể . Đoạn đường trên rất nhiều dốc, sườn đồi và rất thích hợp cho việc mai phục. Đây sẽ là điềm mơ ước của quân Giải Phúc để tổ chức mai phục khi quân Mỹ chuyển quân.
Vào tháng 11 năm 1967, trung tá Wilkison cũng đã cử đại úy John N. Raymond chỉ huy 1 đại đội thử hành quân trên đoạn đường này. Sau đó, Raymond báo cáo, để tránh các cuộc phục kích, đại đội của anh đã không sử dụng đường mòn mà băng rừng để đi. Mất 19 giờ để có thể đến được Làng Vei
Sau trận đánh Khe Sanh, tài liệu thu được của quân BV cho biết, quân BV đã tổ chức cuộc phục kích nhằm vào lực lượng chi viện Mỹ nếu họ cứu Làng Vei
Đại tá Lownds dự định tung cuộc ứng cứu bằng trực thăng. Tuy nhiên, các tin tức cho thấy quân BV cũng đã trù tính kế hoạch này nên đã rút các xe tăng ra khỏi Làng vei, di chuyển đến và chờ sẵn đến khu vực trống trải , thích hợp cho cuộc đổ bộ bằng trực thăng. Ngoài ra, rõ ràng là lực lượng quân BV chiếm ưu thế lớn về quân số hơn hẳn đội quân mà đại tà Lownds có thể tung ra để ứng cứu
Tổng Hành Dinh của tướng Cushman nhanh chóng vạch kế hoạch tiếp cứu theo kiểu “đánh và chạy”. Tướng Westmoreland cũng đồng ý kế hoạch này, thiếu tướng Norman J. Anderson – chỉ huy Không Đoàn 1 thủy Quân Lục Chiến và đại tá Jonathan F. Ladd – chỉ huy lực lượng Đặc Biệt cùng nhau soạn thảo kế hoạch. 2 yếu tố chính là sẽ sử dụng trực thăng và cuộc tiếp cứu sẽ được máy bay của TQLC yểm trợ
Khi trời sáng, những người sống sót ở căn cứ Làng Vei đã di chuyển đến trại cũ nằm ở hướng Đông cách đó 400-500m. Lực lượng tiếp cứu bao gồm 40 binh sĩ CIDG cùng 10 cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ cùng 36 trực thăng. Lực lượng hộ tống gồm những chiếc trực thăng gunship Huey do trung tá William J. White chỉ huy đã bay theo để yểm trợ. Các máy bay đã oanh tạc chung quanh, các trực thăng nhanh chóng đáp xuống trại cũ để bốc những người sống sót. 3 chiếc trực thăng bị bắn hỏng, 1 chiếc trực thăng do đại úy Robert J. Richard bị quá tải và phải bay về Khe Sanh ở độ cao chỉ nhỉnh hơn ngọn cây do quá nhiều người nên quá tải và không bay cao nổi. Trên đường quay về Khe Sanh, 1 binh sĩ BV đã xả súng AK-47 vào chiếc trực thăng nặng nề và đang bay quá thấp. Các viên đạn bay sợt qua mũi Richard ở khoảng cách vài cm. Xạ thủ súng máy trên trực thăng CH-47 bắn hạ người binh sĩ BV. Chiếc trực thăng bị trúng đạn cũng đáp được xuống Khe Sanh an toàn. Richard thay trực thăng khác và quay lại Làng Vei cứu những người còn lại. Hành động dũng cảm của anh được thưởng huy hiệu Thập Tự Dũng Cảm
Đường băng của căn cứ Khe Sanh đang bị pháo kích bằng súng cối trong trận đánh Khe Sanh năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - Airstrip at Khe Sanh Combat base was in NVA artillery bombardment in battle of Khe Sanh 1968 in Vietnam war
Một lượng lớn binh sĩ lẫn dân thường ở Làng Vei không thể lên trực thăng và phải di chuyển bằng đường bộ về Khe Sanh. Trong đó có 1 số binh sĩ thuộc tiểu đoàn 33 Tình Nguyện người Lào. Trước đó, đơn vị của họ ở Bản Huội San (Ban Houei San ) gần biên giới Việt Lào bị 3 tiểu đoàn quân BV tấn công . Những người sống sót đã vượt biên giới và tạm lánh ở Làng Vei
Lúc 8h ngày 8 tháng 2, khoảng 3.000 người về đến Khe Sanh. Đại tá Lownds e ngại trong đó có quân BV trà trộn nên không cho họ vào ngay và tiến hành lục soát kỹ từng người sau đó mới cho vào
Cũng trong sáng ngày 8/2 , lúc 4h20, trung đoàn 101 thuộc sư đoàn 325C đã tấn công đồi 64 đang do trung đội 1 thuộc đại đội A/1/9 đóng giữ. Cuộc tấn công được mở đầu bằng cuộc pháo kích 350 quả đạn. Quân BV đã tràn được vào chiến hào . Binh nhì Michael A. Barry đang chiến đấu thì 1 quả lựu đạn cán chày ( lựu đạn Chicom ) bị quân Giải Phóng tung vào anh. Quả lựu đạn rơi trúng mũ và rớt xuống chân. Anh nhanh chóng nhặt lên và ném trả nhưng quả lựu đạn tuột khỏi tay. Nếu là quả lựu đạn kiểu M26 của Mỹ, Barry sẽ bị nổ tung từng mảnh, nhưng quả lựu cán chày phát nổ, sức nổ dội xuống đất và cách xa Barry, kết quả là Barry chỉ bị 1 số mảnh ghim vào lưng, phía sau 2 cánh tay và bắp chân. Barry vẫn có thể tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội. Hạ sĩ Robert L. Wiley bị thương nặng nằm dài trên sàn đất trong bunker vừa bị quân BV tràn ngập. Công sự của anh vừa bị trúng đạn pháo, 1 số đồng đội tử trận, anh bị tê liệt nắm bất động, mắt trợn ngược như bị chết, lổ tai tràn máu nhưng anh vẫn còn tỉnh táo. 1 số quân BV tràn vào cứ tưởng anh đã chết nên lục soát cơ thể anh để lấy đồ đạc. 1 người lính tìm thấy chiếc bóp, moi hết tiền và ném lại mấy tấm hình gia đình Wiley chụp hồi Giáng Sinh. Sau khi lục soát, họ rút đi. Wiley sau đó được giải cứu.
Trung đội trưởng là trung úy Terence R. Roach Jr. đã dẫn binh sĩ phản công bằng các cuộc xáp lá cà và bằng tay không. Trung úy Roach bị trúng đạn và tử trận, pháo binh Mỹ cố gắng bắn chận đứng quân tiếp viện BV nhưng quân BV vẫn chiếm được phía Tây đồi 64, trung đội 1 giữ được phía Đông nhưng cũng không đủ sức để đánh bật quân BV khỏi đồi.
7h30, trung tá Mitchell cử 1 trung đội thuộc đại đội A do đại đội trưởng là đại úy Henry J. M. Radcliffe dẫn đầu đã tiến đến phía Đông ngọn đồi và đến được trung đội đang bị tổn thất nặng. Cuộc phản công sau đó được hỗ trợ bởi đại đội B và D . Các máy bay liên tiếp oanh kích và sau 15 phút, Radcliffe đã chiếm lại được sườn phía Tây ngọn đồi . Quân BV tổn thất trận này hơn 150 người. Quân Mỹ tổn thất 21 chết và 26 bị thương
--------------------------------------------------------------------------
P13
Trong trận đánh Khe Sanh – battle of Khe Sanh 1968, những ngày cuối tháng 2 năm 1968 diễn ra khá yên ắng, quân BV chỉ tập trung pháo kích, tiến hành các cuộc thâm nhập, .. chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công
Các cuộc thâm nhập ngày càng gia tăng trong khi các cuộc chạm súng chỉ diễn ra lẻ tẻ. Quân Mỹ hiểu rằng quân BV đã chuẩn bị xong giai đoạn triển khai quân và đang củng cố các vị trí nhằm cuộc tấn công lớn sắp đến. Từ giữa tháng 2, các vị trí phòng thủ của quân Mỹ đã được thiết lập vững chắc. Các vị trí đều có từ 3-4 lớp hàng rào kẽm gai, bãi mìn, chiến hào sâu, các hầm, công sự có nóc chống được đạn pháo cối, …
Quân BV càng ngày càng gia tăng mức độ pháo kích vào căn cứ Khe Sanh. Quân Mỹ cố gắng tiêu diệt các vị trí pháo nhưng bất thành do thời tiết quá kém nên các cuộc không kích đều không hiệu quả. Các khẩu pháo 105mm, 155mm và cả các khẩu 175mm đều bắn không tới được vị trí đặt pháo tầm xa của quân Giải Phóng ở chân núi Cô Rộc
PHẨN V :
KHÔNG VẬN
Thời tiết trong tháng 2 quanh Khe Sanh cực kỳ xấu. Các đợt mưa và các đợt không khí gió mùa thường xuyên tạo những đám mây thấp và căn cứ thường xuyên chìm trong các đám sương mù dày đặc. Ngay cả khi mặt trời lên cao, cũng mất thêm vài giờ để có thể xua tan hết các đám mây mù. Thời tiết quá xấu nên các cuộc không kích đều mang lại hiệu quả kém cõi. Ngay cả trên bộ, tầm nhìn cũng bị giới hạn trong khoản 30m-150m. Các tiền sát viên pháo binh quân BV thường xuyên dễ dàng xâm nhập vào rìa ven những quả đồi và chờ đến trưa, khi mây mù tan đi, các tiền sát viên báo cáo, điều chỉnh tọa độ pháo kích. Khi gần chiều xuống, mây mù xuất hiện họ lại rút lui
Máy bay vận tải C-130 bị trúng đạn bốc cháy ngày 10 tháng 2 trong trận đánh Khe Sanh năm 1968 trong chiến tranh Việt Nam - AC-130 Hercule was hit and burned in fire in battle of Khe Sanh 1968 on 10 February in Vietnam war
Quân đội Mỹ cũng điều chỉnh thời gian công việc theo thời tiết và theo các đợt pháo kích của quân BV. Buổi sáng , sương mù dày đặc, họ ra làm việc như đào chiến hào, đắp công sự, … và rút vào hầm khi buổi trưa và cũng là lúc quân BV pháo kích. Các đám mây dày đặc che chở cho quân đội Mỹ thì cũng là chướng ngại lớn cho các đội tiếp tế bằng đường không cũng như các đợt oanh tạc yểm trợ
Công việc tiếp tế cho 6.680 binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Khe Sanh phải đảm bảo nhu cầu 3 chữ B đó là : bullet, bean, bandage nghĩa là : đạn dược, đậu để ăn và bông băng. Việc tiếp tế dựa vào những chiếc máy bay C-130 thuộc phi đoàn vận tải số 152 của Thủy Quân Lục Chiến, sư đoàn không vận 834 của không quân Mỹ. Ngoài ra còn có những chiếc máy bay vận tải C-123 thuộc phi đội tác chiến số 315, còn có thêm các chiếc UH-34, CH-47, … thuộc nhóm không quân số 36 của Thủy Quân Lục Chiến (MAG-36)
Trong điều kiện lý tưởng, các hoạt động không vận sẽ hoạt động rất tốt. Tuy nhiên, trong trận đánh Khe Sanh, thời tiết xấu khiến tầm nhìn hạn chế và làm gián đoạn công suất của không quân dưới mức 40%. Ngoài ra các phi vụ còn phải đối mặt với mạng lưới phòng không và các cuộc pháo kích liên tục mỗi khi có máy bay đáp xuống phi đạo. Quân BV đã di chuyển và bố trí nhiều đơn vị phòng không ở phía Đông phi đạo và buộc các máy bay C-130, C-123, trực thăng, … mỗi khi đáp xuống phải có nhiều cuộc oanh kích yểm trợ, áp chế các dàn phòng không này. Tuy nhiên, ngoài các cuộc áp chế các khẩu phòng không ở đây, mỗi khi máy bay đáp xuống là lập tức sân bay hứng chịu nhiều quả đạn pháo từ súng cối đến pháo tầm xa, đặc biệt là các khẩu súng cối. Lợi dụng sương mù dày đặc, quân BV mang các khẩu súng cối đến rìa những ngọn đồi phía Đông và sau khi bắn, nhanh chóng rút khỏi để tránh bị đáp trả. Các cuộc pháo kích nhiều đến nổi trong trận đánh Khe Sanh, Thủy Quân Lục Chiến gọi những chiếc máy bay vận tải là “Nam Châm của súng cối” – “Motar Magnets”
Để an toàn, các máy bay đa số đều hạ cánh từ phía Đông, thời gian giảm tốc ngắn và xoay quặt chiều lập tức. Quân đội Mỹ lập 1 cầu tiếp nhận hàng ở chạy song song phía Tây ở cuối đường phia đạo. Sau khi hạ cánh và giảm tốc, các phi công lập tức xoay hướng về phía Đông và hạ cửa hậu ở cầu tiếp nhận hàng để đội bốc dỡ nhanh chóng bốc dỡ hàng hóa. Những binh sĩ bị thương nhanh chóng được đưa lên và sau đó, máy bay lập tức chuyển sang phi đạo phía Tây và cất cánh theo hướng đối diện với khi hạ cánh. Thường thì toàn bộ quá trình diễn ra chỉ trong 3 phút tuy nhiên vẫn thường xuyên đối diện với các cuộc pháo kích bằng súng cối
Ngày 10 tháng 2, 1 thảm họa đã xảy ra khi 1 chiếc C-130 chứa đầy nhiên liệu khi chuẩn bị đáp xuống thì bị trúng đạn . Khi chạm đường bay, khói bốc lên nghi ngút, máy bay lệch đường băng gần 1.000m ở cuối phi đạo và bắt đầu xoay tròn và lập tức lại trúng nhiều quả đạn. Máy bay bùng cháy dữ dội . Đội cứu hộ áp đến và cố sức dập tắt bằng bọt nước. Phi công trưởng là Henry Wildfang và phi công phụ bị bỏng nhẹ và leo thoát khỏi máy bay . Đội cứu hỏa được trang bị thiết bị chịu nhiệt cố sức luồn vào đám cháy và cứu những thành viên phi đoàn còn lại nhưng vẫn có 6 thành viên phi đoàn thiệt mạng trong đó có trung tá Carl E. Peterson – sĩ quan đội kỹ sư của Phi Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến . Sau đó, các chuyến bay bằng máy bay C-130 lập tức bị đình chỉ
Với việc đình chỉ sử dụng máy bay C-130, việc tiếp tế sẽ trở nên ngụy ngập do các máy bay C-123 có sức tải nhỏ hơn không đảm đương nổi còn các trực thăng vận tải như CH-47 Chinook chỉ có thể đảm đương phần nhỏ. Các tính toán cho thấy, quân Mỹ cần đến 600 tấn tiếp liệu bao gồm đạn được, thực phẩm, … mỗi ngày. Bộ tư lệnh không quân Mỹ đã sáng chế ra kỹ thuật có tên gọi là kỹ thuật Bung Dù Tầm Thấp – Low Altitude Parachure Extraction ( LAPES ) nhằm giảm rủi ro cho các máy bay vận tải khi tiếp tế chiến trường Khe Sanh

Chiến Dịch Cedar Falls – Junction City :
Bản Báo Cáo Của Trung Tướng Bernard William Rogers
P19
Trực thăng và xe cứu thương trong chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam - Medical helicopters and vehicles in Operation Junction City in Vietnam war
Cả sư đoàn 1 Bộ Binh Anh Cả Đỏ cùng sư đoàn 25 Bộ Binh Tia Chớp Nhiệt Đới đều đã di chuyển đến vùng được giao vào ngày 18 tháng 2, tất cả đều đã sẵn sàng cho chiến Dịch Junction City – cuộc hành quân Junction City – Operation Junction City in Vietnam war
Vào ngày D, lữ đoàn 1 của đại tá Caldwell bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh cùng lực lượng chiến đoàn Wallace sẽ đổ bộ bằng đường không và thiết lập chốt chặn ở phía Bắc khu vực hành quân. Lữ đoàn 173 Nhảy Dù của chuẩn tướng John R. Deane, Jr. sẽ đổ bộ bằng đường không và chốt chặn đoạn Katum đến lữ đoàn 1. Vị trí của lữ đoàn sẽ nằm phía Đông Bắc của khu vực móng ngựa. Lữ đoàn 3 của đại tá Marks sẽ chịu trách nhiệm cạnh sườn phía Đông. Lữ đoàn 3 bao gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 chi đoàn thiết kỵ và 1 đại đội xe tăng. Vào ngày D, lữ đoàn này sẽ tấn công lên phía Bắc dọc theo đường 4, thiết lập căn cứ hỏa lực và bắt tay với lữ đoàn 173 ở phía Đông Bắc. Mỗi lữ đoàn sẽ bao gồm 1 tiểu đoàn pháo binh yểm trợ
Trong suốt giai đoạn 1, sư đoàn 25 Tia Chớp Nhiệt Đới – Tropic Lightning Division của tướng Weyand sẽ triển khai lữ đoàn 2 cơ hữu cùng lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 4 Bộ Binh, lữ đoàn 196 Khinh Binh, trung đoàn 11 Thiết Kỵ, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 5 TQLC VNCH. Về cuối giai đoạn 1, sư đoàn 25 còn được tăng cường thêm lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 9 Bộ Binh
Theo kế hoạch của sư đoàn 25, trong giai đoàn 1, lữ đoàn 3 / sư đoàn 4 BB của đại tá Garth sẽ đóng chốt và lùng sục các vị trí chung quanh mà đơn vị này đang giữ trong cuối chiến dịch Gadsen ngày 21 tháng 2 ở vùng phía Tây của khu vực hành quân. Lữ đoàn này bao gồm 1 tiểu đoàn cơ giới, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết kỵ, 1 đại đội thiết giáp . Gần với vị trí của đại tá Garth là lữ đoàn 196 của tướng Knowles vào ngày D sẽ đổ bộ bằng trực thăng xuống hướng Tây Bắc để chốt chặn hướng này không cho quân Giải Phóng thoát về hướng Campuchia. Lực lượng của sư đoàn 25 sẽ hình thành sườn phía Tây của khu vực hành quân. Lữ đoàn 2 của đại tá Marvin D. Fuller và tung đoàn 11 thiết kỵ của đại tá William W. Cobb sẽ hình thành lực lượng tấn công tiến lên phía Bắc bắt tay với sư đoàn 1 Bộ Binh để lùng sục và tiêu diệt quân Giải Phóng
Cả sư đoàn 1 Bộ Binh cùng sư đoàn 25 Bộ Binh đều đã di chuyển đến vùng được giao vào ngày 18 tháng 2, tất cả đều đã sẵn sàng cho chiến dịch Junction City – Operation Junction City
Bản đồ hướng tấn công giai đoạn 1 của chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam - Phase 1 attack direction in Operation Junction City in Vietnam war
Bản đồ hướng tấn công giai đoạn 1 của chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam – Phase 1 attack direction in Operation Junction City in Vietnam war
D Day – Ngày 22 tháng 2 năm 1967
Vào ngày D, tất cả đơn vị đều bắt đầu chiến dịch theo kế hoạch đã định. 9 cuộc tấn công bằng đường không được bắt đầu bao gồm 8 cuộc đổ bộ và 1 cuộc Nhảy Dù để thiết lập chốt chặn trên toàn bộ phía Bắc của khu vực. Sư đoàn 25 được điều chỉnh phương án, một lữ đoàn thay vì chốt chặn sẽ tiến lên phía Bắc . Cùng lúc này lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 1 Bộ Binh mở cuộc tấn công lên phía Bắc dọc theo tỉnh lộ 4 để khóa chiếc móng ngựa
Sáng sớm ngày 22 tháng 2, 845 binh sĩ Nhảy Dù thuộc lữ đoàn 173 Nhảy Dù của tướng Dean được vận chuyển bằng 16 máy bay C-130 đã bay đến khu vực cách Katum khoảng 3km về phía Bắc. Khi còi báo : “Đứng ở cửa” , tướng Dean đứng ở cánh cửa bên phải máy bay, ở cánh cửa bên trái là trung tá Robert H. Sigholtz – chỉ huy lực lượng đặc nhiệm nhảy dù bao gồm tiểu đoàn 2 / trung đoàn 503 bộ binh, pháo đội A / tiểu đoàn 3 / trung đoàn 319 pháo binh cùng bộ chỉ huy lữ đoàn 173 Nhảy Dù, đại đội Chỉ Huy. Khi đèn xanh báo hiệu, tướng Dean nhảy dù đầu tiên. Đây là lần đầu tiên quân Mỹ tiến hành nhảy dù trong tấn công kể từ chiến tranh Triều Tiên. Cuộc nhảy dù diễn ra suông sẽ và không gặp cuộc kháng cự nào
Sĩ quan cấp bậc chuyên Viên Howard P. Melvin ở San Francisco,California đã có 4 cuộc nhảy dù trước đó trong thế chiến 2 là ở Gela, Sicily, Salerno và St Mere Eglise . Lần này là lần nhảy dù thứ 5 của anh
Đến 9h20, các bộ chỉ huy cấp đại đội đều đã được thiết lập, đến 9h25, các vũ khí, trang thiết bị hạng nặng được đưa đến. Đến 12h30, bộ chỉ huy các tiểu đoàn đều được thiết lập. Trong toàn bộ cuộc nhảy dù, chỉ có 11 trường hợp bị thương nhẹ
Lúc 8:13, lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 từ thị xã Minh Thành đã mở cuộc tấn công bằng trực thăng và cho 1 tiểu đoàn đổ bộ xuống phía Bắc đường 246 chỉ cách biên giới Campuchia 1.600m về phía Nam. Cuộc đổ bộ đã chạm trán với các cuộc tấn công nhỏ. Tuy nhiên, khu vực bãi đáp được nhanh chóng thiết lập. Hai tiểu đoàn còn lại được nhanh chóng đưa đến bãi đáp phía Tây của tiểu đoàn đầu tiên vào lúc 11h30 và 16h30. Cả hai tiểu đoàn đều đổ bộ an toàn
Cùng lúc đó, lữ đoàn 196 Khinh Binh của sư đoàn 25 Tia Chớp Nhiệt Đới cũng dùng trực thăng đổ bộ ở khu vực lân cận đường 246 phía Tây Bắc của vùng móng ngựa. Đến 12h30, cuộc đổ bộ với 3 tiểu đoàn đã hoàn tất
Phía Đông Bắc của khu Móng Ngựa, 2 tiểu đoàn còn lại của lữ đoàn 173 Nhảy Dù đã dùng trực thăng đổ bộ và thiết lập 4 bãi đáp với 3 ở phía Bắc và 1 ở phía Nam của Katum
Lực lượng trên bộ cũng bắt đầu hoạt động từ 6h30, lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 1 Bộ Binh giữ lại 1 tiểu đoàn ở Suối Đá, còn lại các đơn vị khác tấn công lên phía Bắc dọc theo đường số 4, tiểu đoàn cơ giới cũng tiến đến vị trí pháo binh gần Prek Klok cách nơi này khoảng 3km về phía Bắc và lập tuyến phòng thủ bảo vệ. Pháo binh được mang đến cùng với đại đội thiết giáp. Đại đội này được đặt dưới quyền chỉ huy của lữ đoàn 173 Nhảy Dù. Việc chuyển pháo binh và thiết giáp gặp sự cố trì hoãn tạm thời do đường đi bị gài mìn, cầu không có, … Đoàn công binh của sư đoàn 1 đã dò mìn và đặt 4 cầu phao dọc đường 4 để đưa pháo binh và thiết giáp lên phía Bắc
Lữ đoàn 2 của sư đoàn 25 cùng trung đoàn 11 Thiết Giáp đã mở cuộc tấn công lên phía Bắc của khu Móng Ngựa. Lữ đoàn còn lại của sư đoàn 25 mở cuộc lùng sục ở khu vực phía Đông đường 22 và phía Bắc của ấp Trại Bí
Tổng cộng lực lượng huy động gồm 18 tiểu đoàn bộ binh chia làm 6 lữ đoàn và 1 trung đoàn thiết giáp đã thiết lập 13 căn cứ hỏa lực để yểm trợ cuộc hành quân Junction City. Tổn thất của ngày đầu tiên khá nhẹ với 4 lính Mỹ tử trận và 23 bị thương. Không Quân Mỹ đã tiến hành 216 phi xuất để yểm trợ
Ngày D + 1 : Ngày 23 tháng 2
Cuộc tấn công lên phía Bắc của lữ đoàn 2 / sư đoàn 25 cùng trung đoàn 11 thiết giáp ở sườn phía Tây đã phát hiện nhiều kho tàng vũ khí, lương thực, … của quân Giải Phóng. Đã có 4 cuộc chạm súng diễn ra trong ngày đầu tiên.
Các đơn vị quân Mỹ vừa tiến quân, vừa thiết lập các chốt phòng thủ, tiến hành lùng sục . Lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 đã phát hiện doanh trại với quy mô cỡ tiểu đoàn cùng 6.000 đôi dép râu. Đội công binh tiếp tục tu bổ và sửa chữa đường 4 để làm đường tiếp liệu. Không quân đã tiến hành 175 phi xuất để yểm trợ trong ngày
--------------------------------------------------------------------------
P20
Chiến Dịch Junction City – cuộc hành quân Junction City – Operation Junction City in Vietnam war
Ngày D + 2 : Ngày 24 tháng 2
Tướng Seaman gửi bức điện tín khen ngợi sư đoàn 1 và sư đoàn 25. Trong thư, tướng Seaman viết :
“Tôi muốn có sự lục soát toàn diện ở khu vực hành quân. Tôi muốn sườn phía Tây của chiến khu C phải được che chắn và ngăn chận kỹ lưỡng”
Ngày 24 tháng 2, lực lượng Task Force Alpha đã dùng trực thăng tổ chức cuộc tấn công đột kích vào khu vực do lữ đoàn 196 đang chịu trách nhiệm ở phía Bắc giáp biên giới Campuchia. Ở phía Nam sẽ được Thủy Quân Lục Chiến VNCH tấn công lên. Lữ đoàn 3 / sư đoàn 1 đang ở Suối Đá sẽ di chuyển lên và thiết lập các chốt yểm trợ dọc theo đường 4 nằm dưới khu vực Prek Klok
Lực lượng đóng vai trò cây búa của sư đoàn 25 Tia Chớp Nhiệt Đới tiếp tục tấn công lên phía Bắc. Các lực lượng khác của Lực lượng Dã Chiến Số 2 – II Field Force tiếp tục giữ vị trí chốt chặn trong khu vực hình móng ngựa và lùng sục chung quanh. Lực lượng công binh tiếp tục sửa chữa và mở rộng 2 bên đường số 4. Việc xây sân bay tại Katum vẫn tiếp tục được tiến hành
Quân Giải Phóng vẫn kháng cự yếu ớt, các cuộc chạm súng diễn ra lẻ tẻ. Dù vậy, đã có 6 doanh trại Quân Giải Phóng được phát hiện và phá hủy. Các doanh trại này chứa lượng đáng kể vũ khí, gạo và nhiều quân trang, quân dụng, … khác. Lượng hàng bị thu giữ rất đa dạng : “từ nước mắm đến thuốc nổ”. Các trại này được lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 phát hiện ở phía Nam cách biên giới Campuchia khoảng 3km. Đây là khu vực thuộc Trung Ương Cục Miền Nam – Central Office of South Vietnam . Trong khu vực này còn phát hiện nhiều kho bãi, khu huấn luyện, hội họp, …
Trong số các hàng hóa bị thu giữ, đáng chú ý có 30 máy phát radio của Nhật, hơn 4.500 cục pin, nhiều xấp giấy để viết, 700 bút chì, 500 bút bi, 1.750 cục tẩy, 1 máy phát điện Briggs and Stratton HP còn mới và cả bàn chơi bóng bàn, khu vực này có hệ thống hầm ngầm kín đáo, các bếp nấu ăn ngầm, các lán trại để ngủ được lợp lá, …Trong 1 khu bếp, lính Mỹ phát hiện 1 cuốn lịch được đóng vào cột lán, trên lịch được xé đến ngày 23 là ngày quân Mỹ tiến vào khu này. Điều đó cho thấy quân Giải Phóng đã phải lẩn trốn vội vã, nhiều đồ ăn còn để lại trong bếp lẫn nhiều gia súc và gà còn nhốt chung quanh
Cuối ngày thứ 3 của chiến dịch chiến dịch Junction City – Operation Junction City , đã có 42 quân Giải Phóng bị tiêu diệt, 1 tù binh và 4 đầu hàng. Quân Mỹ có 14 chết và 93 bị thương
Kết thúc giai đoạn 1 : Ngày 25 tháng 2 đến 17 tháng 3
Trong những ngày còn lại của giai đoạn 1, kết thúc vào giữa đêm ngày 17 tháng 3, các đơn vị của 2 sư đoàn vẫn liên tục lục soát khu vực, do lực lượng đóng vai trò cây búa đã hoàn thành nhiệm vụ, các đơn vị thuộc lữ đoàn 1 / sư đoàn 1 đã rời vị trí vào ngày 2 tháng 3 khi 1 tiểu đoàn được trực thăng bốc về Quản Lợi, 1 tiểu đoàn rút về Minh Thành vào ngày 3 tháng 3 và lữ đoàn 1 kết thúc nhiệm vụ của Giai Đoạn 1 vào ngày 4 tháng 3. Vào ngày 3 tháng 3, lực lượng công binh đã hoàn tất sân bay Katum. Các ngày tiếp theo, các đơn vị đã kết thúc giai đoan 1 sẽ di chuyển về phía Đông của chiến khu C
Trong thời gian 21 ngày này, các cuộc đụng trận vẫn diễn ra lẻ tẻ với số lượng quân Giải Phóng dưới 10 người, các doanh trại liên tiếp được phát hiện, lương thực thực phẩm như gạo, cá khô, … rất nhiều, nhiều vũ khí, tài liệu, … được thu giữ
Ngày 26 tháng 2, một đại đội của lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 4 bộ binh đụng trận với trung đoàn 271 quân Giải Phóng ở phía tây đường 22 , đại đội này bị bao vây và một đại đội khác được điều đến giải cứu. Kết quả trận đánh, quân Giải Phóng thiệt hại 11 người chết, quân Mỹ mất 5 chết và 19 bị thương
Hai ngày sau, lữ đoàn 173 ở phía Đông Bắc thị trấn Katum đã phát hiện cơ quan thông tin phụ trách tuyên truyền tâm lý chiến của Trung Ương Cục Miền Nam. Ở nơi đây, các binh sĩ Nhảy Dù Mỹ đã phát hiện 120 cuộc phim, nhiều hình ảnh , tượng điêu khắc, … của các nhà lãnh đạo Cộng Sản thế giới
Ngày hôm sau, ngày 1 tháng 1, một tiểu đoàn của lữ đoàn 1, sư đoàn 1 bộ binh Mỹ cũng trong khu vực trên đã phát hiện trường học và trung tâm tuyên truyền, ngoài ra còn 2 có phòng y tế, 1 phòng hội trường lớn với hệ thống loa và hệ thống khuếch đại âm thanh, thiết bị in Căn Cước Công Dân
Ngày 3 tháng 3, một đại đội của lữ đoàn 173 chạm súng với QGP ở phía Đông Bắc thị trấn Katum, trận đấu kéo dài khoảng 30 phút , phía QGP có 39 chết, lính Mỹ có 20 chết và 28 bị thương
Ngày 6 tháng 3, lữ đoàn 173 sử dụng trực thăng đổ bộ 3 tiểu đoàn trên tuyến đường 246 phía Đông Bắc thị trấn Katum, cách thị trấn Bố Túc khoa3g 6km về phía Nam . Trong 7 ngày sau đó, lữ đoàn tiến hành lùng sục ở khu vực này, chỉ có các cuộc chạm súng lẻ tẻ và có 40 quân QGP bị thiệt mạng
Đối với trung đoàn 11 thiết kỵ, sau khi tham gia thiết lập vị trí hình thành vai trò chiếc búa, ngày 26 tháng 2, trung đoàn này chuyển hướng sang phía Tây, kết hợp sư đoàn 25 tiến hành lùng sục ở khu vực biên giới Campuchia ở phía Tây Nam đường 22 gần khu vực ấp Lò Gò. Ngày 11 tháng 3, một chi đội của trung đoàn 11 đã chạm súng với Quân Giải Phóng được trang bị các chiến hào cẩn thận và và vũ trang súng không giật và súng B40. Quân Giải Phóng bị mắc kẹt do một bên là con sông phân biên giới với campuchia. Quân Mỹ gọi hỏa lực chi viện, các trực thăng bay dọc bờ sông để phòng QGP lẩn trốn sang Campuchia. Khi trời tối, quân Mỹ thả pháo sáng dọc bờ sông nhưng Quân Giải Phóng lợi dụng đêm tối đã trốn thoát, để lại phía sau 28 xác chết
Sáng hôm sau, quân Mỹ tiến vào lục soát và phát hiện 2 máy in báo bằng điện của Trung Quốc với mỗi máy nặng gần 1 tấn. Các máy này được sản xuất tại Thượng Hải vào năm 1965 với công suất in 5.000 bản / giờ . Các tờ báo ở đây được cắt xén và xếp lại cẩn thận. Các lục soát chung quanh tiếp tục phát hiện các phụ tùng in ấn và 31 vũ khí cá nhân. Toàn bộ thiết bị xưởng in đều được đưa về căn cứ sư đoàn 25
Ngày 14 tháng 3, lữ đoàn 3 / sư đoàn 1 giao lại nhiệm vụ bảo vệ cho căn cứ Prek KLok cho lữ đoàn 196 . Đại tá Marks tiến hành luân chuyển binh sĩ để lữ đoàn của ông có thể tham gia giai đoạn của của chiến dịch Junction City
Ngày 15 tháng 3, lữ đoàn 173 rời chiến trường để quay về căn cứ của Đơn Vị Dã Chiến Số 2. Cũng trong ngày này, trung đoàn 11 thiết giáp của chấm dứt nhiệm vụ. Đêm ngày 17 tháng 3, giai đoạn 1 của chiến dịch Junction City đã chấm dứt. Quân Giải Phóng thiệt hại 835 chết, 15 bị bắt, 264 vũ khí các loại bị thu giữ và rất nhiều tài liệu, trang thiết bị, lương thực, … bị thu giữ
-------------------------------------------------------------------------
P21
Pháo binh ở căn cứ Prek Klok trong chiến dịch Junction City sau chiến dịch Cedar Falls trong chiến tranh Việt Nam - 105mm guns at Prek Klok base in Operation Junction City after the operation Cedar Falls in Vietnam war
Trận Prek Klok I và trận Prek Klok 2 – Battle of Prek Klok I và Battle of Prek Klok II là các trận đánh dữ dội nhất trong Chiến Dịch Junction City – cuộc hành quân Junction City – Operation Junction City in Vietnam war
Chương XI : Trận Prek Klok
Trận Prek Klok I
Tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 16 Bộ Binh đã tham gia chiến dịch Junction City – Operation Junction từ ngày D+1 (ngày 23 tháng 2 năm 1967) . Tiểu đoàn này được trực thăng chuyển từ căn cứ Lai Khê đến Suối Đá. Tại đây, tiểu đoàn này đảm nhận nhiệm vụ trước đây của tiểu đoàn 2 / trung đoàn 28 là giữ vai trò trừ bị của lữ đoàn 3. Ngoài ra, tiểu đoàn này sẽ tổ chức phòng thủ ở khu vực Suối Đá
Sáng ngày 24, tiểu đoàn này bị pháo kích dữ dội bằng súng cối 82mm, ngay lập tức đã có 2 chết trong đó có 1 viên đại đội trưởng và 5 bị thương
Sáu giờ sau đó, tiểu đoàn này được trực thăng đưa đến vị trí dọc theo đường 4 lên phía Bắc khu vực Suối Đá, đến tổ chức phòng thủ ở vị trí nằm phía Đông đường số 4 cách Prek Klok khoảng 6km về phía Nam
Căn cứ Prek Klok là căn cứ hỏa lực do tiểu đoàn 2 / trung đoàn 2 đảm nhiệm phòng thủ. Tại đây còn có các đơn vị công binh đang xây dựng 1 trại lực lượng Dân Sự Chiến Đấu – CIDG và 1 sân bay dã chiến
Nhiệm vụ của tiểu đoàn 1 / trung đoàn 16 là yểm trợ phòng thủ căn cứ Prek Klok, phòng thủ khu vực và lùng sục ở khu vực được giao
Chỉ huy của tiểu đoàn 1/16 là trung tá Rufus C. Lazzell. Trung tá Lazzell là vị chỉ huy giàu kinh nghiệm và nhiệt huyết. Vào giữa năm 1966, ông là chỉ huy một đơn vị chiến đấu. Ngày 9 tháng 7, ông bị trúng một viên đạn súng máy vào cùi chỏ, vết thương nặng khiến ông được đưa về Mỹ chữa trị. Vào tháng 11 năm 1966, ông hồi phục vết thương và xin quay lại Việt Nam, tướng DePuy – chỉ huy sư đoàn 1 Bộ Binh đã giao ông chỉ huy tiểu đoàn 1 / trung đoàn 16
Tuy nhiên, trong chiến dịch lần này, trung tá Lazzell cảm thấy đơn vị ông như bị trù ám. Lần đầu vào ngày 24 tháng 2 khi ông bị pháo kích ở trận Suối Đá. Tiếp theo đó, ngày 25 tháng 2, đơn vị súng cối 81mm của ông khi bắn đã nhắm sai tầm, đạn rơi quá gần khiến 2 binh sĩ của ông bị thương. Tối ngày hôm đó, khi tiến hành tuần tra, súng máy của một đơn vị cơ giới Mỹ đã bắn trúng vào phía đơn vị của ông, may mắn là chỉ làm hỏng một khẩu súng cối 81mm. Hai ngày sau đó, đơn vị của ông không gặp thương vong hay đụng trận gì
Vào 8h sáng ngày 28 tháng 2, đại đội B của tiểu đoàn 1/16 dưới quyền chỉ huy của đại úy Donal S. Ulm sau khi tổ chức phục kích ở phía Đông đường 4 vào đêm trước đã rời vị trí và tiến hành lùng sục ở phía Đông . Các khu vực này khoảng 2.500m là dòng suối Prek Klok . Đại đội B tiến quân theo 2 cột với trung đội 3 đi đầu, sau đó là trung đội 2 và cuối là trung đội 1. Bộ phận chỉ huy của đại đội đi giữa trung đội 2 và trung đội 1.
Trận Prek Klok I trong Chiến Dịch Cedar Falls - chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam - Battle of Prek Klok I in Operation Cedar Falls - Operation Junction City in Vietnam war
Trận Prek Klok I trong Chiến Dịch Cedar Falls – chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam – Battle of Prek Klok I in Operation Cedar Falls – Operation Junction City in Vietnam war
Khu vực lùng sục là khu rừng khá dày với nhiều tán lá rộng và nhiều bụi cây. Đại đội tiến quân khá chậm do vướng nhiều cây rừng và nhiều thân cây bị đổ. Đến khoảng 10h30, đơn vị mới chỉ đi được hơn 1km và lúc này phía trước báo cáo chạm súng. Lúc đầu đại úy Ulm nghĩ đơn vị anh chạm súng với lực lượng QGP cỡ đại đội. Tuy nhiên, sau khi báo cáo cho biết QGP có hơn 3 khẩu súng máy thì anh biết QGP có hơn cỡ đại đội.
Lúc này trung đội 3 vẫn đang ở vị trí đi đầu, họ báo cáo cho biết đang bị tấn công phía trước (hướng Đông) và bị tấn công tạt sườn ở cánh phải (hướng Nam)
Theo điều lệ của sư đoàn, khi các đơn vị tiến quân luôn có pháo mở đường. Đơn vị chịu trách nhiệm yểm trợ là tiểu đoàn 2 / trung đoàn 33 pháo binh đóng tại căn cứ Pháo Binh I là căn cứ Prek Klok với các khẩu pháo 105mm. Ngay khi báo cáo chạm địch, tiền sát viên pháo binh đã báo cho căn cứ Prek Klok bắn yểm trợ . Ngay sau đó ít phút, trực thăng Huey của sư đoàn đã bay đến yểm trợ.Trung tâm điều phối Không Quân cũng đã cử máy bay Chỉ Huy Tiền Phương bay đến để chuẩn bị cho các cuộc không kích với nhịp độ 15 phút / lần
Quân Giải Phóng lúc này ẩn nấp trong các bụi cây và các thân cây đổ bắn ra dữ dội nhưng họ không sử dụng chiến hào. Có lẽ họ không nghĩ đến sẽ qua đêm ở đây. Do phát hiện QGP không có chiến hào nên đại úy Ulm yêu cầu sử dụng bom chùm. Bom được thả xuống và phát nổ ở tầm ngọn cây, các quả bom con văng ra ở bán kính 30m. Do đó QGP chịu thương vong lớn trước cuộc không kích.
Đại úy Ulm yêu cầu thả khói che phủ vị trí đơn vị của anh. Lúc này, có thêm hỏa lực từ căn cứ pháo binh II là Đồn trú của quân Pháp trước đó ở phía Nam với các khẩu 155mm cũng bắt đầu bắn yểm trợ
Khoảng 20 phút sau khi nổ súng, quân Giải Phóng bắt đầu tiến quân theo hướng Đông Bắc . Liên lạc giữa bộ chỉ huy và trung đội 3 bị cắt đứt . Đại úy Ulm suy đoán rằng, quân Giải Phóng đang chuẩn bị đánh tạt sườn vị trí trung đội 3 và cả trung đội 2 nên anh đã yêu cầu trung đội 1 tiến lên che chắn sườn trái cho trung đội 3. Ngay khi trung đội 1 tiến vào vị trí, cả đại đội đều bị tấn công bằng súng cối, súng phóng rocket, súng máy, súng trường cá nhân, … tuy nhiên mức thương vong rất ít. Trung đội 2 đã di chuyển sang cánh phải để che chắn cho trung đội 3
Vào lúc 12h30, liên lạc được kết nối lại với trung đội 3. Đại úy Ulm đã thiết lập vị trí đại đội theo hướng vành cung với trung đội 3 ở giữa, trung đội 1 bên trái và ở vị trí cao nhất và trung đội 2 bên phải. Theo vị trí này, các máy bay quan sát có thể quan sát rõ vị trí cũng như điều khiển hỏa lực yểm trợ tốt nhất . Mỗi khi các chuyến bay oanh kích bay đến, đại úy Ulm đều được hỏi cần yểm trợ và oanh kích vị trí nào, sau đó, các đơn vị của đại úy Ulm sẽ ném lựu đạn khói làm hiệu và vị trí đó sẽ bị oanh tạc
Đại úy Ulm được báo cho biết tiếng súng quân Giải Phóng vang ra từ hướng các hàng cây và dự đoán rằng quân bắn tỉa của quân Giải Phóng đang nấp ở các hàng cây đó và đại úy Ulm đã cho oanh tạc ở hướng đó
Vào lúc 13h, trung đội 2 phát hiện quân Giải Phóng đang di chuyển ở hướng Tây và dự đoán rằng họ đang muốn bao vây đại đội . Đại úy Ulm đã ra lệnh trung đội 1 cho 1 nhóm binh sĩ canh phòng ở hướng Tây Bắc còn trung đội 2 cho 1 tiểu đội di chuyển xuống hướng Tây Nam . Khi tiểu đội của trung đội 2 vào vị trí thì họ thì quân Giải Phóng tấn công họ dữ dội, pháo binh lập tức được gọi yểm trợ vào sườn Tây của đại đội. Quân Giải Phóng tấn công dữ dội đến nỗi máy bay Chỉ Huy Tiền Phương nhận được yêu cầu từ phía mặt đất :
“Cho máy bay ném bom vào vị trí khói trong bán kính 25m”
Pháo binh cũng lệnh bắn áp sát phòng tuyến gần nhất có thể. Đến 14h, trận chiến bắt đầu yếu dần và đến 15h thì trận chiến chấm dứt
Lúc này, đại tá Marks , lữ đoàn trưởng đã cho thả một đại đội thuộc tiểu đoàn 1 / 16 vào vị trí cách trận chiến 600m vào hướng Đông Bắc và thiết lập một bãi đáp ở đây . Một đại đội thuộc tiểu đoàn đang giữ Minh Thành cũng được lệnh dùng trực thăng đổ bộ vào trận chiến để tăng cường cho đại úy Ulm. Đến 16h45, đại đội thứ 3 của tiểu đoàn 1/16 cũng được lệnh đổ xuống để bảo vệ bãi đám, di tản binh sĩ tử trận và người bị thương
Đến 21h30, đại úy Ulm cùng các binh sĩ được một đại đội đến tăng cường đã rút được đến bãi đáp. Đơn vị anh tổn thất 25 chết và 28 bị thương . Đại đội đến giải vây cho anh đã cho tiến hành lục soát và sáng hôm sau tiếp tục lùng sục chung quanh, phát hiện quân Giải Phóng tổn thất 167 chết và thu được 40 vũ khí các loại. Một tù binh bị bắt giữ cho biết người này là phụ tá của đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 2 / trung đoàn 101 Bắc Việt thuộc sư đoàn 9 . Người này cho biết cuộc hành quân của đại úy Ulm đã ngăn cản đơn vị này tiến về đường số 4 để tấn công các đoàn xe vận tải quân đội Mỹ di chuyển giữa Suối Đá và Katum
--------------------------------------------------------------------------
P22
Xe bọc thép M113 trong Chiến Dịch Cedar Falls - chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam - M113 ACAV in - Operation Cedar Falls - Operation Junction City in Vietnam war
Trận đánh lớn thứ 2 của Chiến Dịch Junction City – cuộc hành quân Junction City – Operation Junction City in Vietnam war là trận Prek Klok II – Battle of Prek Klok II diễn ra ngày 10 tháng 3 khi tiểu đoàn 2 cơ giới (thiếu đại đội B) thuộc trung đoàn 2 dưới quyền chỉ huy của trung tá Edward J. Collins lãnh trách nhiệm bảo vệ căn cứ Hỏa Lực số 2 nằm trên đường số 4 gần Prek Klok, cách Núi Bà Đen khoảng 20km về phía Bắc
Một sĩ quan đã báo cáo cho biết :
“Mặc dù nhiều sĩ quan của đại đội bị thương nhưng các binh sĩ đã chiến đấu dũng cảm và các sĩ quan còn lại đã nắm quyền kiểm soát rất tốt. Công tác di tản thương binh được tiến hành nhanh chóng . Các nhân viên y tế đã làm rất tốt công việc của mình cả khi trên mặt đất lẫn trên không”
Trung sĩ Matthew Leonard của trung đội 3 đã được khen ngợi. Khi trung đội trưởng, anh đã nắm quyền chỉ huy và bố trí phòng thủ, anh đã phân phát đạn dược, di chuyển người bị thương và khích lệ binh sĩ. Khi kéo 1 binh sĩ bị thương, anh bị bắn trúng tay nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Một nhóm quân Giải Phóng đã kéo 1 khẩu súng máy để tấn công trung đội 3, trung sĩ Leonard đã dùng súng tiêu diệt nhóm quân Giải Phóng này, bản thân anh cũng bị thương nặng. Các binh sĩ kể lại rằng, trước khi chết, anh vẫn tì súng lên 1 thân cây để tiếp tục bắn. Anh được truy phong Huân Chương Danh Dự
Đại đội B sau đó được trực thăng di chuyển đến căn cứ Suối Đá, họ có 5 ngày để nghỉ ngơi, bổ sung quân số và sau đó quay lại mặt trận.
Trận Prek Klok II
Trận đánh lớn thứ 2 của chiến dịch Junction City – Operation Junction diễn ra ngày 10 tháng 3 khi tiểu đoàn 2 cơ giới (thiếu đại đội B) thuộc trung đoàn 2 dưới quyền chỉ huy của trung tá Edward J. Collins lãnh trách nhiệm bảo vệ căn cứ Hỏa Lực số 2 nằm trên đường số 4 gần Prek Klok, cách Núi Bà Đen khoảng 20km về phía Bắc
Trung tá Edward J. Collins đã cho bố trí đội hình phòng thủ theo kiểu Toa Xe Lửa – ” wagon train ” để bảo vệ pháo đội B, C của tiểu đoàn 2 / trung đoàn 33 pháo binh. Chỉ huy pháo binh là trung tá Charles D. Daniel. Ngoài ra còn có 1 số đơn vị thuộc tiểu đoàn 168 công binh. Đơn vị công binh này chịu trách nhiệm xây dựng căn cứ Đặc Biệt dành cho lực lượng Dân Sự Chiến Đấu và xây 1 sân bay cho căn cứ
Trận Prek Klok II trong Chiến Dịch Cedar Falls - chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam - Battle of Prek Klok II in Operation Cedar Falls - Operation Junction City in Vietnam war
Trận Prek Klok II trong Chiến Dịch Cedar Falls – chiến dịch Junction City trong chiến tranh Việt Nam – Battle of Prek Klok II in Operation Cedar Falls – Operation Junction City in Vietnam war
Các xe M113 APC được đặt phía sau tuyến phòng thủ khoảng 50m, tuyến phòng thủ bao gồm các chiến hào, hố chiến đấu do các binh sĩ, công binh chiến đấu, … phòng thủ
Trước khi hoàn hôn buông xuống, các binh sĩ đã bắn 1 loạt đạn, vừa để kiểm tra lại vũ khí, vừa cảnh báo sức mạnh cho các nhóm quân Giải Phóng nếu muốn âm mưu tấn công. Các nhóm phục kích cũng rời phòng tuyến để tiến vào rừng , Khoảng 20h30, nhóm phục kích của đại đội A ở vị trí phía Đông phòng tuyến đã chạm súng với 1 nhóm quân Giải Phóng. Trung tá Edward J. Collins đã cho báo động 75% binh sĩ
Lúc 22h, quân Giải Phóng nổ súng tấn công bằng cách pháo kích dữ dội vào phòng tuyến của trung tá Collins. Đơn vị súng cối của quân Mỹ dưới quyền chỉ trung sĩ Kenneth D. Davis đáp trả ác liệt. Tổng cộng, đơn vị của trung sĩ Davis đã bắn 435 quả đạn cối. Tuy nhiên, quân Giải Phóng sử dụng các cỡ súng cối 60mm, 82mm, 120mm vẫn bắn liên tục tổng cộng hơn 200 quả. Kèm theo đó là các khẩu súng không giật 75mm và súng RPG-2 hay súng B-40 bắn vào các vị trí phòng ngự. Một số xe bọc thép bị bắn trúng, hơn 20 binh sĩ Mỹ bị thương, trực thăng Mỹ bắt đầu di tản các người bị thương
Lúc 22h30, sau khi các đợt pháo kích chấm dứt, trung tá Collins cho các đơn vị bắn vào các vị trí trong khoảng cách 200-600m ngoài tuyến phòng thủ để thăm dò. Ngay lập tức, quân Giải Phóng tấn công với sức mạnh khoảng 2 tiểu đoàn vào vị trí đại đội A. Trung sĩ Richard A. Griffin ngay từ khi các đợt pháo kích bắt đầu đã chạy đến tuyến phòng thủ để tiếp tế đạn dược cho đồng đội. Khi quân Giải Phóng tấn công, anh đã nhanh chóng chạy về vị trí của mình và dùng khẩu súng máy bắn trả dữ dội. Anh được tặng huân chương Ngôi Sao Bạc
Ngoài cuộc tấn công chính ở phía Đông, quân Giải Phóng còn mở thêm 2 cuộc tấn công phụ ở hướng Đông Bắc và Đông Nam. 3 xe bọc thép M113 bị trúng đạn RPG-2, một xe bánh xích bị trúng 1 quả đạn cối
Ở vị trí Tây Nam, đại đội C cũng bị tấn công , quân Giải Phóng đã di chuyển trên đường số 4 ở khoảng cách hơn 500m trên địa bàn trống trải để tấn công đại đội C . Hỏa lực quân Mỹ đã cày xới liên tục trên đoạn đường này. Đại Đội C sau đó báo cáo chỉ chịu đợt tấn công dưới mức trung đội . Lượng lớn quân Giải Phóng đã bị hỏa lực quân Mỹ làm tổn thất hoặc phải tháo lui
Khi đợt tấn công bằng pháo kích diễn ra, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 đặt ở căn cứ Suối Đá được yêu cầu cho yểm trợ Không Yểm, pháo binh yểm trợ, … Các đơn vị pháo ở căn cứ I, III và pháo binh ở chính căn cứ Prek Klok đã bắn trên 5.000 quả đạn để yểm trợ. Các đơn vị không quân chiến thuật cũng yểm trợ liên tục. Máy bay Gunship AC-47 Spooky đã hoạt động yểm trợ liên tục bằng các khẩu súng máy có nòng xoay
Quân Mỹ đã phân trận tuyến làm 2 vùng, phía Tây đường số 4 là nơi pháo binh Mỹ chịu trách nhiệm yểm trợ. Còn ở phía Đông của đường số 4 là nơi không quân Mỹ yểm trợ. Hỏa lực kinh khủng của quân đội Mỹ đã đánh bại đợt tấn công của quân Giải Phóng. Sau hơn 1 giờ giao tranh, quân Giải Phóng dần tháo lui. Đến 4h30 sáng, trận chiếm chấm dứt . Cuộc lùng sục được tiến hành vào buổi sáng cho thấy quân Giải Phóng tổn thất tại chổ 197 người. 5 tù binh bị bắt giữ. Quân Mỹ tổn thất 3 chết và 38 bị thương
Các cuộc thẩm vấn tù binh cho thấy đơn vị tấn công là trung đoàn 272 của sư đoàn 9 . Như vậy là 2 trung đoàn của sư đoàn này đã chịu tổn thất nặng trong chiến dịch Junction City
CHƯƠNG XII
GIAI ĐOẠN 2 : TẤN CÔNG TỪ ĐÔNG SANG TÂY
Giai đoạn 2 của chiến dịch Junction City bắt đầu từ nửa đêm rạng sáng ngày 18 tháng 3. Tuy nhiên, một số đơn vị Mỹ thuộc sư đoàn 1 Bộ Binh đã bắt đầu sớm hơn do họ đến các vị trí ở phía Đông của Chiến Khu C – War Zone C sớm hơn ngày 18 tháng 3
Ngày 3 tháng 3, 2 trong số 3 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 / sư đoàn 1 biệt hiệu Anh Cả Đỏ – The Big Red One trước đó được trực thăng không vận vào phía Bắc của vùng Móng Ngựa thuộc giai đoạn 1 đã được rút ra ngoài. Các đơn vị công binh thuộc sư đoàn 1 cũng đã hoàn thành nhiệm vụ và cũng được rút ra ngoài và đóng ở phía Đông của Chiến Khu C
Ngày 4 tháng 3, lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 9 được đặt dưới quyền của sư đoàn 1 . Đơn vị này được giao nhiệm vụ mở đường dọc QL 13 từ Lai Khê đến Quản Lợi để đảm bảo cho các đòan xe convoy. Trong số các đoàn xe là các đơn vị và trang thiết bị của đơn vị công binh số 1
Ngày 7 tháng 3, các đơn vị thuộc lữ đoàn 1 / sư đoàn 1 cùng đơn vị công binh số 1 bắt đầu nhiệm vụ để chuẩn bị cho giai đoạn 2 của chiến dịch Junction City. Nhiệm vụ của lữ đoàn 1 là mở đường 246 ở phía Tây và Tây Nam của An Lộc , đảm bảo an ninh cho đơn vị công binh số 1 xây các cây cầu băng qua sông Sài Gòn, xây các căn cứ Đặc Biệt dành cho lực lượng Dân Sự Chiến Đấu và phi trường nằm ở phía Tây sông Sài Gòn

No comments:

Post a Comment