; }

Friday, March 21, 2025

NĂM MƯƠI NĂM NHÌN LẠI

Người Việt còn sống hay đã chết (1975-2025) 

Người Lính Phan Nhật Nam 

Dẫn Nhập 

Mỗi người, mỗi tập thể, mỗi dân tộc có một đời sống, lần chết với định mệnh riêng. Dân Tộc Việt cảm nhận, thấy ra sự huyền nhiệm kia qua con Số Ba: Lễ thờ cúng với phẩm vật Tam Sanh; nhà Ba Gian; Ba Miền Bắc, Trung, Nam; Cờ Quẻ Ly; Cờ Vàng Ba Sọc...  Người Việt thấu hiểu cốt lõi cấu trúc siêu hình, lẽ huyền vi kia qua Nỗi Đau và Cơn Thống Khổ vô lường với thân phận của mỗi người trên quê hương điêu linh qua những Tháng 3 của năm 1972,  1975.. Người Việt hải ngoại vừa qua tháng 3, đang ở tháng 4-2025, những thời điểm khiến nhớ lần vỡ trận Ban Mê Thuột, 10/3/1975 khởi đầu bi kịch nước mất nhà tan năm mươi lăm ngày sau, 30 Tháng 4, 1975. Nay 50  năm sau 1975, thời gian đủ để nhìn lại sự việc của quá khứ từ đó nhận ra những tất yếu của lịch sử. Những điều tất yếu mà Dân Tộc Việt buộc phải nhận lãnh từ phận nghiệp điêu linh. Những thế hệ người Việt sinh nơi Miền Nam, lớn lên sau 1975 phần đông trên đất Mỹ có thể ngạc nhiên với thắc mắc: Tại sao một Miền Nam có đủ tất cả những ưu thế so  với Miền Bắc, cụ thể thuộc về phe dân chủ-tự do được Mỹ và Tây Âu yểm trợ, giúp sức. Vậy thì từ đâu, vì sao, VNCH chỉ một sớm một chiều sụp vỡ một cách nhanh chóng sau 55 ngày do Bắc Việt cộng sản tấn công? Tại sao? 

Một. 

Tháng 3 mở đầu mùa Hè khốc liệt 1972; và Tháng Ba sau ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình 27/1/1973 mà hai tháng sau 27 Tháng 3, 1973 là hết thời hạn thi hành giai đoạn 4 Bên, và Miền Nam bắt đầu nhận chịu số phận khốn đốn khi Tỉnh Phước Long bị cộng sản lấn chiếm, tháng 12 năm 1974, cùng lúc viện trợ Mỹ bị cắt giảm toàn diện, Hạm Đội 7 quay mũi về Trung Đông. Qua đầu Xuân  tháng Ba 1975, thêm một lần Miền Nam phải giáp mặt với câu hỏi... Bao giờ Cộng Sản tấn công? Cộng Sản sẽ tấn công ở đâu? Không ai ở Sài Gòn có câu trả lời chính xác. 

Đầu năm 1975, phía Cộng Sản Bắc Việt đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi Miền Nam theo trục Quốc Lộ 19 nối Bình Định - Pleiku như đã thực hiện trong chiến tranh 1946-1954. Và đây là tiền đề của cuộc Tổng Công Kích 1975 mà Hà Nội đã quyết thực hiện bước cuối cùng để tiến chiếm Miền Nam? Bây giờ thì ai cũng thấy ra như thế, nhưng lúc ấy, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cụ thể với Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II ở Pleiku lúc ấy không thể có quyết đoán cụ thể nào khi từ năm 1972, phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, cứ điểm Đắk-tô, Quận Lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại lực lượng đặc biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của binh đội Miền Bắc…

Đầu năm 1975, Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng Cộng Sản, Bộ Tổng Quân Ủy Bộ đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công Miền Nam sau khi rút kinh nghiệm thất bại từ Mậu Thân 1968, do đã quá phân tán lực lượng trên mục tiêu trải dài qua 40 tỉnh, thành phố Miền Nam. Cụ thể trong Tổng Công Kích Xuân - Hè 1972, cuộc tấn công đã không hoàn tất mục tiêu chiến lược là đánh sụp toàn bộ hệ thống quân sự-chính trị-hành chánh của VNCH, để yểm trợ chính trị cho Hội Nghị Ba Lê đang ở thời điểm quyết định trước khi ký kết (27 Tháng 1, 1973). Quan trọng hơn hết, vào Tháng Ba năm 1975, người Mỹ đã thực sự rút chân ra khỏi Việt Nam.. 

Cũng không phải đợi năm 1975 mà từ những năm 1972, và cũng chẳng phải là chuyên viên quân sự-chính trị chiến lược cao cấp, chỉ người có lưu tâm đến thời cuộc, chiến cuộc cũng có thể nhìn thấy tình hình quân sự nguy ngập của Miền Nam. Từ sau trận chiến Mùa Hè 1972 một phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, gồm cứ điểm Dakto, Quận Lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại Lực Lượng Đặc Biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của Cộng Sản Miền Bắc. Có nghĩa Bắc Quân đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi Miền Nam theo trục Quốc Lộ 19 Bình Định - Pleiku như một lần thực hiện trong chiến tranh 1946-1954. Nhưng không chỉ có thế, năm 1975 Bộ Chính Trị, Bộ Tổng Quân Ủy đảng Cộng Sản Việt Nam đã điều quân dưới Nghị Quyết chiến lược số 21 (Nghị quyết nầy được Trung Ương Cục Miền Nam phổ biến với bí số 12). "Cuộc tấn công toàn diện ở Miền Nam Việt Nam phải được thực hiện đồng loạt và tràn ngập, liên kết ba mũi, chủ động cả ba mặt trên khắp ba vùng..."Ba mũi là tấn công quân sự, tấn công chính trị, tấn công binh vận.  Ba mặt, diện quân sự, diện chính trị, diện ngoại giao. Ba vùng gồm vùng cộng sản đã kiểm soát được; vùng tranh chấp (xôi đậu); và vùng Việt Nam Cộng Hòa. Với chỉ đạo chiến lược nầy, Cộng Sản Bắc Việt lập kế hoạch tấn công lật đổ chế độ VNCH sau khi đã rút kinh nghiệm từ Mậu Thân 1968, và trận chiến Xuân-Hè 1972, để năm 1975 có đủ ưu thế vượt trội về quân sự cùng an toàn tuyệt đối về chính trị. Chúng ta cùng đi tiếp lần sụp vỡ Miền Nam bắt đầu từ tháng Ba, 1975.  

Hai. 

Mặt Trận B3 là bí danh quân sự phía Cộng Sản Bắc Việt chỉ Vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH, trong ngày 10/3, Sư Đoàn F10 dưới quyền chỉ huy của các tướng Bắc Việt Hoàng Minh Thảo, Vũ Lăng đồng loạt tấn công Ban Mê Thuột. Cuộc tấn công được tăng cường Sư Đoàn 320 là đơn vị cơ hữu đã có mặt từ trước nơi vùng B3 nầy, thêm Sư Đoàn 316 từ Miền Bắc mới xâm nhập, và Sư Đoàn 341 tổng trừ bị. Sư Đoàn 316 rời Miền Bắc vào Nam từ 1974 để chuẩn bị chiến trường cho Tướng Văn Tiến Dũng, nhân vật số 2 của quân đội Miền Bắc. Tướng Dũng đã vào Nam từ ngày 5 tháng 2/1975 bằng một chiếc máy bay Antonov 24 nhưng mãi đến Tháng 4, CIA Mỹ mới khám phá ra. Lực lượng Cộng Sản đánh Ban Mê Thuột gồm khoảng 25.000 người có pháo binh, chiến xa phối hợp yểm trợ. 

Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuột, phía VNCH chỉ có khoảng 1200 quân gồm lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Đắk-Lắc, và Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân. Tức tỷ lệ 20 đánh 1. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuột sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuột phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu. 

Với tỷ lệ 20 đánh 1 có pháo binh, chiến xa yểm trợ (chỉ không có phi cơ) phía Cộng Sản làm sao không đánh thắng?  Chưa hết, năm 1975 Hà Nội đánh chiếm Miền Nam với  hai lợi điểm, phải nói hai ưu thế quyết định: Sự bất ngờ tình báo được bảo đảm toàn hảo và cái ô chính trị tuyệt đối an toàn. Khi CS quyết định tiến chiếm thị xã Ban Mê Thuột cực Nam của vùng Cao Nguyên Trung Phần, nơi tương đối bình an của Vùng II, mục tiêu không hề được tính đến trong suốt mười lăm năm chiến tranh khởi đi từ 1960. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuột sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuột phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Tướng Dũng cứ tưởng như là giấc mơ.  

Tướng Dũng cũng không thể nào tin khi được báo cáo: Quân Đoàn II tháo chạy! Bởi ông không biết trong cuộc họp Ngày 14 Tháng Ba, 1975 ở Cam Ranh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không nói rõ ràng về ý niệm điều quân: "Nếu có thể thực hiện triệt thoái khỏi Pleiku, Kontum thì cũng có thể chiếm lại Ban Mê Thuột?!" Những người cầm đầu cộng sản ở Hà Nội cũng không nghe tới tính toán: "Ngày trước với một tỷ rưỡi đồng Đô-la thì giữ được bốn vùng, bốn quân khu. Nay với 700 triệu thì chỉ giữ được hai Quân Khu III và IV”. Họp xong, ba ông tổng thống, thủ tướng, và tổng tham mưu trưởng, ba tướng lãnh quân đội trở lại Sài Gòn. Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú bay về Nha Trang. Để lại trách nhiệm chỉ huy toàn bộ cuộc di tản cho tướng lãnh được vinh thăng cuối cùng của Quân lực VNCH, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất. 

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia tên gọi "Việt Nam Cộng Hòa" bắt đầu "chết" từ điểm tắt thở nầy. Đây là cuộc hành quân di tản toàn Vùng Cao Nguyên, một Quân Khu II trên một đoạn đường  228 cây số mà 10 năm nay không được xử dụng (Trên bản đồ quân sự đoạn Hậu Bổn (Cheo Reo) đến Sơn Hòa chỉ màu XANH, chỉ đọan đường KHÔNG XỬ DỤNG ĐƯỢC). Nguy hai hơn nữa, cuộc hành quân rút lui KHÔNG CÓ LỆNH HÀNH QUÂN điều hành, thống nhất chỉ huy! Cũng bởi Tướng Phạm Duy Tất, chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu II chỉ thực sự chỉ huy những đơn vị Biệt Động Quân thuộc quyền. Đêm 16 tháng 3/75, các đơn vị quân đội âm thầm bất ngờ triệt thoái được êm xuôi… Nhưng đến sáng hôm sau, dân chúng hay được, hoang mang, hốt hoảng vội vã ùa chạy theo đoàn quân với bất cứ phương tiện di chuyển nào kể cả chạy bộ. Quân Cộng Sản bắt đầu đuổi theo, nã pháo thẳng vào đoàn di tản. 

Trời Cao Nguyên buổi tàn xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người, vạn tròng mắt đỏ rực.  Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong mắt những người lính Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản. 

Pleiku, thị trấn thủ phủ của miền Cao Nguyên luôn chĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ đống kim loại, khí giới, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đưng dốc hun hút lẫn khuất dưới tàn thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu của máu. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở Tri? Còn biết kêu vào đâu? Với ai? 

Bình an của ngày đầu tiên này không kéo dài được lâu, bởi phía cộng sản trong ngày 16 đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân Đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuột? Qua máy dò tìm làn sóng, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3, tổng quát hơn chiến dịch tấn chiếm miền Nam, chiến dịch mang bí số 275, choáng người vì thắng lợi quá mau chóng, quá lớn, Quân Đoàn II đang tháo chạy! Dần dần họ khám phá vài phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trưng Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Viên chuẩn úy nằm vùng trong Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã điều chỉnh pháo binh chính xác từ bao ngày qua, người quan sát các phi xuất di tản đã đến hồi lộ mặt không ngần ngại - Anh ta báo cáo bằng bạch văn! Sự kiện đã trút gánh nặng âu lo "phía cộng hòa có thể điều quân tái chiếm" ra khỏi đầu Văn Tiến Dũng. 

Tướng Dũng mắng thẳng và đe dọa Kim Tuấn, viên tư lệnh Sư Đoàn 320: "Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm". Bởi, Kim Tuấn đã từng cam kết: "Một đơn vị cơ giới với chiến xa, pháo binh nặng không thể nào đi qua đường 7B được..."  Quả thật, ông Nguyễn Văn Thiệu ít ra cũng lừa được một người cũng như trong mười điều sai ông cũng có một điều đúng với câu nói: "Đừng nghe những gì cộng sản nói...".  Sư Đoàn 320 được lệnh băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 trên đường bôn tập từ Lào về Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An, chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 về đồng bằng.  

Văn Tiến Dũng thở phào nhẹ nhõm... Vậy là không có phản công tái chiếm như sau lần bỏ Khe Sanh (1968), chịu mất Quảng Trị 1972, lần bốn mươi thành phố Miền Nam bị tấn công Tết Mậu Thân. Lần này quân Cộng Hòa, "bọn Ngụy Quân" đã bị bẻ gãy ngay xương sống. Ngày 16 Tháng 3, một Chủ Nhật điêu linh tan nát dọc con đưng đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía Đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi đập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep của thành phần thuộc các đơn vị yểm trợ, chuyên môn của Quân Đoàn, Tiểu Khu Pleiku, cán qua những chiếc xe Dodge4 của Địa Phương Quân chất đầy người già, trẻ em tan nát. Chiếc Vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá! 

Súng nổ... 105, 155 pháo binh, XM72 của phía cộng hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 Cộng Sản tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ đục ánh nắng. Mặt Trận bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất lên bề đường, người khô quắp, không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng...  Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt. Có tiếng bắn đi của sơn pháo thật gần. Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản không sai trật một viên đạn. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay. Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không thể nào chứa nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe...  Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng hét nghẹn, trên pháo tháp có đầu người ngoi ngóp. Người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở, được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay, chân kẹp dính đâu dưới lườn xe. 

Cuộc di tản lớn quá! Quá lớn nên không ai còn sức đâu nghĩ đến lần rút lui của Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân và lực lượng địa phương thuộc Tiểu Khu Bình Long trấn đóng tại An Lộc, cũng trong ngày 1 Tháng 3. An Lộc, cách Sài Gòn một trăm cây số đường chim bay.  Chiến tích lớn của năm 1972, nơi Lữ Đoàn I Nhảy dù, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Liên Đoàn 81 Biệt Kích đã đẩy lui những trận cường tập của các trung đoàn thuộc ba công trường 5, 7, 9 (sư đoàn bộ binh thuộc quyền chỉ huy của bộ tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam có cán bộ người Bắc làm khung cơ sở) và trung đoàn Thiết Giáp T54 phối hợp tăng cường, được yểm trợ trực tiếp bởi pháo 130 ly hạng nặng. Chiến tích An Lộc được mua bởi giá máu của ngàn con người ấy, bởi niềm tin, ý chí chiến đấu của Miền Nam được thể hiện nay chỉ là một tiền đồn thụ động nằm trong tầm tác xạ của một dàn pháo cối đặt dầy xung quanh. Tồi tệ hơn nữa, cửa ngõ phía Nam của An Lộc, khu đồn điền Xa Cam bị quân Cộng Sản đóng chốt. Đường về Chơn Thành, phải qua tử huyệt này. Và khi An Lộc với Liên Đoàn 32 Biệt Động, Chơn Thành với Liên Đoàn 31 bị nhổ đi, bị xé lẻ ra Phan Rang, đến Tây Ninh, lui về tận Hố Nai thì từ căn cứ Lai Khê với Bình Dương - Sài Gòn, đoạn đường quá ngắn chỉ cần một ngày di chuyển với đôi chân. Nhưng bởi vết thương của Tỉnh Lộ 7 kéo dài theo hơn hai trăm cây số đường núi.  Vụ triệt thoái An Lộc, Chơn Thành đành phải quên. Phải quên, dẫu cơn hấp hối từ, của trái tim sắp gần kề. Sài Gòn - Lai Khê đâu khoảng ba-mươi cây số, nửa giờ xe hơi. 

Cuối cùng, đoàn di tản về đến Tuy Hòa ngày 25 Tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân dẫn đầu. Trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì. 100.000 trừ đi 60.000 vậy đã chết bao nhiêu?  Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trường hợp từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha Trang, viên Thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ... Bà nội đâu hở ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Nha Trang cũng mất vào tay quân Cộng Sản vài ngày sau, 30/3/1975 dẫu đơn vị chính quy Cộng Sản chưa kịp vào đến thành phố. Nếu kể thêm bi thảm của Huế, Đà Nẵng ở phía Bắc thì đã mất một nửa quê hương Miền Nam chưa hết một Tháng Ba!  

Ba. 

Lần sụp vỡ Vùng II gây nên phản ứng giây chuyền vô cùng nguy hại đối với Vùng I với thành phố lớn thứ hai sau Sàigòn, Thành Phố Đà Nẵng, bản doanh Quân Đoàn I/Quân Khu I VNCH. Đà Nẵng cũng là nơi Mỹ đổ quân, cũng một ngày Tháng 3, 1965 nhằm mở rộng chiến cuộc trên toàn Miền Nam, khắp vùng Đông Dương. Quân Khu I gồm Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Vùng đất lửa đối đầu với miền Bắc không khoan nhượng qua những thời điểm đẫm máu… Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Gần đây, còn nguyên dấu vết hung tàn ngọn lửa từ đầu hè 1972. Huế quả thật đã nhiều phen nhận sâu sự chết. Nhưng Huế vẫn sống. Huế luôn vượt sống. Thật ra Huế-Thừa Thiên vẫn sống được bởi sức nâng, nguồn bảo vệ từ một người anh em khốn khổ, người anh em chung cấu tạo đặc thù mà phải tinh tế lắm mới nhận ra âm sắc tiếng nói khác nhau qua con sông không đầy một trăm thước, sông Mỹ Chánh ngăn ranh Quảng Trị - Thừa Thiên, với hai thị xã đúng chiều dài bảy mươi cây số: Huế và Quảng Trị. Vùng đất dựa núi và nằm cạnh biển với cửa Tùng, cửa Việt qua Thạch Hãn, sông Bồ, Mỹ Chánh, Hương Giang. Hai nơi chốn khốn khổ, tội nghiệp nầy đã nâng nhau qua chiến tranh. Quảng Trị đã chịu phần hủy hoại đến đỗi bàng hoàng. Thành phố đã trở nên đống gạch vỡ vụn sau cơn địa chấn Xuân-Hè 1972. Tuy nhiên  trong trận chiến 1972, Tướng Ngô Quang Trưởng đã có đủ quân số gồm các Sư Đoàn 1, 2, 3 Bộ Binh và hai sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC để trấn giữ vùng lãnh thổ trách nhiệm, nên đã phản công thành công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Nhưng bây giờ, 1975 không phải là năm 1972 khốc liệt ấy nữa, người Mỹ đã rút đi cùng bộ máy chỉ huy, tiếp vận tác chiến khổng lồ kể từ 27 tháng 1, 1973 theo điều khoản ấn định bởi Hiệp Định Ba Lê. Và vấn đề xử dụng lại không quân với B52 dội bom cường tập như đã thực hiện suốt mùa Hè 1972 không thể nào tái lập với Tổng Thống Ford đã bị quốc hội Đảng Dân Chủ kiểm soát, khóa tay. Chính phủ Mỹ hoàn toàn tê liệt sau vụ án chính trị Watergate. 

Ngày 18 Tháng Ba, sau khi gặp Tướng Phú ở Nha Trang, ông Thủ Tướng "khôn ngoan nhất" miền Nam, Trần Thiện Khiêm bay ra Đà Nẵng gặp tướng Trưởng để truyền lại lịnh của Tổng Thống"Sẽ rút sư đoàn Dù; còn sư đoàn TQLC sẽ trả lại cho Sàigòn sau đó".  Tướng Trưởng không có gì tăng cường.  Không còn gì hết. Tướng Trưỏng cố gắng lần cuối. Ông bay về Sàigòn ngày 19 Tháng Ba, họp cùng với các ông Thiệu, Khiêm, Viên và cả phó Tổng Thống Hương. Ông cam đoan có thể giữ được Huế, Đà Nẵng, nếu đừng lấy đi những lữ đoàn Dù, TQLC còn lại.  Ông Thiệu tỏ vẻ ngần ngại trước quyết định sẽ rút một phần nào về Vùng I. Để cụ thể thêm cho ý niệm trên, ông chuẩn bị đọc một bài diễn văn với ngôn từ mạnh mẽ tỏ rõ quyết tâm bảo vệ Huế. Nhưng khi Tướng Trưởng vừa trở lại Đà Nẵng, ông nhận tin Huế đang bị đánh mạnh. Ông gọi về Tướng Viên; ông Viên đẩy qua ông Thiệu. Tướng Trưởng đành phải nói thật: "...Tổng Thống nên hoãn lại bài diễn văn. Huế không thể giữ được!"  Thật ra ông Thiệu hiểu rõ hơn ai hết khả năng cố thủ của Huế. Ông Tổng Thống muốn giành viên đạn ân huệ cho chính tự tay Tướng Trưởng. 

Cùng Ngày 18 tháng 3, phó Đại Sứ Lehmann gởi điện văn về Bạch Cung, nhờ chuyển bản tường trình đến Đại Sứ Martin đang chữa bệnh ở Bắc Carolina. Lehmann báo tin về khả năng phía VNCH có thể bỏ Huế với dấu hiệu chiến xa, thiết vận xa đang rút về Nam và TQLC bỏ Quảng Trị. Ông Đại Sứ biết được - Đã đến lúc chính ông, không ai khác, phải chịu mối "khổ nhục kế" của quốc gia ông nơi xa. Tóm lại, thế trận được đặt trên tuyến phương trình kỳ cục: "Người Mỹ không biết ông Thiệu đang tính toán những gì. Sàigòn thì hoàn toàn mù tịt về những gì đang xảy ra ở Hà Nội".  Nên không biết được rằng Hà Nội đã chấp thuận đề nghị của Văn Tiến Dũng (sau thành công quá lớn ở mặt trận Tây Nguyên) - Đánh rộng ra toàn miền Nam, khai triển thuận lợi từ Ban Mê Thuột và Pleiku. 

Từ Ban Mê Thuột, sư đoàn F10 tiếp tục hành quân về đồng bằng theo Quốc Lộ 21, sư đoàn 320 cắt miền Trung tại Tuy Hòa, đâm xuống Nha Trang. Nha Trang sẽ là điểm hẹn của hai sư đoàn này trước khi tiến về Nam, hướng Sàigòn. Tại Vùng I, Tướng Trưởng bị tấn công một lúc từ cả hai hướng bắc và nam. Trên nguyên tắc, sau tháng 10/1973, khi Hà Nội, cục R phát lệnh đánh trả và ông Thiệu ra chỉ thị "Tái tổ chức, phối trí" từ hạ tầng cơ sở hành chánh và quân đội... Lính Nghĩa Quân được đôn thành Địa Phương Quân, lính địa phương tập trung lại thành tiểu đoàn chủ lực và các sư đoàn diện địa phải cơ động trong khu, vùng trách nhiệm. Nhưng đấy chỉ là lý thuyết và hoàn toàn là lý thuyết. Người lính Địa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng Trị, Thừa Thiên không hề được chuẩn bị, trang bị để đương cự lại những sư đoàn chính quy Bắc Việt, thế nên khi Lữ Đoàn 369 TQLC, cùng với Liên Đoàn Biệt Động Quân vừa rút khỏi Quảng Trị, dân chúng ùa đi theo. Tỉnh Trưởng Quảng Trị khuyên công chức cho gia đình di tản. Tất cả tràn về Huế, và Huế sau dấu ấn kinh hoàng Mậu Thân 1968, và nỗi khiếp sợ từ 1972... Theo luồng cuồng nộ bi thảm này chạy về Nam, vượt đèo Hải Vân. 

Ngày 25 Tháng Ba, sáu giờ, Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Huế. Lính TQLC, Biệt Động, Sư Đoàn I đồng tập trung tại Vĩnh Lộc, nơi cửa biển Thuận An, đông-nam Huế. Đề đốc Chung Tấn Cang gởi một số vận tải hạm ra cửa Thuận An đón đoàn quân cùng đám dân chạy loạn. Nhưng muốn đến bờ biển, lên tàu lớn, đoàn người di tản phải qua phà Thuận An, và tại đây lại một lần tái lập cảnh tượng địa ngục nơi Sông Ba, Tuy Hòa mười ngày trước. Thật sự chỉ đúng một tuần. Điều đau đớn nầy xảy ra như một chuyện tất nhiên. 

Trong tất cả các hình thái hành quân, rút lui là một loại chiến thuật khó khăn nhất, bởi lẽ tự nó vốn đã mang yếu tố thất bại, thua cuộc. Không thể có một giải đáp tốt cho vấn đề đã vốn xấu, thế nên không hề có được một cuộc rút lui thắng lợi. Nếu có được một cuộc rút lui tương đối thành công của quân sử thế giới thì đấy là lần di tản 350.000 lính đồng minh từ mõm Dunkerque qua Anh năm 1940. Nhưng Dunkerque là một cứ điểm phòng thủ với yếu tố thuận lợi do hệ thống sông, lạch chia cắt với đất liền và bao vây kín trước mặt. Cuộc triệt thoái với hơn nghìn tàu đủ loại của Anh và Pháp điều động, chỉ huy bởi những sĩ quan, tướng lĩnh kỳ tài của hai đạo quân có truyền thống và tổ chức cao. Hai quân đội kia còn có một thời hạn tương đối đủ (từ giữa tháng 5 đến tháng 4 tháng 6, 1941) và một hậu phương nước Anh kiên định vững vàng. 

Tháng 3, 1975 ở Đà Nẵng, Việt Nam, Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ có một vài giờ, một hai ngày và những lệnh, phản lệnh từ Dinh Độc-Lập, Bộ Tổng Tham Mưu. Những người lính, dân tại cù lao Vinh Lộc, tại cửa Thuận An lại càng khốn khổ hơn. Bắt đầu là vô tổ chức, tiếp tới hỗn loạn và sau cùng là... bạo loạn. Công Binh không thể bắc phà qua sông, tàu lớn không vào sát bờ, người di tản trong cơn khiếp đảm khi cái chết dâng đầy, tràn ngập phải vùng vẫy tuyệt vọng từng giây phút ngắn tranh sống. Tiền sát viên pháo binh cộng sản điều chỉnh mục tiêu không phí một quả đạn. Đoàn người trần trụi trên giòng sông dưới đạn pháo. Sông là nhánh chảy ra phá Tam Giang, giòng nước đã soi bóng lửa thu ở rất lâu. Từ năm 1946, năm vỡ mặt trận Việt Minh chống Pháp. Năm nay, 1975, người Cộng Sản bắn vào ai? Chống ai?

Cảnh tượng bi thảm không phải chỉ bày ra nơi cù lao Vinh Lộc, cửa Thuận An. Một trăm cây số đường từ Huế vào Đà Nẵng dầy đặc xe và người chạy loạn. Lúc đầu người chạy loạn xử dụng xe vận tải, xe du lịch, GMC... Những xe động cơ bốn bánh, hai bánh. Tất cả đều chất cứng đồ đạc và lăn từng thước, từng chục thước đường. Quân Cộng Sản không hề chậm chạp, lập ngay những chốt chặn ở những vùng núi đèo Phú Gia, Phước Tượng, ở Cầu Hai, Nong, Truồi...  Bất cứ nơi nào thuận lợi cho việc phục kích. Lính Sư Đoàn 1 Bộ Binh, đơn vị đã từng giữ vững những cứ điểm Bastogne, Checkmate... Đơn vị đã nhảy xuống Tchépone Hạ Lào, những tiểu đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực Miền Nam, Đại Đội Trinh Sát lừng lẫy Hắc Báo, tất cả đều bị bó tay bởi đám thân nhân, gia đình binh sĩ cồng kềnh rối rắm, tan nát, âu lo. Người lính nào chiến đấu được với con trên lưng, vợ đang cơn nguy khốn?! Thế nhưng đoàn người vẫn lần từng bước đưng về Nam, hướng đèo Hải Vân. Và khi xe hơi bị tắt nghẽn trong vũng lửa, chiếc Honda đổ nhào xuống hố vực, người bế con lên tay, đầu gục xuống cất chân trần từng bước…

Đèo Hải Vân đây rồi! Những người đã chạy từ Quảng Trị, Mỹ Chánh, Phong Điền, An Lỗ chen chân lên đường đèo ngầy ngật khói đen dày. Vẫn còn những đơn vị lính Cộng Hòa giữ vững tay súng, Tiểu Đoàn 8 TQLC nhận bàn giao từ Lữ Đoàn I Nhảy Dù, trấn giữ đèo Hải Vân, ngăn quân Cộng Sản ở mặt Bắc Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng một tiểu đoàn trong chiến tranh buổi tàn cuộc có là bao? Làm được gì! Năm 1944, quân đội đồng minh muốn giữ vững Bastogne giữa vòng vây quân Đức phải có một đơn vị sư đoàn - Sư Đoàn 82 Nhảy Dù Mỹ do viên sĩ quan ngoại hạng, Tướng Maxwell Taylor chỉ huy. Tiểu đoàn 8 TQLC nay đối diện với ba sư đoàn bộ binh nặng, một lực lượng gồm các trung đoàn, tiểu đoàn Cộng Sản địa phương, một vùng đất dài từ chân đèo, xã Lăng Cô cuối tỉnh Thừa Thiên ra đến sông Thạch Hãn, Quảng Trị, vùng đất bị lực lượng Cộng Sản lấn chiếm từ Mùa Hè 1972. Và xa hơn là Cửa Việt, Gio Linh, sông Bến Hải, vùng "giải phóng" đã được thâu đoạt, củng cố từ 1972, 1973. Cuối cùng, xa hơn nữa, rộng hơn nữa - Một Miền Bắc xã hội chủ nghĩa "hậu phương lớn" của "tiền tuyến lớn Miền Nam".  Nhưng không hẳn chỉ ngừng lại ở đây, tăng cường, trợ lực cho Cộng Sản Bắc Việt còn có nước Trung Hoa mênh mông, Liên Bang Xô-Viết vĩ đại, khối thành trì của phe Xã hội Chủ Nghĩa đang luôn chờ đợi, chực sẵn cánh tay kéo dài xuống Phương Nam - Giấc mộng bền bỉ dài lâu của các chủng tộc người Hoa, Mãn, Slave... Tiểu đoàn 8 TQLC/QL/VNCH không thể nào đương được như một l đương nhiên. 

Người lính Miền Nam cũng vấp phải tình thế không thể nào xoay trở, bởi trên đường đèo, trước mũi súng anh chỉ thấy nhấp nhô trùng điệp vạn đầu tóc rối chạy loạn, tràng âm thanh thấp thỏm bi thương...  "En'" lính cộng hòa ơi!  "En" lính cộng hòa ơi!!  Tiếng kêu một lần anh nghe được từ Mậu Thân, từ Mùa Hè Đỏ Lửa 72.  "En" ơi...  Con tui hắn chết rồi!!  Tui biết làm chi bây chừ "en" ơi!  Người mẹ quê thất sắc, mắt lạc thần, lật vạt áo dài, đứa con nhỏ say nắng, bầm tím, chết ngạt từ bao lâu. Người đàn bà ngồi xuống lề đưng trên đá núi, gục đầu vào xác thân nhỏ bé sâm sấp tử khí gây gây. Chẳng phải Người Lính, đến Thượng Đế chắc cũng phải bật khóc bất lực gào đau.  

Đà Nẵng không chỉ bị ép từ phía Bắc, mà cả từ phía Nam, vùng đất Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi đã bị cắt vỡ ra từng mảnh nhỏ và người dân từ những nơi này tràn về Đà Nẵng để tìm một chỗ xuôi Nam. Cuối cùng địa ngục tăng thêm cường độ nơi bến tàu,  chân cầu Trịnh Minh Thế, bến cá chợ Hàn, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Người ta dùng lưới để móc những kiện hàng quái dị...  Đám người tan tác rền rỉ khóc la khản đặc. Nhưng dẫu có bị móc đi bằng lưới hoặc giành được một chỗ trên phi cơ (dân hoặc quân sự, kể cả máy bay Mỹ), những người rời xa Đà Nẵng cũng còn thở được hơi dài...  Đã thoát khỏi chết. Đã thoát khỏi Việt Cộng. Thoát khỏi một thành phố tràn ngập tiếng động từ những kho hàng bị cướp phá, người bị cướp, bị giết kêu cứu...  Đám tù quân phạm từ những trại quân lao tràn ra, trả thù những năm tháng giam giữ với cách phát triển bản năng ác độc từ lâu ức chế với cách thức thú vật hung tàn. 

Cơn hấp hối của Đà Nẫng không kéo dài. Ngày 27 Tháng Ba, pháo binh cộng sản bắt đầu bắn thăm dò vào Đà Nẵng từ những vùng lân cận vừa lấn chiếm. Bộ Tư Lệnh mặt trận Bình-Trị-Thiên phối hợp với mặt trận B2, Quảng Nam-Đà Nẵng quyết định dùng sư đoàn 324 và 325C từ mạn Bắc chiếm đèo Hải Vân đổ xuống; từ hướng Nam và Tây-Nam hai sư đoàn 407 và 711 đánh lên. Chiến trận được yểm trợ bởi hai trung đoàn pháo và thiết giáp. Hỏa lực của pháo binh cộng sản tập trung vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và căn cứ Hải Quân Tiên Sa, các địa điểm thực hiện kế hoạch di tản. Nhưng thực tế không còn kế hoạch nào nữa, bởi các điểm, căn cứ đã là những vị trí hỏa tập. Đặc công Cộng Sản trà trộn vào đám đông điều chỉnh từng quả đạn nổ chính xác giữa những thân người chen chúc. Ngoài khơi Đà Nẵng một hạm đội chực sẵn gồm tàu Việt Nam Cộng Hòa, Đại Hàn,  Đài Loan, Úc, Anh, Phi Luật Tân...  Và lẽ tất nhiên có tàu Hải Quân và dân sự Mỹ. Nhưng bởi Mỹ là nước "cam kết" tôn trọng thực hiện Hiệp Định Paris, nên Tổng Thống Ford đã ra lệnh cho tàu Mỹ không được vào hải phận Việt Nam!

Do thái độ “nghiêm chỉnh” của Mỹ và đồng minhngười tỵ nạn phải đội con lên đầu, cõng mẹ sau lưng lần từng bước, dò đáy biển tiến ra khơi! Thây người mắc vào gềnh đá trôi dạt sâm sấp. Qua ngày 28, bãi biển đã thành một nghĩa địa bồng bềnh xê dịch. Người sống sót rẽ thây chết đi ra phía trùng dương mờ đục khói. Khói sóng và khói đạn pháo binh, hỏa tiễn. Nhiều trường hợp xác chết biến thành cái phao để người "chưa chết" bám víu vẫy vùng, cố sống. Cố gắng sống thêm vài phút ngắn. Trong đám người tan vỡ này có Tướng Ngô Quang Trưởng. Ông bơi ra một chiếc xuồng rồi lên một tàu của Hải Quân Việt Nam do trợ giúp của một sĩ quan thủy quân lục chiến. Chiếc tàu đã biến dạng bởi binh sĩ đã ngồi tràn lên cả cột cờ, ụ súng. Trông giống như tổ kiến khổng lồ trôi dạt trên sóng biển. Tình cảnh trên những tàu dân sự ngoại quốc càng tồi tệ hơn.  Gần mười ngàn người chồng chất lên nhau trên một chiếc tàu chở hàng với vài chục thủy thủ. Ngàn con người không nước uống, không thức ăn cào xé nhau dưới hầm tàu nghẹn thở hoặc trên boong sắt bốc hơi nóng dưới mặt trời đầu hè của miền Trung. 

Tàu Victoria chở người di tản ghé Cam Ranh. Người cha bế đứa con bước xuống bãi cát trắng. Cát nóng sôi lúc nhúc những đầu người cuống quýt. Không một âm động lớn, không ầm ĩ ồn ào, chỉ khẽ rít nhỏ rầm rì giữa những cánh môi khô nẻ, trắng bọt xám...  Nóng quá!! Khát quá!! Chiếc tàu họ vừa rời khỏi đã là một nghĩa địa di động, nhưng khốn khổ hơn những lò thiêu người Do Thái ở Auschwitz, Birkenau, bởi hơi nóng của vỏ, sàn tàu dưới mặt trời không đủ nhiệt để đốt cháy da thịt người. Trên sàn, dưới hầm lềnh kênh những thây chết chưa đúng nghĩa...  Những người ngộp thở vì bị đè, ép, dẫm lên. Người già và trẻ em chiếm phần lớn. Những sinh vật vô tội và vô hại đối với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ lực lượng vũ trang nào. Các cuộc tấn công quân sự của lực lượng Cộng Sản khởi đi từ Tháng Ba đã biến những xác chết nầy nên thành chứng cớ của tội lỗi.  Và họ phải chịu cơn hấp hối từ rất lâu trước khi "được chết” để đền xong mối tội. Tội đã sinh và sống nơi vùng “tạm chiếm của bọn ngụy quân, ngụy quyền” - Tội làm người nơi Nước Việt, ở Miền Nam. 

Nha Trang cùng lâm cơn hấp hối với Đà Nẵng. Người Nha Trang bị dồn ép, bị đuổi siết bởi những người chạy loạn từ Pleiku, Phú Bổn xuống; từ Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi ùa vào...  Tất cả lại chuẩn bị lên xe, hướng phía Nam, Phan Thiết, Bình Tuy... Sàigòn. Sàigòn, như kẻ phụ tình cay đắng cuối đi không thể rời bỏ. Và cảnh cũ của Bến Cá, phi trường Đà Nẵng lập lại tầng tầng bi thảm nơi Cầu Đá, phi cảng Nha Trang. Máy bay cất cánh với chân, tay người thò ra nơi khoang chứa bánh đáp! Dọc đường Số 1 những chiếc trực thăng chở khẳm chòng chành rơi vãi những, thân người tan tác theo luồng gió và cánh quạt động cơ đùa đi. Và biển Đông lại nhận thêm được những tặng phẩm khốn cùng mới mẻ...  Những thây người vào ra sâm sấp theo triều sóng ngậm ngùi. Tượng Thánh Mẫu Thiên-Y từ đỉnh cao Tháp Bà đầu cầu Xóm Bóng, Nha Trang một đêm bất ngờ vô cớ rơi xuống! Hàng triệu sâu bọ từ mạch đất sâu bật tung bò ra lềnh đặc hơn cây số đường từ Cam Ranh đi Phan Rang. Đoàn người chạy loạn dẫm lên nghe nhầy nhầy, sừng sực như đạp phải thây chết. Chẳng ai để ý. Tất cả đã quen với cái chết. Con người đang chết. Sự chết toàn diện của lần tận diệt. Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc Miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuột.  Không cần đủ hết Tháng Ba.   

Bốn.

Tháng Ba, 1975 ở Mỹ có nhiều ý kiến về Việt Nam.. Đin hình với người công dân Milliard E. Crane ở Fonda, New York trong lá thư gởi ban biên tập báo Newsweek viết nên lời thống thiết: Tinh Thần 76 đâu rồi? Hôm nay nước Mỹ đứng yên nhìn Cambodia, tiếp đến Việt Nam lần lượt rơi vào nanh vuốt bọn xâm lược.. Và như quân bài Domino dần tan rã, phải chăng lần tới sẽ là Thái Lan, rồi đến Nam Hàn, Trung Hoa Dân Quốc với Đài Loan và tiếp tục nữa chăng? Những dân tộc nầy đã và đang chiến đấu cho những lý tưởng quan yếu như chúng ta hằng chống lại đế quốc Anh. Chúng ta đốt pháo bông ăn mừng khi hỏa tiễn dày xéo tự do ở nơi bên kia thế giới được chăng? Chúng ta nên cần một Patrick Henry nung nấu giòng máu và một George Washington giữ thẳng xương sống chúng ta." Nhưng hòa bình lại không do từ những con người trên, hòa bình đến bởi Kissinger, người phải ngậm cục kê vào miệng - Giải thưởng Nobel Hòa Bình để không thể nói một lời gì khác ngoài việc phải hô hào bảo vệ cho kỳ được nền "hòa bình trong danh dự" mà ông ta đã phải xoay trở mãi từ 1968 đến tháng 1, 1973 mới ráp nối được. Hòa bình đó đã tồn tại đến những hai năm, hai tháng cho dù đôi khi lâm bịnh ngặt nghèo với vụ lấn chiếm Tống Lê Chân và Phước Long. Nếu "Hòa Bình" phải cơn hấp hối như hôm nay (3/1975) thì ắt phải do... Nguyễn Văn Thiệu "một người tuyệt vọng đến độ phát hoảng" và dù cho miền Nam có mệnh hệ nào thì "Việt Nam cũng không phải là tận cùng thế giới" và đây cũng là lỗi của Quốc Hội - Nơi đảng Dân Chủ kiểm soát Hạ lẫn Thượng viện, với Kennedy, Johnson đã đưa cuộc diện Việt Nam vào bãi lầy nên phải cậy đến khôn ngoan rất mực của ông ta mới tìm ra lối thoát.  Mà việc nầy ông đã "hoàn tất một cách xuất sắc" với giải Nobel Hòa Bình cao quý!.

Tóm lại, chỉ còn đôi lời cam kết giữa hai Tổng thống Nixon và Nguyễn Văn Thiệu! Cũng không có gì khó, sẵn vụ năm anh Cuba đột nhập vào tòa nhà Watergate của Đảng Dân Chủ. Lục túi thấy một đống đô-la vừa tiền mặt, vừa tín phiếu, và sổ ghi các điện thoại. Truy tầm một hồi thì thấy ngay xuất xứ của số tiền, các tín phiếu nấy (dù qua một hệ thống nhiều ngân hàng của Mỹ và Mễ Tây Cơ) vốn từ quỹ vận động bầu cử Tổng Thống Nixon! Chạy thế nào thoát. Hai ký giả Bernstein và Woodward của báo Washington Post vớ phải ngay một "ông nằm vùng, bí danh Deep Throat" từ đâu trong Bạch Cung. Ông nầy hàng tuần hẹn hò trên trang 20 báo Post dò hỏi cách gặp gỡ. Và nếu khẩn cấp thì gọi nhau, cho ám hiệu. Thế là, ông Nixon chửi thề như thế nào, ông John Mitchell nói cái gì, cố vấn Haldeman thở than với vợ ra làm sao...  Tất cả đâu đó đã sẵn để hai ông nhà báo lựa chọn, ra tin. Dằng co một hồi đến 8 Tháng 8, 1974 thì Tổng Thống Nixon buộc phải từ chức! Ai hứa với ai gì nào? Tổng Thống kế nhiệm Gerald Ford khi đến Palm Spring, California chơi golf bị ký giả truy hỏi về tình hình Việt Nam; vừa chạy vừa cười tươi... Chiến tranh Việt Nam đã là dĩ vãng! Đến một lúc sau khi nói chuyện với doanh nhân, nhân viên chính quyền cao cấp ở San Diego ông mới nói thật... "Tình hình quả thật bí thảm và chúng ta cần một ý nghĩa mới về đoàn kết quốc gia tại thời điểm đau buồn, hỗn loạn này..."  Nhưng ông cũng không quên yêu cầu quốc hội chuẩn y phần viện trợ khẩn cấp. Sự cố gắng của Tổng Thống Hoa Kỳ được hiện thực. Quân cảng Vũng Tàu, Tân cảng cầu xa lộ Sài Gòn được tiếp nhận thêm một số quân trang, quân cụ, vũ khí mới...  Súng 105 đời thế chiến Thứ Hai, nón sắt, ống nhòm, và súng colt và xe GMC. Chỉ một Tháng Ba, 1975, Miền Nam mất 700 triệu Mỹ kim chiến cụ đến nỗi một viên chức Ngũ Giác Đài phải ngao ngán thốt lên: "Tốt hơn hết chúng ta nên chuyển thẳng cho Hà Nội, như thế khỏi phải bị hư hao..."  

Và khi bị chất vấn về 58.000 quân nhân Mỹ tử trận ở Việt Nam, vị tổng thống không do đấu tranh, bầu cử mà nên chức phận, đã ngậm ngùi than vãn: "Chúng ta quả thực không thực tế một chút nào vì đã quá trịnh trọng cam kết tại hội nghị khi đã chấm dứt tranh đấu ở Việt Nam".  Và nếu có đôi chút thành thật họa chăng là lời thú nhận cay đắng của Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller... "Tôi e rằng một số người Việt đang dần chết... Trong khi, chúng ta vẫn tiếp tục sống..."  Nói như thế kể ra cũng đủ gọi là thành tâm! 

Trong ngày đầu Tháng 4, 1975 Cựu Bộ trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã lúc ấy giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Tân Gia Ba theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu. Thủ Tướng Lý mời Cố Vấn Nhã đến để trao gởi một nguồn tin quan trọng. Ông vào thẳng vấn đề: "Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc ở Việt Nam sắp xẩy ra, đang phải đến.” Thủ Tướng Diệu nói rõ: Phó tổng thống Mỹ Rockefeller vừa hỏi ý kiến ông cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác là: “Liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi hay không?!" Hóa ra chuyến viếng thăm không chính thức các nước Đông-Nam Á của Phó Tổng Thống Rockefeller nhân dịp viếng lễ tang Thống Chế Tưởng Giới Thạch vừa qua tại Đài Loan vào Ngày 5 Tháng 4 là để thông báo một điều quan trọng: Đã đến lúc chính phủ Mỹ cần thay người cầm quyền ở Nam Việt Nam. 

Ông Hoàng Đức Nhã liền thông báo cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi nầy, một phần ông cũng đã hiểu ra thực tế: Giới quân nhân, những tư lệnh các quân khu qua tình hình chiến sự đã không còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu vốn là một tướng lãnh quân đội. Cuộc rút bỏ Tây Nguyên vào Ngày 16 Tháng Ba tiếp theo lần di tản Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang.. vào cuối tháng 3 với chuỗi thảm cảnh kinh hoàng của dân và lính vượt khỏi tất cả những dự kiến, làm tan vỡ sức chiến đấu, phá hủy quân trang cụ, vũ khí của hai Quân Khu I và II đã bày ra điều cùng cực phi lý và tàn nhẫn: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã không kiểm soát đượcc tính hình chính trị lẫn quân sự của miền Nam. Hơn thế nữa lời thông báo của Phó Tổng Thống Rockefeller không là ý kiến riêng của người lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc nhưng là phản ảnh thực tế về quyết định của chính giới Mỹ đối với tình thế chung cho toàn vùng Đông-Nam Á. Đấy là Mỹ rút ra khỏi vùng nầy theo thỏa thuận với Trung Cộng từ thông cáo Thượng Hải ký năm 1972 giữa Châu Ân Lai và Nixon. TT/Thiệu làm sao không biết thì ai biết tới kết thúc nầy? Không biết chính xác lúc nào mà thôi!  

Ngày 12 Tháng 4 Nam Vang Campuchia thất thủ, tất cả bộ trưởng của nội các Long Boret chỉ trừ một người thuận di tản theo đề nghị của Toà Đại Sứ Mỹ, tất cả đồng ở lại với đất nước và đã là những nạn nhân bị hành quyết đầu tiên bởi cách hành hình man rợ của đám đao phủ Khmer Đỏ. Điển hình là vị cố vấn chính trị Sirik Matak của Tổng Thống Lon Nol đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đại Sứ Mỹ Dean John với lời lẽ khẳng quyết bi tráng như sau: "Kính gởi Ngài Đại Sứ và các Bạn... Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do.. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được.. Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời nầy. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người Bạn Mỹ." Từ tình cảnh của Campuchia hiểu ra tình thế của Miền Nam khi tình hình quân sự hoàn toàn suy sụp, và Mỹ quyết định chấm dứt sự dính líu đến VNCH! 

Ngày 8 Tháng 8, 1974, Tổng Thống Richard Nixon từ chức, Phó Tổng Thống Ford lên kế vị, vốn một Chủ tịch Hạ Viện được kế vị do hiến định nên khoán trắng vấn đề đối ngoại, an ninh quốc gia cho Cố Vấn kiêm Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger. Số phận Việt Nam được quyết định với  viện trợ kinh tế bị cắt khoảng 50% (theo đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Kennedy), và viện trợ quân viện được xác nhận ở số 772 triệu, có thể chỉ là 500 triệu (tức cắt đến 60%). Tháng 12, 1974 tỉnh Lỵ Phước Long bị mất, Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng Kissinger Đàkhông có hành động đáp ứng cụ thể nào như đã hứa hẹn, cam kết. Tổng Thống Gerald Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Xử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn từ tháng 11, 1973. Nghị quyết nầy hiện thực đạo luật cắt bỏ quỹ "Hoạt Động Tác Chiến" vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương trước Hiệp Định 1973. Tổng Thống Ford cố làm yên lòng Tổng Thống Thiệu bằng cách cử một phái đoàn do Thứ Trưởng Quốc Phòng Clements sang Sài Gòn; ông Thiệu chỉ định Đại Sứ Trần Kim Phuợng, Tổng Trưởng Vương Văn Bắc sang gặp Tổng Thống Ford. Tổng Thống Mỹ hứa cứu xét đến quân viện bổ sung 300 triệu để phục hồi lại Một Tỷ như hoạch định. Cần nhắc lại những số liệu để so sánh: 1/Giai đoạn 1966-1970: Mỹ tiêu 25 Tỷ Đô-la/Năm bởi có 500,000 quân Mỹ và Đồng minh đang tham chiến. 2/1970-1971: 12 Tỷ Đô-la/Năm vì đang rút quân. 3/Sau khi Mỹ rút hết quân thì: 31/Tài khoá 1973: 2,1 Tỷ; Tài khoá 1974: 1,4 Tỷ; Tài khóa năm 1975: 700 Triệu. Vậy nếu có được 300 Triệu bổ sung thì quân viện năm 1975 cũng chỉ được 1 Tỷ. 

Khi quân CS Miền Bắc khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột trong ngày 10/3; Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Hoa Thịnh Đốn trở về với tin sét đánh: “Không những không có 300 triệu quân viện bổ sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa!” Như thế, 300 triệu (dự trù bổ sung) vào ngày 13 Tháng 3 năm 1975 đã trở thành “Số Không” vì Đảng Dân Chủ kiểm soát cả Hạ lẫn Thượng Viện đã bỏ phiếu với đại đa số: Chống bất cứ viện trợ nào cho Việt Nam kèm theo lời tàn nhẫn: “Viện trợ di tản thì cho, chứ một xu (viện trợ quân sự) cho Thiệu thì không.” Trong cùng lúc: “Từ 1974 qua 1975, Miền Bắc đã đưa vào Nam một số lượng quân trang cụ, vũ khí là 823.146 Tấn – Gấp 1.6” lần số lượng đã vận chuyển của 14 năm qua (Kể từ 1960, năm bắt đầu thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19/12/1960 

Người lính VNCH ở chiến trường không biết những số liệu trên, họ chỉ biết: Trước “Hiệp Định Ngưng Bắn Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam 27/1/1973” trên chiến trường, trước khi xung phong vào mục tiêu họ được phi, pháo yểm với số lượng không hạn chế nếu như đụng địch. Nay năm 1974, 1975, một mục tiêu chỉ còn “Bốn (4) viên đạn 105 ly cho một lần đụng trận”. Người Lính cũng không biết thực tế: Nếu không có biến cố Tháng 30 tháng Tư thì cũng chỉ đến khoảng tháng 6/1975 đạn tồn kho sẽ hết, và đến tháng 8 là hết sạch. Báo cáo của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận Trung Tướng Đồng Văn Khuyên lên Đại Tướng Cao Văn Viên Họ cũng không biết trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh tấn công vào Sài Gòn cuối tháng 4 “Toàn thể quân đội Miền Bắc đang có mặt ở Miền Nam! Lúc ấy chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là có thể chiếm hết Miền Bắc” Người tuyên bố câu tán thán nầy không ai lạ, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henri Kissinger! 

Năm. 

Tỉnh Long Khánh với Thị Xã Xuân Lộc tri rộng lên vùng rừng miền đông Nam Bộ, tả ngạn sông Đồng Nai, nằm trên ngã Ba của Quốc Lộ 20 đi Đà Lạt và Quốc Lộ I, đường đi ra Hàm Tân, Phan Thiết. Sau thành công đánh chiếm Cao Nguyên Trung Phần thuộc Vùng II, và Vùng I Chiến Thuật do sự rút bỏ hỗn loạn của quân đội Miền Nam trong tháng Ba; qua tháng Tư Bộ Tổng Quân Ủy quân đội Miền Bắc quyết tâm tiêu diệt Miền Nam bằng cách áp dụng chiến thuật tập kích tấn công từ một điểm xong mở rộng ra, tránh giao tranh nếu gặp kháng cự mạnh để tất cả đồng nhất tiến về Sài Gòn. Bí thư Lê Đức Thọ người được giải Nobel Hòa Bình rời Hà Nội với quyết định của Bộ Chính Trị: “Phải đoạt thắng lợi, chỉ trở về với chiến thắng". Vào đến miền Nam, Lê Đức Thọ với tư cách là chính ủy Chiến Dịch Hồ Chí Minh cho phổ biến công điện 37/TK đến với tất cả lực lượng vũ trang đang có mặt tại miền Nam bao gồm 15 sư đoàn quân chính quy cộng sản Bắc Việt. 

Tướng Quân Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa ở mặt trận Long Khánh. Tiếng gọi là một sư đoàn nhưng Tướng Đảo chưa hề có đủ lực lượng thuộc quyền cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn. Đầu tháng Ba năm 1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 18 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 để trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn. Thế nên khi trận chiến Long Khánh bắt đầu vào ngày 9 tháng 4, thì Tướng Đảo trong thực tế chỉ có Chiến Đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy. Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi thị xã Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng. Phần Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh trấn giữ dọc Quốc Lộ 20 nằm về phía Bắc-Tây Bắc Long Khánh từ Kiệm Tân là cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống đến Ngã Ba Dầu Giây. Đây là giao điểm của hai Quốc Lộ I và 20, nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc. 

Trước khi trận chiến bùng n lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu Tư lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48 từ Tây Ninh về. Nhận lại được trung đoàn nầy, Tướng Đảo xử dụng trấn giữ mặt đông của thị xã Xuân Lộc, đường đi vào Quận Tánh Linh thuộc Tỉnh Bình Tuy. Cũng nói thêm về một đơn vị tăng phái đặc biệt. Đấy là Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Nguyên Tiểu Đoàn 82 vốn thuộc Quân Khu II, khi mặt trận Ban Mê Thuột bị vỡ, Thiếu Tá Long vừa đánh vừa rút lui xuống đồng bằng. Từ Ban Mê Thuột, Thiếu Tá Long đưa đơn vị vượt Cao Nguyên Di-Linh băng rừng đi bộ về Bảo Lộc, xong tiếp tục cắt rừng theo hướng tây-nam để về Long Khánh. Tướng Đảo đã dùng trực thăng bốc toán quân 200 người sống sót còn lại của đơn vị  nầy về phòng thủ Long Khánh. Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của tháng 4, 1975. Cần nhắc lại rằng trước 1972 để phòng thủ vùng Long Khánh-Biên Hòa đã phải  tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa Hoa Kỳ cùng những đơn vị bộ binh, nhảy dù Mỹ. Ngoài ra còn có Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc Quốc Lộ 15, đường đi VũngTàu. 

Tướng Lê Minh Đảo nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn 18 từ sau trận chiến Mùa Hè 1972, và ông đã mau chóng tạo nên sự biến đổi thần kỳ cho đơn vị với bản lãnh của một võ tướng là Sống-Chết cùng Binh Sĩ-Đơn Vị. Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV Cộng Sản BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Sau trận mở màn chiếm đóng Phước Long cuối năm 1974 với chứng tỏ phía Mỹ hoàn toàn im lặng. Cũng tương tự như phản ứng thụ động của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ để mặc Hải Quân Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa, tấn công tiêu diệt Hạm Đội Việt Nam trong Tháng 1, 1974.

Để đánh Long Khánh, Tướng Hoàng Cầm được cả một bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ, bao gồm: Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội Miền Bắc; Phạm Hùng, bí thư Trung ương cục Miền Nam; Lê Đức Thọ bí thư trung ương đảng giữ nhiệm vụ chính ủy chiến dịch. Tất cả đồng có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Long Khánh, Xuân Lộc hơn 100 cây-số đường chim bay. Ngoài ra sau nầy khi thắng lợi nghiêng về phía quân Cộng Hòa, bộ tư lệnh mặt trận Cộng Sản đã tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội Miền Bắc, là lực lượng n lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ Sông Cửu Long kéo lên tăng cường. Cuối cùng nâng tỷ số tác chiến lên thành 8 đánh 1. 

5 giờ 40 sáng ngày 9 tháng 4, 1975, chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2,000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc như đã từng tàn sát An Lộc trong mùa Hè 1972. Đúng 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 Cộng Sản tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 18. Lính Cộng Sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt với những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở Vùng I và II của tháng 3 vừa qua. Nhưng hoàn toàn không phải là như thế, những xe tăng nầy mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp km gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí; không những chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh, và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đội hình của toán quân Cộng Sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi dưới hỏa lực phi pháo của quân ta. Mặt đông của thị xã, dọc Quốc Lộ I, Trung Đoàn 209 cũng của Sư Đoàn 7 cộng sản số phận cũng không mấy khả quan hơn. Bởi đơn vị cộng sản gặp phải Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lính Biệt Động quyết đánh địch để trả hận lần lui quân bi thảm của tháng trước từ mặt trận Ban Mê Thuộc. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 209 bị chôn chân trước tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động và Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung đoàn 48 của Tướng Đảo. 

Chiều tối ngày 9 tháng 4 phía cộng sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã với khoảng 2000 ngàn quả đạn trên khắp các vị trí, kể cả khu vực dân chúng, nhà thương, nhà chùa, nhà thờ là những nơi dân chúng chạy vào ẩn núp với hy vọng tội nghiệp là Cộng Sản sẽ nương tay… 5 Giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân Cộng Hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Tướng Đảo không quên ra lệnh xuất kho Quân Tiếp Vụ để nuôi số tù binh mới mẻ nầy. Những ngày thất bại nầy được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân: "Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200 bộ đội..Tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hủy "Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận. Ở Sài Gòn, không khí lạc quan bừng lên, Tổng Thống Thiệu thúc dục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân lộc để có thế đảo ngược tình thế… Để "B52 có thể trở lại!". Tướng Toàn xử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân Xuân Lộc, nhưng lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc, Biên Hòa. Không thành công trong việc dùng chiến xa để giải toả áp lực Cộng Sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn xử dụng một thành phần hữu hiệu hơn. Đấy là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ. Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Nam vào trận. 

Lần xuất hiện của lực lượng Nhảy Dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với bộ tư lệnh chiến dịch Cộng Sản. Chiều ngày 11 Tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ và Trung Tướng Trần Văn Trà Bộ Trưởng Quốc Phòng của tổ chức gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam thay thế Tướng Hoàng Cầm duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới. Bộ Tư Lệnh Cộng Sản quyết định mở một mặt trận giả nhằm đánh lạc hướng quân đội Cộng Hòa bằng cách chuyển hướng tấn công theo đường đi vòng Xuân Lộc để thực sự tiến thẳng về Sài Gòn. Lực lượng Cộng Sản dần rút đi theo kế hoạch mới của họ nên Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị địch chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương. Cũng quả thực ông không biết được sự thay đổi quan trọng về kế hoạch mới của Trung Ương Cục Miền Nam chỉ đạo từ Hà Nội. Nhưng ông làm đươc gì hơn với chức vụ tư lệnh một sư đoàn bộ binh trong giờ phút nguy nan nhất của cuộc chiến khi người Mỹ sắp xếp lại một trật tự mới trên toàn thế giới qua liên lạc với Trung Cộng bằng cách giải quyết hy sinh Miền Nam. 

Hai trái bom CBU 55 "Daisy Cutter" nặng 15.000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân cộng sản dọc Quốc Lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân Cộng Hòa, nhưng cũng chính là màn khói vô tình giúp cho lần rút đi theo kế hoạch mới của phía cộng sản để lại 235 xác bộ đội đếm được trên trận địa. Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng hành quân Tổng Tham Mưu Sàigòn ước tính được ý niệm hành quân của phía Cộng Sản là sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm theo hai hướng Bắc và Đông bằng cách cắt Quốc Lộ I ở Dầu Giây và Quốc Lộ 15 ở Long Thành. 

Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi 722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam. Nhưng trong phiên họp ngày 17 tháng 4, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện đã bác bỏ thẳng thừng qua câu nói bất cận nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie: "Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có". Cuối cùng, Ngày 20 tháng 4, Tướng Toàn tư lệnh và Đại Tá Thọ, Trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ nhưng vô cùng kích động: "Lệnh của Tổng Thống Thiệu Sư Đoàn 18 rút bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn.” 

Thiếu Tướng Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân bao gồm lực lượng một sư đoàn cơ hữu cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh. Nhưng như một phép lạ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã hoàn tất cuộc lui binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị, vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại đủ cho Quân Đoàn. Cũng một phần, lực lượng giữ nhiệm vụ hậu vệ đoàn di tản là Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù. Tiểu đoàn 6 là đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 tháng 6, 1972 mà đơn vị Cộng Sản đóng chốt ở Xa Cam, nam An Lộc chỉ còn đúng một người bị bắt làm tù binh tên gọi là Nguyễn Văn Tiền.  

Một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn dù đã bất chấp lệnh của Tổng Tham Mưu, nên đã gởi một đơn vị Nhảy Dù khác là Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 từ Bà Rịa lên Long Khánh đón đoàn quân di tản. Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngõ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc trong buổi sáng Ngày 30 Tháng Tư. Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hòa, nhìn về hướng Trường Bộ Binh Thủ Đức, Long Thành, Bà Rịa, và xa kia là Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình… Ông thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn.. Người lính cuối cuộc chiến chợt thoáng nhớ những lời thơ ngắn: Vì anh là Lính áo rằn. Ra đi nào biết mấy trăng mới về.. Những câu thơ của em ông, Cố Trung Tá Lê Hằng Minh Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến "Trâu Điên", người lính đã ra đi từ một ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Trị-Thiên, ở chân Cầu Câu Nhi Phường. Phường Câu Nhi, quận Phong Điền, Thừa Thiên là những nơi đâu? Rất nhiều Người Lính đã ra đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết. Hôm ấy, sáng 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều Người Lính không còn chốn trở về - Những Người Lính Mất Quê Hương.

     

Viết lại lần cuối,

Cali, 15 Tháng Hai, 2025

Người Lính Phan Nhật Nam

Friday, December 13, 2024

HỆ TƯ TƯỞNG CHỦ NGHĨA DUY VẬT CỦA MARX LÀ: VÔ GIA ĐÌNH, VÔ TỔ QUỐC VÀ VÔ TÔN GIÁO!

KHI QUỐC GIA BỊ CHỦ NGHĨA DUY VẬT (CHỦ NGHĨA TOÀN CẦU) LÃNH ĐẠO, LOÀI NGƯỜI SẼ BỊ ĐÓI NGHÈO VÀ TRỞ THÀNH NÔ LỆ CHO NHÓM NGƯỜI LÃNH ĐẠO THEO CHỦ NGHĨA DUY VẬT. VÌ, TẤT CẢ VẬT CHẤT CHỈ CUNG ỨNG CHO GIAI CẤP LÃNH ĐẠO ĐỂ CAI TRỊ NHÂN DÂN - DÂN NO, CHỦ NGHĨA DUY VẬT KHÓ CAI TRỊ HỌ!


Hệ tư tưởng chủ nghĩa duy vật của Marx là gì và tại sao những tư tưởng của nó lại đi ngược với giá trị của Mỹ?

Hệ tư tưởng chủ nghĩa duy vật của Marx dựa trên nền tảng lý thuyết của Darwin về tiến hóa loài, từ đó suy ra rằng con người sinh ra từ vượn, bởi vậy không tồn tại Thần, Chúa, Phật hay địa ngục; muôn loài tự sinh, tự diệt, mạnh thắng yếu, thúc đẩy đấu tranh vũ trang và coi đó như nền tảng phát triển xã hội.

Cổ súy rằng không tồn tại Thần, không tồn tại Nhân - Quả, không tồn tại Thiên đường - Địa ngục, chủ nghĩa duy vật của Marx thúc đẩy con người bất tín vào Thần, phủ nhận Thần và phải đấu tranh để đạt được lợi ích. Marx và các tín đồ sau Marx hoặc những quốc gia triển khai tư tưởng của Marx như một cuốn "kinh sách" để phát triển kinh tế -xã hội, đã không ngừng sử dụng sự hữu hạn của khoa học hiện đại, thậm chí là ngụy khoa học để đảm bảo con người tin vào khoa học, thay thế niềm tin vào Thần.

Đồng thời, để bù đắp vào sự thiếu hụt niềm tin của con người vào Thần, những nơi áp dụng chủ nghĩa Marx không ngừng tạo ra lãnh tụ với hình ảnh như thánh nhân để các thần dân trong xã hội đó tôn thờ. Những người theo chủ nghĩa Marx tin rằng, khi chết đi họ sẽ về với thế giới của Marx. Điều này khá mâu thuẫn khi chính Marx cho rằng không tồn tại thế giới sau khi chết.

Vì bất tín vào Thần, để phụng sự cho sự "thoải mái của dục vọng", thường thì người theo chủ nghĩa cấp tiến, tự do gần gũi với tư tưởng của Marx; về cơ bản họ cổ súy nạo phá thai, tình dục đồng tính, giải phóng tình dục, đấu tranh giai cấp...

Những người biểu tình quá khích đã đập phá các bức tượng nhân vật lịch sử ở các thành phố lớn của Hoa Kỳ (Ảnh: Tasos Katopodis/Getty Images)

Muốn thúc đẩy đấu tranh, các mâu thuẫn cần được "phát sinh và làm cho trầm trọng" trong xã hội loài người. Bởi vậy, Marx chia con người thành giai cấp theo sở hữu, theo tri thức... từ đó thúc đẩy đấu tranh vũ trang giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản nhằm phân chia lại tài sản, thúc đẩy đấu tranh vũ trang và coi đó như nền tảng phát triển xã hội.

Về kinh tế, chủ nghĩa Marx muốn xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân và cho rằng con người sẽ hạnh phúc khi không sở hữu gì. Làm thế nào để khiến con người từ bỏ sở hữu của mình? Có hai con đường:

1. Cưỡng chế: kích động đấu tranh giai cấp, giai cấp vô sản phát sinh đấu tranh không ngừng với giai cấp tư sản để chiếm quyền kiểm soát, điều hành quốc gia. Sau khi thành công, quốc hữu hóa toàn bộ tài sản tư nhân. Chính quyền sẽ thay mặt toàn dân sở hữu, kinh doanh, rồi phân phối lại tài sản này. Trường hợp điển hình là Trung Quốc, Venezuela, Cuba, Triều Tiên. Để đảm bảo toàn dân phụ thuộc vào chính quyền, các chính quyền như vậy không ngừng tuyên truyền về kẻ thù vô hình ngoài quốc gia của họ, về sự bảo vệ an toàn và tuyệt đối mà chính quyền dành cho người dân của họ cũng như âm thầm đàn áp vũ trang, kiểm duyệt thông tin, kiểm soát tư tưởng của mọi người dân;

2. "Kẹo bọc đường": tốn thời gian hơn, âm thầm và mềm mỏng hơn, đó là tạo ra các chính phủ ngày càng lớn (thông qua vay nợ và can thiệp sâu vào thị trường tự do, thu thuế cao), chính sách phúc lợi ngày càng lớn do thu thuế cao và phân phối lại cho người dân, cổ vũ tư tưởng cấp tiến trong xã hội như giải phóng tình dục, nạo phá thai, hôn nhân đồng tính... (các tư tưởng cấp tiến này thúc đẩy con người buông bỏ niềm tin vào Thần). Tạo ra đấu tranh mạnh mẽ trong xã hội: công bằng giới tính, chủng tộc. Họ cũng tạo ra "các con ma" để làm người dân tin rằng chỉ một chính phủ cực lớn mới khống chế được các "con ma" khủng khiếp này. Hiện tại, xã hội phương tây tạo ra "các con ma" này qua chủ nghĩa môi trường cực đoan, khủng hoảng kinh tế liên miên theo chu kỳ, đại dịch...

Mục đích cuối cùng của của chủ nghĩa duy vật Marx là con người cắt đứt niềm tin vào Thần, từ đó tự do phóng túng dục vọng (chủ nghĩa tự do, cấp tiến), giao phó hoàn toàn tài sản, sinh mệnh của mình cho Chính quyền (thực chất là một nhóm chính trị gia), tôn thờ duy nhất các lãnh tụ của chính quyền này, và hoàn toàn sống trong môi trường không gian mà chính quyền đó cho phép.

Nền kinh tế hoàn toàn bị kiểm soát bởi chính quyền, trong khi nền kinh tế thị trường mới thật sự mang lại sự tích lũy, tái đầu tư và của cải cho các cá nhân, doanh nghiệp tư nhân, nguồn gốc của đổi mới sáng tạo - vốn là nền tảng dẫn tới sự thịnh vượng bền vững - đều bị xóa bỏ.

Hiển nhiên, chủ nghĩa vô thần của Marx đi ngược lại hoàn toàn với tuyên ngôn lập quốc hữu thần của Mỹ - được cho là nền tảng tạo nên chuẩn mực đạo đức và sự thịnh vượng của Mỹ - đó là niềm tin vào Chúa (in God we trust) và nền kinh tế tự do, nguồn gốc của đổi mới, sáng tạo, nguồn gốc tạo nên sự đứng đầu của Mỹ về khoa học, công nghệ và thịnh vượng.

Nước Mỹ đang đứng trong cuộc chiến để lựa chọn hệ tư tưởng. Hiển nhiên, hai hệ tư tưởng vốn đối nghịch và không thể dung hòa, bởi vậy đây được xem như cuộc chiến chính - tà gay cấn nhất trong lịch sử nước Mỹ. (Ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Nước Mỹ đang đứng trong cuộc chiến để lựa chọn hệ tư tưởng. Hiển nhiên, hai hệ tư tưởng vốn đối nghịch và không thể dung hòa, bởi vậy đây được xem như cuộc chiến chính - tà gay cấn nhất trong lịch sử nước Mỹ. (Ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Tổng thống Trump từng nói: “Chừng nào còn có Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ, không bao giờ đơn độc. Dù bạn là người lính đứng gác ca đêm, hay người cha, người mẹ đơn thân làm việc ca đêm, Thiên Chúa sẽ luôn ban cho chúng ta niềm an ủi, sức mạnh và sự khích lệ. Chúng ta cần phải cứ tiếp tục tiếp tục tiến lên”.

Liệu có nghịch lý không khi một quốc gia dẫn đầu thế giới về các phát minh khoa học và sở hữu công nghệ tối tân, lại gửi gắm hoàn toàn niềm tin vào Thiên Chúa? Kết quả điều tra của Gallup cho thấy 95% người Mỹ đặt niềm tin vào Thiên Chúa, nghĩa là cứ 10 người Mỹ thì có tới hơn 9 người tin vào sự chở che của Ngài. Kết quả thăm dò của Gallup dựa trên các cuộc phỏng vấn điện thoại được tiến hành ngẫu nhiên với những người từ 18 tuổi trở lên tại 50 bang và đặc khu Columbia.

Trong suy nghĩ của người Mỹ, Chúa đã tạo ra họ và họ thuộc về Chúa. Chúa ban cho họ sức mạnh và ý chí vì họ cho rằng năng lực của con người là vô cùng nhỏ bé. Chỉ có ở Mỹ, bạn mới biết câu nói mà từ dân thường cho đến giới tinh hoa sử dụng nhiều nhất, đó chính là “God bless you” (Cầu Chúa phù hộ cho bạn).

Trong Ngày Cầu Nguyện Quốc gia (2018), Tổng thống Donald Trump nói rằng: “Những gì tôi hay nghe nhất ở đất nước chúng ta là 6 từ luôn luôn chạm đến trái tim tôi – “Cầu Chúa phù hộ cho bạn”.

Ở Mỹ, nếu một người Thiên Chúa giáo nào yêu quý bạn, món quà mà họ trân quý muốn dành tặng bạn chính là cuốn Kinh Thánh, và lòng nhiệt thành họ dành cho bạn là mời bạn đi dự những sự kiện của nhà thờ.

Dường như, nước Mỹ không chỉ đang ở trong cuộc khủng hoảng bầu cử lớn nhất lịch sử, cuộc khủng hoảng hiến pháp thực sự, mà thực chất đang đứng trong cuộc chiến để lựa chọn hệ tư tưởng. Hiển nhiên, hai hệ tư tưởng vốn đối nghịch và không thể dung hòa, bởi vậy đây được xem như cuộc chiến chính - tà gay cấn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Mà vận mệnh của nước Mỹ lại ảnh hưởng vô cùng sâu rộng tới vận mệnh toàn cầu, với lịch sử loài người hiện đại.

Thanh Đoàn - Đức Duy

 

Tuesday, November 19, 2024

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NĂM NĂM VÀNG SON CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA 1955 - 1960

 Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Ngô_Đình_Diệm_voting_in_1959_South_Vietnamese_parliamentary_election,_August_30th_1959
Ngô Đình Diệm (phải) bỏ phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1959


Nước sông dâng lên cá lội ngù ngờ
Nước sông xanh lơ bóng in cây dừa
Về về đây Miền Đồng Nai có Cửu Long
Nguồn chảy dâng trời Nam mạch sống
Hội Trùng Dương – Phạm Đình Chương
 
Từ trên cao nguyên Tây Tạng con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông. May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam. Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn, vì vậy phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang. Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.
 
Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc (1945-1955), trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn. Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể. Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.
 
Cho nên vào năm 1955, khi TT Ngô Đình Diệm khai sinh nước Việt Nam Cộng Hòa thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường. Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết các chuyên gia, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.
 
May mắn là trong 5 năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực. Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường. Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam. Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông. Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu. Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em. Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:
 
Thưa Tổng thống,       
“Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn. Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4.2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2.5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520,000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2.5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác. Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Cải cách điền địa

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng. ‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng. Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất. Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất. Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2.5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất. Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền. Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.
 
Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32 phần tram, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959 sản xuất gạo lên 5.3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340,000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện. Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết. Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa - Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.
 
Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch. Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào mùa hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam. Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.
 
Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội. Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9,000 dặm đường, có hơn 2,000 dặm là bê tông nhựa; 3,000 dậm đường có cán đá, và khoảng 4,000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh). Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc. Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ
Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa. Ngay từ tháng 1 năm 1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo
Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4,266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1,200,000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1,200 lên tới 5,000.

Đại học: trước năm 1954, miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà nội. Năm 1955 chính thức thành lập đại học Sàigòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12,000. 
Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam. 
Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 TT Mỹ Dwight Eisenhower viết cho TT Diệm:
 
   “Kính thưa Tổng Thống,
 
 “Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1,200,000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”
 
Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển. Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến. Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt. Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, giẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đàlạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.
 
Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.
 
Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Trời mùa hè oi ả, nóng nực, nhưng đêm đêm tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh vọng ra từ những chiếc rađiô transistor nho nhỏ vẽ lên hình ảnh đồng quê thanh bình, đem lại luồng gió mát làm cho lòng người lắng dịu:

Mùa màng năm nay, gạo tròn ta xay
Đêm đêm thức giấc lúc gà chưa gáy
Vì đời an lành, nên lúa đa tình
Hứa cho đôi mình kiếp sống thanh bình.
 
Khi đất nước thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc - dù là tát cạn cả Biển Đông - cũng đều có thể ước mơ:

Hỡi em tát nước bên ngòi,
Nàng ơi, Biển Đông ta tát cạn,
Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhau
Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhau!
                   (Vợ chồng quê- Phạm Duy)
    
Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng đáng kể so với các nước láng diềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời TT Lý Thừa Vãn.
   
Trong năm năm hòa bình 1955-1960 TT Ngô Đình Diệm đã đặt được những viên gạch đầu tiên cho mô hình phát triển, đưa Miền Nam tới chỗ “cất cánh”  kinh tế học gọi là điểm take-off để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.
   
Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa
 thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị bỏ lỡ” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.
 
Nguyễn Tiến Hưng*
  
 Nguồn:https://vietbao.com/p190a320524/tt-ngo-dinh-diem-va-nam-nam-vang-son-cua-vnch-1955-1960